Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ chậm nói độ tuổi 24 – 36 tháng

doc 30 trang Chăm Nguyễn 08/12/2025 230
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ chậm nói độ tuổi 24 – 36 tháng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_phat_trien_von_tu_cho.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ chậm nói độ tuổi 24 – 36 tháng

  1. 3 5.4. Biện Phối kết hợp với phụ huynh 15 pháp 4 6 Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm 16 Phần III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 18 1 Kết luận 19 2 Đề xuất và khiến nghị 19
  2. 1 Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1. Cơ sở lý luận Theo chương trình Giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) cũng đã nêu rõ: Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một. Hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Môi trường giáo dục mầm non mang đến cho trẻ những hiểu biết đầu tiên và những trải nghiệm về thế giới xung quanh. Nhưng để trẻ lĩnh hội được tri thức đó thì đòi hỏi trẻ phải có vốn từ ngữ phong phú. Trong mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục trẻ độ tuổi nhà trẻ là nhằm làm cho trẻ phát triển toàn diện trên 4 lĩnh vực, trong đó lĩnh vực phát triển ngôn ngữ là lĩnh vực vô cùng quan trọng đối với trẻ độ tuổi nhà trẻ. Quá trình trưởng thành của đứa trẻ bên cạnh thể chất là trí thức, đó là công cụ để trẻ phát triển tư duy mà trí thức chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập và vui chơi là những hoạt động chủ yếu của trường mầm non. Chính vì vậy trên con đường giáo dục thì giáo dục mầm non đã đặc biệt được coi trọng. Sự phát triển của trẻ lứa tuổi 24-36 tháng phụ thuộc rất nhiều vào sự định hướng của giáo viên, cũng như của gia đình và toàn xã hội. Khi trẻ đến trường mầm non thì giáo viên giữ vai trò vô cùng quan trọng trong giáo dục trẻ, giúp trẻ hình thành, nuôi dưỡng và phát triển các giác quan cho trẻ đặc biệt là khả năng tập trung lắng nghe và phát âm, cung cấp vốn từ cho trẻ. Do đó, việc cung cấp vốn từ cho trẻ chậm nói trong trường mầm non là việc làm vô cùng cần thiết. Sự tự tin, cách ứng xử của trẻ, thể hiện mong muốn
  3. 2 nhu cầu bản thân, có sự tương tác với mọi người và hiểu biết của chúng về thế giới xung quanh phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng môi trường giáo dục mầm non và mối quan hệ tương hỗ giữa giáo viên và trẻ. Ví dụ: Trẻ khát nước muốn có nhu cầu uống nước trẻ biết nói “uống nước” hay khi ăn trẻ thấy thức ăn nóng trẻ sẽ bảo “nóng”. 1.2. Cơ sở thực tiễn Như chúng ta cũng đã biết sự phát triển của công nghệ 4.0 và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì rất nhiều các bậc phụ huynh đặc biệt là phụ huynh ở vùng nông thôn không có thời gian bên các con nhiều vì phải lo cho cơm, áo, gạo, tiền, không thường xuyên trò chuyện giao lưu với trẻ mà thường để trẻ tự chơi một mình hoặc chơi điện thoại, ti vi, ipad. Trẻ chỉ được tương tác một chiều mà không có sự phản hồi lại, dẫn đến trẻ tự kỉ, chậm nói, không biết trả lời, loạn ngôn. Điều này làm chậm sự phát triển cả về nhận thức lẫn tình cảm của trẻ. Ngôn ngữ diễn đạt và ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ đều kém, đặc biệt là ngôn ngữ diễn đạt: Trẻ nói ngọng, nói lắp, nói khó, nói giọng mũi, mất khả năng nói, không nói được. Khả năng giao tiếp, phát âm của trẻ là một trong những điều rất quan trọng mà trẻ cần phải học. Điều đó giúp trẻ hiểu người nói và thể hiện được sự giao lưu, tương tác lại với người nói và người nghe. Đưa ra được những câu hỏi và câu trả lời phù hợp với hoạt cảnh. Việc cung cấp vốn từ cho trẻ chậm nói là hết sức quan trọng. Để nói được tốt, trẻ cần phải có vốn từ ngữ phong phú. Với tầm quan trọng như vậy nên tôi đã lựa chọn và nghiên cứu: “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ chậm nói độ tuổi 24 – 36 tháng”. 2. Mục đích nghiên cứu Giúp trẻ chuyển các từ vựng, từ đơn, cụm từ có 2 – 3 từ có nghĩa lên câu đơn giản. Giúp trẻ biết cách vận dụng các câu đã được học vào đúng tình huống. Phát triển khả năng tự tư duy chuyển đổi các từ vựng theo tình huống một cách linh hoạt.
