Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói cho trẻ 25 – 36 tháng

docx 17 trang Chăm Nguyễn 24/12/2025 200
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói cho trẻ 25 – 36 tháng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_phat_trien_ngon_ngu_t.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói cho.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói cho trẻ 25 – 36 tháng

  1. 3 2. Khó khăn Đầu năm học 2022 – 2023 nhóm 25 – 36 tháng tuổi do tôi phụ trách có số lượng trẻ là 18 bé. Trẻ bắt đầu đi học năm đầu tiên nên chưa quen xa ba mẹ, khóc nhiều, chưa quen với cô và các bạn, chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt và các hoạt động ở lớp. Nhóm trẻ 25 - 36 tháng đang là độ tuổi tập nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh, 2/3 số trẻ còn nói ngọng phát âm chưa chuẩn, có nhiều trẻ nhút nhát rụt rè. Có 6 trẻ vốn từ tăng chậm, không tự nói ra lời mà chỉ nhại lại lời nói của người khác, không thể thực hiện những cuộc trò chuyện đơn giản, không dùng lời nói để giao tiếp, không hiểu các chỉ dẫn hay câu hỏi dài hơn. 80% kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn, nhận thức còn hạn chế dẫn đến trẻ dùng từ không chính xác. Và có 10 phụ huynh nói tiếng địa phương vì vậy còn ảnh hưởng đến trẻ, nhiều phụ huynh do bận rộn công việc kiếm sống nên chưa thực sự quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ vốn từ cho con mà giao phó hoàn toàn cho cô giáo ở trường. Tôi đã khảo sát khả năng về ngôn ngữ của trẻ. Kết quả như sau: Đạt Khả năng về ngôn ngữ ở trẻ Số trẻ Số % Sử dụng vốn từ 6/18 40% Khả năng phát âm 5/18 27.8% Nghe hiểu lời nói 8/18 53,3% Nói đầy đủ câu, rõ ràng, mạch lạc 3/18 16% Chính vì vậy mà trong quá trình dạy trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói. III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Qua những buổi học bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên đề Phòng Giáo dục và Đào tạo, tham gia lớp nâng cao trình độ, và từ những tài liệu do huyện cung cấp, nội quy của nhà trường. Bản thân tôi nhận thấy giờ nhận
  2. 4 biết tập nói đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ, cung cấp vốn từ cho trẻ. Ở giờ nhận biết tập nói, trẻ được phát âm nhiều, được nói nhiều và cũng dễ bộc lộ ý tưởng của mình muốn nói. Để nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giờ nhận biết tập nói tôi đã áp dụng một số biện pháp sau: Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động phát ngôn ngữ cho trẻ: Một số hình thức phục vụ hoạt động học. a) Thay đổi linh hoạt các hình thức để trẻ tập nói. Để trẻ có một tâm lý tốt trước khi vào hoạt động cũng như giúp trẻ mạnh dạn, tự tin để nói lên suy nghĩ của mình. Chính vì vậy, việc thay đổi linh hoạt hình thức dẫn dắt vào bài, gây hứng thú cho trẻ để trẻ hào hứng, thích thú tham gia vào hoạt động đóng vai trò rất quan trọng. Tùy vào nội dung bài dạy mà tôi lựa chọn các cách gây hứng thú cho trẻ một cách linh hoạt nhẹ nhàng. Tôi có thể dùng rối, tranh, ảnh, bài hát, câu đố, mô hình... Sử dụng mô hình: Ví dụ: tôi sử dụng mô hình quả trứng bị đánh rơi, để dẫn dắt vào hoạt động nhận biết tập nói “chú vịt con” Giáo viên sử dụng mô hình dạy trẻ nhận biết tập nói
