Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - Dạy nghề ở trường THCS
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - Dạy nghề ở trường THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_quan_ly_cong_tac_giao.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - Dạy nghề ở trường THCS
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . 2. Mục đích nghiên cứu. Qua nghiên cứu thực trạng phương pháp dạy học giáo dục hướng nghiệp ở Trường THCS hiện nay, đề xuất một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề ở trường THCS. 3. Đối tượng nghiên cứu. Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề ở trường THCS. 4. Phương pháp nghiên cứu. 4.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận. - Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết của Đảng về công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề. - Nghiên cứu các văn bản chỉ thị của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Sở Giáo dục về giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề. - Các tài liệu sư phạm liên quan đến công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghiệp. 5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn. - Quan sát thực tế về mặt nhận thức và thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề ở trường THCS. - Phỏng vấn tập thể học sinh khối 9. - Nghiên cứu sản phẩm giảng dạy giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường trong những năm học qua. - Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề ở Trường THCS trong những năm vừa qua. 5.3. Nhóm phương pháp bổ trợ: - Phương pháp thống kê số liệu. - Phương pháp lập hồ sơ, vẽ đồ thị. 3/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP - DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1. Cơ sở lý luận của công tác giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề. 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về giáo dục hướng nghiệp. Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú năng lực cá nhân. Hội nghị lần thứ 9 tháng 10 năm 1980 những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước XHCN, họp tại La-Ha-Ba-Na Thủ đô Cu Ba đã đưa ra định nghĩa khái niệm hướng nghiệp như sau: "Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, ý học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng". 1.1.2. Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp. 1.1.2.1. Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp ở trường THCS. 1.1.2.2. Giúp học sinh có hiểu biết khái quát về sự phân công lao động xã hội, cơ cấu nền kinh tế quốc dân, sự phát triển kinh tế của đất nước, địa phương, làm quen với những ngành nghề chủ yếu, nghề cơ bản, đặc biệt nghề truyền thống của địa phương. 1.1.2.3. Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất. 1.12.4. Giáo dục động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề mà Nhà nước, địa phương đang cần phát triển. 1.1.3. Những nội dung chủ yếu của giáo dục hướng nghiệp ở Trường THCS. 4/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . Có thể khái quát những nội dung cơ bản của giáo dục hướng nghiệp ở Trường THCS bằng sơ đồ sau. ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ ĐẶC ĐIỂM YÊU CẦU THỊ TRƯỜNG CỦA NGHỀ LAO ĐỘNG TƯ VẤN TUYỂN CHỌN NGHỀ ĐẶC ĐIỂM NĂNG LỰC NGHỀ SỞ TRƯỜNG CÁ NHÂN 1.1.4. Khái niệm nghề. Theo UNESCO nghề là những công việc trí óc hoặc chân tay mà người lao động có thể thực hiện để kiếm sống. Người lao động có thể tự sử dụng mình hoặc được khác sử dụng trong khi hành nghề. Có thể tự sử dụng mình hoặc được người khác sử dụng trong khi hành nghề. Có thể định nghĩa nghề dưới một góc độ khác như sau: Nghề là một thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động trong xã hội theo sự phân công lao động mà con người sử dụng sức lao động và những tri thức, kĩ năng của mình để tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội. Trong khoa học dạy nghề được phân thành hai loại lớn. - Nghề đào tạo: Là những nghề mà muốn hành nghề người lao động phải được học theo một chương trình nhất định thời gian dài hay ngắn tuỳ theo mức độ phức tạp của nghề cũng như trình độ nghề cần thiết (bậc thợ) nghề đào tạo được chia ra. - Nghề diện rộng: Là những nghề phức tạp, công việc của nghề thường bao gồm các lĩnh vực rộng. 5/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . - Nghề diện hẹp: Là những nghề đơn giản, hoạt động của nghề chỉ bao gồm những công việc trong lĩnh