  4. 3 Chủ động đưa ra yêu câu với người khác. Đặt một vài câu hỏi đơn giản mức độ thấp: ở đâu? đâu rồi? ai vậy? Tạo cho trẻ tính tự tin giao tiếp. Giúp cho phụ huynh hiểu được sự quan trọng của việc cho trẻ được khám phá trải nghiệm những khả năng tiềm ẩn của bản thân mỗi đứa trẻ, khả năng giao lưu, vốn từ ngữ của mỗi trẻ sự tương tác của trẻ với những người xung quanh. 3. Đối tượng nghiên cứu - Trẻ độ tuổi nhà trẻ (24 – 36 tháng tuổi).. 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm - Đối tượng khảo sát thực nghiệm: Trẻ 24-36 tháng tuổi chậm nói trong trường mầm non. 5. Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp lý luận - Phương pháp quan sát - Phương pháp phân tích - Phương pháp so sánh. - Phương pháp đàm thoại - Phương pháp tổng hợp 6. Phạm vi nghiên cứu và thời gian nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại lớp nhà trẻ D2 lứa tuổi 24- 36 tháng tuổi trường mầm non tôi đang công tác. - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024.
  5. 4 Phần II NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề Ngày nay, tình trạng trẻ chậm nói, vốn từ ngữ ít, trẻ có giọng nói to hoặc nhẹ nhàng một cách không bình thường hay cau mày hoặc rướn người lên phía trước khi nghe người khác nói, sử dụng ngôn ngữ sai ngữ pháp so với lứa tuổi, bỏ sót một số âm khi nói và thay vào đó là một số âm khác, phát âm sai một số từ “con vịt” trẻ phát âm thành “con tịt” còn rất nhiều hạn chế trong việc phát âm. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non là cực kỳ quan trọng, ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp trẻ có nhận thức và giao tiếp tốt. Góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Khi trẻ có ngôn ngữ phát triển tốt thì sẽ dễ dàng hơn trong việc giao tiếp với các bạn, nghe hiểu và làm theo yêu cầu của cô, của người lớn đồng thời trẻ có thể nói lên được nhu cầu của trẻ. Đặc biệt trẻ ở lứa tuổi 24- 36 tháng tuổi, giai đoạn này người ta gọi là giai đoạn tiền ngôn ngữ vì đặc điểm sinh lý ở lứa tuổi này có vùng ngôn ngữ bắt đầu hình thành và phát triển mạnh, do đó mà trẻ được tác động mạnh mẽ về ngôn ngữ từ phía môi trường xung quanh trẻ, thì vùng ngôn ngữ của trẻ có điều kiện phát triển nhanh. Nhưng trong thực tế môi trường gia đình: ông, bà., bố, mẹ...hay môi trường xã hội: cô giáo còn ít quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ chậm nói nên nhìn chung vốn từ của trẻ còn rất nhiều hạn chế. Chính vì vậy, từ những lý luận trên tôi nhận thấy việc phát triển vốn từ cho trẻ chậm nói là vô cùng quan trọng vì vậy khi phụ trách nhóm lớp 24-36 tháng tuổi, hàng ngày tôi chăm sóc giáo dục trẻ tôi thấy cần phát triển vốn từ để vốn từ của trẻ ngày càng phát triển phong phú, mở rộng vốn hiểu biết và giúp trẻ phát triển toàn diện hơn.