  3. 5 Sử dụng câu đố: cũng là cách tôi thường làm, để kích thích sự tò mò, suy nghĩ của trẻ. Ví dụ: trước khi dạy nhận biết tập nói con cua tôi sử dụng câu đố để mở đầu Con gì tám cẳng hai càng Mình đeo yếm trắng Nghênh ngang hai càng. (đáp án con cua) Sử dụng búp bê, rối tay xuất hiện và trò chuyện cùng trẻ Ví dụ: Trước khi vào đề tài Các con vật sống trong rừng, tôi cho trẻ trò chuyện với chú thỏ (rối tay). Cô giới thiệu với cả lớp mình hôm nay đến từ khu rừng phía bên kia có bạn thỏ trắng đến thăm lớp chúng mình đấy (cô đưa thỏ rối ra): Chào các bạn nhỏ lớp cơm thường C, mình là thỏ trắng đây, thỏ trắng chào tất cả các bạn Chào bạn thỏ (Trẻ nói) Việc cho trẻ trò chuyện với thỏ không chỉ tạo sự thích thú gần gũi mà còn giúp trẻ tự tin hơn trong giao tiếp. Có thể khi trẻ trò chuyện với bạn, với cô trẻ còn đôi chút rụt rè nhưng khi được trò chuyện với thỏ rối trẻ xem đó như một người bạn từ đó trẻ dễ bộc lộ khả năng giao tiếp của mình hơn. Giáo viên sử dụng rối tay tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ
  4. 6 Việc sử dụng màn hình vi tính dẫn dắt vào bài mới luôn hấp dẫn, hình ảnh sử dụng luôn chân thật, sống động. Giáo viên sử dụng hình ảnh trên máy tính để gây hứng thú cho trẻ b) Chuẩn bị đồ dùng trực quan sinh động để phát triển ngôn ngữ trẻ: Tư duy của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ là tư duy trực quan, khả năng tri giác về các sự vật, hiện tượng bắt đầu được hoàn thiện. Ở hoạt động nhận biết tập nói trẻ được quan sát hình ảnh mà cô giáo cung cấp. Đồ dùng này đã được cô giáo chuẩn bị trước, sắp xếp chúng từ đơn giản đến phức tạp dần, khi quan sát cô gợi mở để trẻ nói được điều trẻ đang quan sát. Chính vì vậy tôi chuẩn bị đồ dùng trực quan, hình ảnh minh họa to, rõ nét, dễ nhìn và thu hút sự chú ý của trẻ. Đặc biệt với trẻ 25-36 tháng tôi luôn ưu tiên sử dụng vật thật khi dạy trẻ, giúp trẻ có những trải nghiệm thực tế, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ, nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tích cực. Trẻ được sờ, cầm, ngửi, nếm một cách chân thực nhất. Qua đó tính tích cực tư duy, khả năng ghi nhớ có chủ định của trẻ được nâng lên. Ví dụ 1: Ở đề tài: “Nhận biết con cá” tôi cho trẻ quan sát hồ cá hình ảnh về con cá, video cá bơi dưới nước. Điều này giúp cho việc trẻ quan sát con cá, các bộ phận của chúng được dễ dàng và từ đó khi tôi cung cấp các từ vựng liên quan đến đề tài trẻ có thể hiểu nghĩa của từ một cách tự nhiên.
  5. 7 Trẻ quan sát hồ cá cùng cô Ví dụ 2: Ở đề tài: “Nhận biết các loại quả” tôi chuẩn bị các loại quả thật cho trẻ được quan sát chân thực, được cầm thử, ngửi mùi thơm và được nếm thử vị của loại quả đó. Sau khi trẻ nếm thử vị của loại quả đó, tôi cung cấp các tính từ liên quan như: chua, ngọt trẻ sẽ dễ nhớ và nhớ lâu hơn. Trẻ thích thú giờ học nhận biết tập nói quả cam Ví dụ 3: Ở đề tài: “Nhận biết tập nói con vịt” tôi chuẩn bị hình ảnh về con vịt giống như con thật, video con vịt bơi dưới nước. Điều này giúp cho việc trẻ quan sát con vịt chân thật nhất, các bộ phận của chúng được dễ dàng và từ đó khi tôi cung cấp các từ vựng liên quan đến đề tài trẻ có thể hiểu nghĩa của từ một cách tự nhiên.