vực hẹp. - Nghề kết hợp: Là nghề được nhiều kết hợp lại để hợp lý hoá trong quá trình sử dụng theo yêu cầu của người sử dụng lao động. - Nghề không cần đào tạo: Là những nghề quá đơn giả mà người lao động không cần học cũng có thể thành nghề. * Khái niệm nghề phổ thông: Nghề dạy ở trường phổ thông được gọi tắt là nghề phổ thông. Căn cứ khái niệm về các loại nghề nêu ở trên và căn cứ vào mục tiêu đào tạo, quỹ thời gian, điều kiện dạy, học nghề và khả năng của học sinh, nghề phổ thông được qui ước với các dấu hiệu sau đây. - Nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triển ở địa phương, nắm được nghề này học sinh có thể tự tạo việc làm, dễ được sử dụng trong các thành phần kinh tế tại chỗ của cộng đồng dân cư. - Nghề có kĩ thuật tương đối đơn giản, thường là diện hẹp quá trình dạy nghề không đòi hỏi phải có trang thiết bị phức tạp. - Thời gian đào tạo ngắn. - Nguyên liệu dùng cho việc dạy nghề dễ kiếm, phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương. 1.1.5. Tư vấn nghề: Là một hoạt động thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của một cá nhân hay của một nhóm người muốn hiểu biết về một đối tượng hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện tiếp cận một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh. 1.1.6. Tư vấn nghề trong Trường THCS: Chính là một hoạt động giáo dục nhằm giúp học sinh nâng cao nhận thức, hiểu biết về thế giới nghề và hoạt động nghề, lĩnh vực nghề riêng biệt. 1.1.7. Thích ứng nghề: Thích ứng nghề là một dạng thích ứng có liên quan mật thiết với các dạng thích ứng khác, thích ứng của một lao động tương lai là quá trình tiếp xúc của họ với hoạt động nghề nghiệp, với những điều kiện học tập và lao động, với một tập thể mới. Kết quả sự thích ứng mà họ đạt tới sẽ được biểu bạt thông qua mức độ tương ứng giữa những yêu cầu nghề nghiệp với những phẩm chất cá nhân trong hoạt động trong hoạt động nghề nghiệp đó. 1.2. Cơ sở pháp lý. 6/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . Đất nước đang ở trong thời kì đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá để thực hiện thành công nhiệm vụ chiến lược này cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao. Để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá cần đào tạo nhân lực để thay đổi cơ cấu kinh tế, tăng tỉ trọng của khu vực dịch vụ trong lĩnh vực kinh tế - xã hội cũng như trong tổng sản phẩm nội địa. Về mặt sản xuất sẽ chuyển đổi căn bản từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động có trình độ cao với công nghệ tiên tiến, công cụ sản xuất và các hệ điều khiển hiện đại. Mặc dù hệ thống giáo dục trung học phổ thông ngày càng được mở rộng, hàng năm thu hút từ 70% học sinh tốt nghiệp THCS vào Trường. Nhưng hàng năm vẫn còn một số lượng lớn học sinh không tiếp tục học lên. Lẽ ra những học sinh này phải được trang bị chu đáo về mặt tri thức, kĩ năng để tham gia vào các nghề sản xuất khác nhau, song thực tế hoạt động học tập trong các nhà trường, vẫn nặng về mục đích khoa cử. Học sinh tốt nghiệp THCS còn bộc lộ một số hạn chế về năng lực tư duy sáng tạo, kĩ năng thực hành, kĩ năng thích ứng nghề nghiệp, kỉ luật lao động, tinh thần hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, khả năng tự lập nghiệp. Một bộ phận học sinh sau khi ra trường chưa được học lên, do đó khi đi vào lao động sản xuất và cuộc sống sẽ rất bỡ ngỡ, khó thích ứng. Để khắc phục những thiếu sót nêu trên, Nghị quyết Đại hội Đảng đã khẳng định: "Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục - đào tạo". Muốn vậy cần phải "Thực hiện tốt phương châm: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội. Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương". Từ những luận giải trên, có thể khẳng định giáo dục lao động và hướng nghiệp là nhiệm vụ vừa cơ bản vừa cấp bách của sự nghiệp giáo dục ở nước ta hiện nay. Bên cạnh việc giải quyết tốt tình trạng "Thừa thầy - thiếu thợ" như hiện tại ở nước ta. Đồng thời với việc đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức tốt quản lý vĩ mô nguồn nhân lực, trong đó đặc biệt coi trọng hướng nghiệp từ trường phổ thông, khắc phục tâm lý khoa cử, bằng cấp, xây dựng tâm lý thực nghiệm, đồng thời chú trọng việc phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài là vấn đề cấp 7/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . bách hiện nay, để phát huy hiệu quả của việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Chú trọng giáo dục hướng nghiệp thiết thực cho học sinh phổ thông, giúp các em chọn nghề phổ thông với sở trường, trình độ, nhu cầu phát triển của bản thân và yêu cầu phát triển của đất nước. Khuyến khích phát triển mạnh các tổ chức tư vấn nghề nghiệp cho học sinh phổ thông và người lao động. Đồng thời phải có chính sách liên thông thích hợp giữa các loại hình trường, để sau khi tốt nghiệp trường nghề có thể học tiếp Đại học và cao hơn. 8/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP, DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG THCS 2.1. Thực trạng quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề ở trường THCS. 2.1.