  6. 5 2. Khảo sát thực trạng Năm học 2022-2023 tôi được sự phân công giảng dạy lớp 24-36 tháng với tổng số trẻ là 15 trẻ. Trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ bản thân tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: 2.1. Thuận lợi Được sự quan tâm sát sao của Ban Giám Hiệu nhà trường thường xuyên tổ chức các chuyên đề phát triển ngôn ngữ và tạo môi trường ngôn ngữ cung cấp vốn từ vựng cơ bản cho trẻ để nâng cao trình độ cho giáo viên. Nhà trường chỉ đạo các nhóm lớp xây dựng môi trường lớp học lấy trẻ làm trung tâm, đổi mới phương pháp dạy trẻ học và phân các nhóm lớp theo đúng độ tuổi, nên rất thuận lợi trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ. Đội ngũ cán bộ giáo viên luôn đoàn kết, yêu nghề, nhiệt huyết, giúp đỡ nhau trong công việc, có trình độ chuyên môn 100% đạt chuẩn và trên chuẩn. Hiệu trưởng và hiệu phó chuyên môn nhà trường luôn tích cực học hỏi các phương pháp giáo dục tiên tiến và định hướng, đổi mới, truyền đạt lại cho giáo viên, nhiệt tình giúp đỡ và là người nắm bắt tâm tư nguyện vọng của giáo viên để truyền cảm hứng nguồn năng lượng tích cực cho giáo viên. Giáo viên nắm vững phương pháp giảng dạy bộ môn, được bồi dưỡng thường xuyên và tham gia học tập tại các lớp chuyên đề do sở, phòng tổ chức. Giáo viên nhiệt tình, sáng tạo làm đồ dùng phục vụ cho việc cung cấp và phát triển vốn từ cho trẻ. Trình độ của giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Bản thân tôi là giáo viên trẻ, yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề, nhiệt tình, luôn tận tâm chăm sóc giáo dục trẻ, có trình độ chuyên môn,có khả năng nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý trẻ, tạo được môi trường lớp phong phú, hấp dẫn giúp trẻ hoạt động tích cực. Nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị dạy phù hợp với độ tuổi, đảm bảo an toàn, phòng học thoáng mát, sạch sẽ, đủ ánh sáng.
  7. 6 2.2. Khó khăn: Khả năng nhận thức của các trẻ không đồng đều có 1 số trẻ nói vẫn chưa thạo, ngôn từ chưa phong phú nên gây khó khăn cho các con trong việc thể hiện ý muốn của mình đối với cô giáo. Nhiều gia đình bố mẹ đi làm cả ngày, con cái ở với ông bà cho trẻ vem tivi, điện thoại nhiều nên trẻ không được giao lưu tương tác với thế giới xung quanh và các bạn cùng độ tuổi. Phụ huynh phân lớn là nông dân nên chưa chú trọng tới việc tập nói của trẻ, để mặc con mình phát triển tự nhiên. Bên cạnh đó có những phụ huynh cho con đi học muộn, đi học không đều họ quan niệm rằng với độ tuổi này thì việc học tập của trẻ là chưa cần thiết. Khi trẻ 24 – 36 tháng nhưng vẫn chưa nói được từ đôi hoặc trẻ đã nói được nhưng sau đó mất dần ngôn ngữ. Trẻ không tập trung chú ý, không chấp nhận giao tiếp, không kết bạn, sợ chỗ lạ, người lạ, vật lạ, nhút nhát, rụt rè, thiếu tự tin. Vốn từ ngữ ở trẻ rất nghèo nàn. Trẻ thường phát âm không đúng, không phân biệt những âm gần nhau như t/đ, b/m. Giọng nói của trẻ không bình thường, khó nghe, hay nói giọng mũi, nói ngọng, giọng cao, giọng yếu, giọng khàn. Độ tuổi nhà trẻ tình trạng sức khỏe, sức đề kháng của trẻ kém hay ốm đặc biệt là sức khỏe liên quan đến vấn đề hô hấp, các bệnh về Tai – Mũi – Họng khi thời tiết thay đổi làm ảnh hưởng đến quá trình học tập và khả năng luyện âm. Phụ huynh còn thiếu phối kết hợp với cô như: Khi giáo viên trao đổi tình hình của trẻ về cho phụ huynh để phụ huynh trao đổi với trẻ về những gì cô dặn trên lớp nhưng hầu hết phụ huynh không làm. Xuất phát từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã nghiên cứu và thấy mình phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ chậm nói.