  6. 8 Giáo viên sử dụng vật thật dạy trẻ nhận biết tập nói Ngoài việc chuẩn bị đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn thì việc bản thân cô giáo cũng cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về câu từ, cách phát âm. Muốn trẻ phát âm chuẩn và đúng, bản thân tôi luôn rèn luyện phát âm chính xác, nói giọng phổ thông. Tôi luôn chuẩn bị bài trước khi lên lớp, lựa chọn ngôn ngữ trong sáng, gần gũi dễ hiểu khi trò chuyện với trẻ. Khi trò chuyện với trẻ tôi nói to đủ để trẻ nghe và nói chậm đủ để trẻ hiểu. c) Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp Đối với hoạt động nhận biết tập nói, hệ thống câu hỏi đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp từ mới và luyện cho trẻ nói đủ câu. Tôi chuẩn bị một số câu hỏi rõ ràng ngắn gọn, dễ hiểu, gần gũi với trẻ, phù hợp với nội dung, mục đích bài học, phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Hệ thống câu hỏi đưa ra từ tổng thể đến chi tiết để trẻ trả lời nhằm kích thích trẻ phát triển tư duy và ngôn ngữ. Quan trọng nhất là trẻ hiểu câu hỏi, trả lời chính xác câu hỏi của cô. Trong khi trẻ trả lời tôi chú ý đến lời của trẻ, trẻ phải nói được cả câu theo yêu cầu của cô. Qua việc cô hỏi và trẻ trả lời sẽ cung cấp các từ mới cho trẻ, các từ này được nhắc lại nhiều lần, giúp trẻ nhớ và sử dụng trong giao tiếp. Mỗi câu hỏi của giáo viên đưa ra vừa phát triển tập nói vừa phát triển nhận thức cho trẻ. Nhìn vào bảng sau ta thấy rõ mối quan hệ này.
  7. 9 Mục đích phát triển STT Câu hỏi nhận thức 1 Ai đây? Cái gì đây? Con gì? Có những Trẻ nhận biết phân biệt gì? ở đâu? Đang làm gì? Màu gì? Hình đối tượng (tái hiện) gì? Với ai? Cho ai? Khi nào? Lúc nào? 2 Có những bộ phận nào? Có những nhân Trẻ nhận biết được chi vật nào? Cái này của ai? tiết đối tượng (tái hiện) VD: Khi tôi cho trẻ tìm hiểu về con cá, tôi cũng đưa ra hệ thống câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp. Đầu tiên tôi cho trẻ xem hình ảnh về con cá và hỏi: Đây là con gì?” (Trẻ trả lời: Con cá) Con nhìn xem con cá có bộ phận gì? (Cô chỉ vào các bộ phận của cá và hỏi trẻ, trẻ trả lời: đầu cá, mình cá, đuôi cá), nhằm cung cấp cho trẻ các từ mới liên quan đến con cá. Tôi đưa ra những câu hỏi chi tiết hơn: Trên đầu cá có gì? (Trẻ sẽ trả lời: có mang cá, miệng cá, mắt cá) Sau đó tôi nâng dần mức độ khó của câu hỏi và đưa ra những câu hỏi mở: Mắt cá như thế nào? Đây là câu hỏi mở buộc trẻ phải diễn đạt được câu trả lời theo ý hiểu của mình Cá đang làm gì? (Cá đang bơi) Từ những câu trả lời của trẻ tôi tóm lại rồi cho trẻ nhắc lại các từ hoặc câu nhiều lần. Việc đưa ra những câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp từ tổng thể đến chi tiết sẽ phù hợp với nhiều đối tượng trẻ trong lớp tôi. Những câu hỏi đóng phù hợp với những trẻ có vốn từ còn ít.Trẻ có khả năng ngôn ngữ khá hơn sẽ trẻ lời những câu hỏi khó hơn, những câu hỏi mở. Khi đưa ra những câu hỏi mở trẻ có thể trả lời được hoặc không trả lời được. Nếu trẻ chưa trả lời được tôi sẽ là người gợi mở cho trẻ và yêu cầu trẻ nhắc lại câu trả lời theo cô. Việc cô trả lời trẻ nhắc lại cũng giúp trẻ làm quen dần với các mẫu câu dài có nhiều từ hơn.