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ giáo viên trong trường về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề: tập thể cán bộ giáo viên trong Hội đồng sư phạm thấm nhuần lời khẳng định ghi trong nghị quyết Đại hội Đảng về công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường: "coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương". Hàng năm để chuẩn bị kế hoạch cho năm học mới, cùng với việc xây dựng mục tiêu kế hoạch về giáo dục: Đức dục, trí dục, mỹ dục, thể chất, Ban Giám hiệu rất coi trọng công tác xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp dạy nghề. Căn cứ vào chỉ thị của Bộ Giáo dục - Đào tạo hướng dẫn về công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề, Ban Giám hiệu đã thành lập Ban chỉ đạo và cử đồng chí Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn làm trưởng ban. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng nội dung chương trình, kế hoạch, mục tiêu của công tác giáo dục hướng nghiệp đồng thời lê kế hoạch kiểm tra, đánh giá, để có biện pháp điều chỉnh trong suốt cả năm học. 2.1.2. Về mặt nhận thức của học sinh. Học sinh, nhất là các em học sinh cuối cấp của Trường THCS thường băn khoăn suy nghĩ: Sau khi học xong THCS nếu không thi vào THPT thì làm nghề gì, tiền đồ và triển vọng ra sao? Những câu hỏi này cứ ám ảnh mãi trong đầu óc các em nhất là những ngày cuối chuẩn bị bước vào kì thi tốt nghiệp, để giúp các em gỡ được mối tơ vò, tìm cho mình một hướng đi đúng đắn thì công tác giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề trong trường THCS phải được chú trọng. Trong thực tế những năm qua bằng kinh nghiệm và tình thương đối với học sinh tập thể giáo viên của trường đã giúp các em trong công tác tư vấn nghề bởi vậy từng bước các em đã có nhận thức đầy đủ tầm quan trọng về công tác giáo dục hướng nghiệp. Mặt khác việc học nghề còn giúp các em hình thành kĩ năng thực hành, năng lực sáng tạo, khả 9/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . năng thích ứng nghề đồng thời được cộng điểm khuyến khích vào kết quả xét thi THPT, từ đó các em đã tự nguyện tham gia học nghề đầy đủ. 2.1.3. Thực trạng chỉ đạo công tác giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề ở Trường THCS. Hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ năm học và các văn bản chỉ đạo của Sở Giáo dục - Đào tạo, Phòng Giáo dục- Đào tạo Ban Giám hiệu đã cụ thể hoá thành những văn bản nhằm xây dựng kế hoạch chỉ đạo công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề phù hợp đặc điểm tình hình của địa phương nơi trường đóng. Trước lúc triển khai công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề, Ban Giám hiệu cho họp Ban chỉ đạo để xác định mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ cụ thể của công tác hướng nghiệp dạy nghề. Khâu đầu tiên Ban Giám hiệu họp giáo viên dạy nghề, hướng nghiệp nhằm giải quyết tốt về mặt nhận thức, đồng thời động viên tạo điều kiện để giáo viên tiến hành công tác hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh. Để công tác thực hành nghề đạt hiệu quả, trường chú trọng báo cáo kịp thời với lãnh đạo cấp trên để bổ sung kịp thời máy vi tính để xây dựng phòng học bộ môn dạy nghề Tin học, đảm bảo đáp ứng công tác giáo dục hướng nghiệp - thực hành nghề. 2.2. Trên cơ sở phân tích thực trạng, ngoài những thành quả đã đạt được. Tôi nhận thấy để thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục - hướng nghiệp dạy nghề ở Trường trung học cơ sở cần tập trung giải quyết 6 vấn đề yếu kém tồn tại trong công tác giáo dục bộ môn này như sau: 2.2.1. Hầu hết giáo viên tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp đều chưa qua một lớp đào tạo sư phạm nào về hướng nghiệp, do đó thường thiếu những kiến thức cần thiết để soạn bài và