  8. 7 3. Số liệu điều tra trước khi thực hiện Bảng: Kết quả khảo sát đầu năm học 2022-2023 trên tổng số 15 trẻ Đạt Chưa đạt Nội dung khảo sát Tỉ lệ Tỉ lệ Số lượng Số lượng (%) (%) Khả năng tập trung chú ý của trẻ 5/15 33,3 10/15 66,7 Khả năng phát âm, vốn từ, ngữ 4/15 26,7 11/15 73,3 pháp của trẻ Trẻ nhút nhát, rụt rè, thiếu tự tin, 5/15 33,3 10/15 66,7 không giao tiếp với người lạ Trẻ thích nói 6/15 40 9/15 60 4. Các biện pháp thưc hiện. Biện pháp 1: Học tập nâng cao trình độ chuyên môn Biện pháp 2 : Cung cấp vốn từ thông qua hoạt động ở trường mầm non Biện pháp 3 : Xây dựng các bài tập luyện khẩu hình và âm ngữ cho trẻ Biện pháp 4 : Phối kết hợp với phụ huynh 5. Biện pháp thực hiện từng phần 5.1. Biện pháp 1: Học tập nâng cao trình độ chuyên môn Đối với người giáo viên thì hình ảnh của giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp và trong tâm hồn trẻ, vì nó sẽ góp phần hình thành những biểu tượng nhân cách ban đầu cho trẻ. Vì vậy việc đầu tiên là phải nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân, tự trau dồi kiến thức, tìm tòi học hỏi. Rèn cách phát âm chuẩn là yếu tố quan trọng nhất. Tích cực chủ động tham gia đầy đủ các buổi thăm quan dự giờ và bồi dưỡng chuyên môn do PGD&ĐT tổ chức, thường xuyên cập nhật nắm bắt kịp thời chương trình giáo dục trên trang website của Phòng Giáo Dục. Nhà trường luôn quan tâm sát sao đến mong muốn nguyện vọng của giáo viên tạo điều kiện cho tôi tham gia tập huấn, sinh hoạt chuyên môn trong khối, đó là nơi giáo viên gắn bó giúp đỡ nhau, cùng nhau giải quyết những khó khăn mà mình đang vướng. Tạo cơ hội cho giáo viên tham gia vào các hoạt động dạy
  9. 8 học, học tập trong và ngoài nhà trường để giáo viên bổ sung kiến thức, kĩ năng, chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm nhằm nâng cao phẩm chất năng lực sư phạm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục. Tôi luôn chú ý, tìm tòi tích lũy thêm kiến thức trong việc cung cấp vốn từ cho trẻ chậm nói, đồng thời tôi cũng học hỏi các đồng nghiệp qua các buổi tổ chức hoạt động và tìm hiểu qua các loại sách báo để có kế hoạch hướng dẫn theo năng lực của trẻ. Bản thân tôi cũng có nhiều cố gắng trong quá trình tự học, tự rèn luyện. Tôi chủ động xây dựng bài giảng của mình có sáng tạo để gây hứng thú, cung cấp được nhiều vốn từ cho trẻ. Đồng thời phải tự trau dồi cho mình những kiến thức về trình độ nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng giao tiếp, ngữ điệu, âm điệu khi nói chuyện với trẻ, kỹ năng xử lý tình huống, phương