thường lúng túng về cách thức tổ chức cũng như phương pháp dạy học một bài cụ thể trước học sinh. 2.2.2. Thực tế cho thấy đội ngũ giáo viên dạy nghề, hướng nghiệp trong các trường THCS, chỉ hiểu sâu về một nghề và hiểu sơ bộ về một số nghề có chuyên môn lân cận do đó khi giới thiệu cho học sinh một nghề khác sẽ gặp nhiều khó khăn. 2.2.3. Hiện nay việc giảng dạy đang mang nặng lối thuyết trình là khá phổ biến, trong khi đó đòi hỏi giáo dục hướng nghiệp vốn là một lĩnh vực phải có những hiểu biết thực tế và gắn chặt với đời sống xã hội, sản xuất. Với phương pháp giảng dạy thuyết trình, giáo viên ít có thông tin về nghề nghiệp thường dẫn đến tình trạng nhàm chán trong giờ dạy. 10/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . 2.3.4. Một thực tế khá phổ biến sau khi tốt nghiệp THCS, học sinh còn biết quá ít về thông tin nghề, do đó dẫn tới tình trạng lúng túng trong việc lựa chọn ngành học đối với những học sinh muốn chuyển sang học nghề. 11/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG THCS 3.1. Xây dựng hệ thống tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề. Việc xây dựng hệ thống và cấu trúc của hệ thống hướng nghiệp - dạy nghề giúp chúng ta nhìn nhận một cách toàn diện những mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa các bộ phận trong trường, ngoài xã hội sẽ tạo nên sức mạnh đồng bộ khi thực hiện những nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp. Dưới đây là sơ đồ các thành phần trong hệ thống cấu trúc của hướng nghiệp - dạy nghề. HIỆU TRƯỞNG BAN HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ NHÀ TRƯỜNG Cơ Tổ Hội Các Thư Y tế Giáo Giáo sở đào TTKT chức cha tổ viện nhà viên viên tạo tổng Đoàn mẹ chức nhà trường chủ bộ chuyên hợp thanh học xã hội trường nhiệm môn nghiệp HNDN niên sinh 3.2. Nhiệm vụ của các thành viên trong hệ thống tổ chức giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề. 3.2.1. Nhiệm vụ của Hiệu trưởng. Chịu trách nhiệm chung về kế hoạch và điều hành toàn bộ quá trình thực hiện hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề về các nội dung cơ bản sau: 12/24
- Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề ở trường THCS . - Phương hướng triển khai hoạt động hướng nghiệp - dạy nghề của nhà trường trên cơ sở đường lối chủ trương của Nhà nước và tình hình thực tế của địa phương. - Sắp xếp và ổn định kế hoạch hướng nghiệp cho cân đối, hợp lý với kế hoạch toàn diện của năm học do Bộ qui định. - Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch của Ban hướng nghiệp về một số mặt quan trọng như: Nội dung, thời gian, phương tiện, nhân lực và hiệu quả kinh tế, giáo dục của hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề. - Xét duyệt và phê chuẩn kế hoạch hướng nghiệp - dạy nghề, các hợp đồng kinh tế, các văn bản hợp tác trong quá trình thực hiện hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề các cơ quan bạn. - Chịu trách nhiệm trước cơ chỉ đạo cấp trên về kết quả toàn diện của hoạt động hướng nghiệp. 3.2.2. Nhiệm vụ của Ban hướng nghiệp - dạy nghề là bộ phận tham mưu, chỉ đạo trực tiếp hoạt động hướng nghiệp - dạy nghề trong trường THCS. Chức năng chính của Ban hướng nghiệp nhà trường là chỉ đạo kế hoạch (soạn thảo, phê chuẩn, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch) nó đồng thời là bộ phận trung gian, môi giới liên kết tất cả các thành phần có trong hệ thống để đạt được mục đích chung trong hoạt động hướng nghiệp, nhiệm vụ cụ thể của Ban hướng nghiệp như sau: - Giúp cho cán bộ, công nhân viên trong nhà trường, đặc biệt là đối với thầy cô giáo, các tổ chức đoàn thể của giáo viên và học sinh nhận thức sâu sắc, đầy đủ về mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung chính của việc tổ chức hoạt động hướng nghiệp trong trường học. - Tuyên truyền vận động các tổ chức xã hội có liên quan cùng tham gia vào công tác hướng nghiệp - dạy nghề. - Kiểm tra đôn đốc và đánh giá từng phần việc, từng giai đoạn của các bộ phận hợp thành trên cơ sở kế hoạch hợp đồng được giao, tương ứng đặc điểm hoạt của bộ phận mình. 3.2.3. Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp: Giáo viên chủ nhiệm lớp là người hơn ai hết trong nhà trường có điều kiện thuận lợi gần gũi, hiểu biết học sinh về tất cả các mặt, là người đứng mũi chịu sào đối với sự phát triển của tập thể cũng như mỗi cá nhân trong lớp mình phụ trách, là nhân tố có bản gắn liền, các tác động giáo dục của xã hội với giáo dục 13/24