pháp truyền đạt kiến thức cho trẻ. Tôi đã chủ động học tập, tìm tòi thêm các phương pháp giáo dục tiên tiến như stem/steam, Montessori với những bài tập phù hợp với độ tuổi, khả năng của trẻ lớp tôi Kết quả: Qua một quá trình tôi đã tự học, tự nghiên cứu, cũng như tham gia các buổi bồi dưỡng chuyên môn thì trước tiên tôi đã nắm bắt được những trẻ nào ở lớp chậm nói vốn từ ít. Từ đó tôi đã đưa ra các biện pháp để cung cấp vốn từ cho trẻ chậm nói qua các hoạt động ở trường. 5.2. Biện pháp 2: Cung cấp vốn từ thông qua hoạt động ở trường Mầm non • Thông qua giờ đón – trả trẻ: Khi trẻ đến lớp, khi phụ huynh đến đón trẻ tôi chủ động chào phụ huynh, chào trẻ rõ ràng mạch lạc để trẻ nghe được lời cô chào, nếu trẻ chưa chào tôi chủ động hướng dẫn trẻ chào cô, chào bố mẹ. Ví dụ: “Con chào cô ạ” dần dần tạo thói quen chào hỏi cho trẻ, vừa rèn lễ giáo vừa giúp trẻ phát triển khả năng nghe và nói. Khi trẻ cất dép ba lô tôi cùng giao tiếp tương tác với trẻ để trẻ tiếp nhận thêm nhiều vốn từ như “cất dép” “cất balo” Để hiểu trẻ hơn nắm bắt tốt tâm sinh lý của trẻ tôi còn trò chuyện thật nhiều với trẻ về bản thân trẻ, về sở thích của trẻ thông qua hoạt động điểm danh.
  10. 9 Tôi thường trò chuyện cùng trẻ về gia đình, trường học và sở thích của trẻ để giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp, nói được lên những suy nghĩ của trẻ một phần để rèn luyện kỹ năng phát âm cho trẻ. Tôi hướng dẫn cho trẻ nói về tên, tuổi, trường, lớp, tên cô giáo ở lớp và nói lên sở thích của mình cho cô và các bạn cùng nghe, khi trẻ gặp khó khăn về vốn từ tôi sẽ gợi mở cho trẻ từ đầu tiên hoặc nói chậm từng từ để trẻ nhắc lại. Khi nghe trẻ giới thiệu xong tôi và cả lớp cùng nói “chào bạn A”. Đặc biệt tôi không quên khen trẻ khi trẻ nói xong và luôn nói lời cảm ơn tới các bạn ngồi dưới đã chú ý lắng nghe bạn giới thiệu. Đối với những trẻ chưa biết nói thì tôi sẽ gọi tên trẻ, khi trẻ nghe được tôi gọi đến tên của mình thì tôi lại gần định hướng cho trẻ đựng dậy khoanh tay và nói với trẻ “ạ” lặp đi lặp lại nhiều lần, nhiều ngày để trẻ bắt chước âm thanh đó. • Thông qua hoạt động học - Giờ làm quen với tác phẩm văn học Tiết làm quen với tác phẩm văn học được trẻ yêu thích và rất hấp dẫn đối với trẻ vì vậy kể chuyện là một cách thức giáo dục rất lý thú có khả năng phát triển vốn từ rất tốt cho trẻ, khi vào giờ học cô gây hứng thú bằng nhiều cách khác nhau, cô dùng thủ thuật hoặc câu hỏi để gợi mở, hỏi trẻ nhiều, kích thích trẻ nói. Khi kể cho trẻ nghe cô sử dụng nhiều hình thức khác nhau: Bằng tranh, sa bàn, rối, mô hình, vật thật những hình thức này giúp trẻ hứng thú hiểu nội dung nhớ tên truyện lâu hơn, qua đó phát triển vốn từ cho trẻ nhiều hơn. Qua các nội dung của bài thơ, câu chuyện cô đưa ra những câu hỏi yêu cầu trẻ trả lời, yêu cầu trẻ nói đủ câu, diễn đạt rõ lời tự tin khi trả lời cô. Và các bài thơ, các bài ca dao, đồng giao gần gũi nhất với trẻ tôi cũng đưa vào cùng trẻ đọc lặp đi lặp lại nhiều lần, mọi lúc mọi nơi kết hợp với các động tác minh họa là cơ hội tuyệt vời cho trẻ phát triển kĩ năng nghe và nói ở trẻ. Trong giờ kể chuyện tôi luôn dùng các biểu cảm khác nhau, giọng kể lúc trầm lúc bổng, nhấn mạnh vào các âm tiết, hóa thân vào nhân vật trong chuyện để thu hút sự chú ý của trẻ. Thường xuyên đọc các bài thơ, các bài ca dao, đồng dao gần gũi nhất với trẻ tôi cũng đưa vào cùng trẻ đọc lặp đi lặp lại nhiều lần,
  11. 10 mọi lúc mọi nơi kết hợp với ngôn ngữ hình thể là cơ hội tuyệt vời cho trẻ phát triển kĩ năng nghe và nói ở trẻ. Ví dụ: Trong câu chuyện “ Quả trứng” tôi chỉ đọc đoạn “ lợn con chạy đến, nó ngắm nghía quả trứng rồi bảo: ” lợn con bảo gì? Tôi để trẻ nói theo suy nghĩ của mình. Có trẻ nói lợn nói “éc, éc, éc”, “ụt à ụt ịt”, hoặc “trứng, trứng, trứng” Ví dụ: Trong câu chuyện “Ba chú lợn nhỏ” tôi cho trẻ tam gia đóng vai các nhân vật, thể hiện các gọng điệu nhân vật như: giọng hổ hung giữ “Nếu ngươi không mở cửa ta sẽ thổi đổ nhà” Giọg lợn đen, lợn trắng, lợn hồng sợ hãi. - Nhận biết tập nói Trong giờ học nhận biết tập nói tôi cố gắng phát âm rõ ngắn gọn, xúc tích, tông giọng vừa đủ để trẻ nghe và tiếp thu vốn từ được hiệu quả nhất và cho trẻ phát âm lại bằng nhiều hình thức khác nhau như: Phát âm cả lớp, tổ, nhóm, cá nhân lặp đi lặp lại nhiều lần và sửa sai cho trẻ. Ví dụ: Chủ đề thực vật: Các loại quả. Tôi hỏi trẻ: Đây là quả gì? Trẻ: Quả dưa hấu ạ. Tôi: Quả dưa hấu có màu gì? Trẻ: Màu xanh ạ. - Họat động âm nhạc Hoạt động âm nhạc trẻ được bộc lộ hết khả năng của mình và phát triển cả về ngôn ngữ lẫn khả năng tập trung chú ý mỗi khi dạy trẻ hát hay vận động theo nhạc tôi đều cố gắng hát rõ lời thể hiện sắc thái tình cảm của bài hát và giới thiệu nội dung cho trẻ thật ngắc gọn, xúc tích, hấp dẫn để thu hút sự tập trung lắng nghe của trẻ. Và cho trẻ hát dưới nhiều hình thức khác nhau như: hát theo tổ, nhóm, cá nhân, cả lớp cùng hát đồng thời tôi cũng luôn khuyến khích trẻ biểu lộ cảm xúc, động tác minh họa, sử dụng kèm các dụng cụ âm nhạc nhằm phát triển tai nghe, tăng sự hấp dẫn thu hút sự chú ý cho trẻ.