  8. 10 Trong khi trẻ trả lời tôi cũng hướng trẻ đến việc nói cả câu theo yêu cầu của cô. Tập thói quen lịch sự khi giao tiếp như trước khi bước vào nội dung chính của câu trả lời trẻ phải nói được “thưa cô...” d) Đàm thoại – trò chuyện để phát triển ngôn ngữ cho trẻ Để phát triển khả năng nghe nói cho trẻ, không gì nhanh chóng và tích cực bằng việc thường xuyên cho trẻ nghe – nói. Cô giáo phải là người bạn, là người mẹ để cháu tin yêu gần gũi khi nói chuyện, giáo viên phải luôn thể hiện được mối quan hệ thân thiện giữa cô với trẻ, trẻ với trẻ, giữa trẻ với người xung quanh. Cô giáo phải luôn chủ động tạo điều kiện, khuyến khích trẻ nói, thường xuyên trò chuyện hỏi han các bé trong giờ đón trẻ, giờ sinh hoạt chiều, giờ chơi khi trẻ có khó khăn hay tâm lý ngập ngừng, nhút nhát cô luôn động viên khích lệ trẻ tích cực trò chuyện gợi mở cho trẻ trả lời giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn khi giao tiếp, khi giao tiếp với trẻ cô phải chú ý đến giọng nói, ánh mắt, thể hiện tình cảm với trẻ từ đó trẻ cảm thấy thoải mái khi trò chuyện cùng cô để có biện pháp sửa đổi cách phát âm cho trẻ. Trẻ quan sát, trò chuyện cùng cô khi tham gia hoạt động ngoài trời Luyện phát âm khi tập nói cho trẻ. Dựa vào hệ thống câu hỏi đã xây dựng trong quá trình dạy trẻ tôi hỏi nhiều trẻ, cho trẻ nhắc lại nhiều lần. Trẻ biết thì trả lời, trẻ không biết thì nói theo bạn. Tôi cho những trẻ phát âm rõ lời phát âm trước sau đó tập cho những trẻ phát âm chưa rõ, những cháu chậm nói được phát âm nhiều lần, luân phiên
  9. 11 nhau. Tôi cũng phát hiện ra những cháu phát âm chuẩn, những cháu phát âm chưa chuẩn để sửa sai kịp thời. Các lỗi phát âm cơ bản của trẻ thường gặp như: nói ngọng, nói lắp, nói tiếng địa phương... Địa bàn trường tôi đang giảng dạy là một huyện rộng, có nhiều dân cư từ nhiều nơi khác đến. Việc phụ huynh nói tiếng địa phương đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển ngôn ngữ của trẻ lớp tôi. Trong quá trình sửa lỗi phát âm cho trẻ tôi cũng chú ý hơn các trẻ nói tiếng địa phương để sửa sai cho trẻ. Ví dụ: Tôi cho trẻ phát âm nhiều lần từ “đuôi cá” vì đây là các từ dài, từ dễ phát âm sai, các con thường phát âm theo tiếng địa phương hoặc nói ngọng thành “đui” cá. Khi sửa lỗi cho trẻ tôi cũng lựa chọn phương thức tích cực để vừa sửa sai vừa động viên trẻ, tránh trường hợp trẻ thấy sai thì lần sau sẽ rụt rè ngại giao tiếp. Tôi động viên các trẻ nhút nhát, gợi mở để các con mạnh dạn giao tiếp. Giọng nói giúp trẻ thể hiện thái độ, tình cảm của mình trong từng lời nói như: âu yếm, thủ thỉ, to, nhỏ. VD: Khi cho trẻ đọc bài thơ “Yêu mẹ” Giáo viên cần đọc mẫu bài thơ cho trẻ nghe 2 - 3 lần, cô đọc chậm và rõ thể hiện sắc thái tình cảm của mình trong bài thơ sau đó cho trẻ đọc theo cô. Trong khi trẻ đọc cô sẽ giúp trẻ điều chỉnh giọng đọc để thể hiện tình cảm của mình đối với mẹ. Trong lớp có vài bé chậm nói, phát âm chưa rõ lời, tôi chú ý đến những cháu này trong tất cả các hoạt động hàng ngày ở lớp như cháu: Minh Khang, Thủy Tiên... Vào những giờ học, tôi luôn chú ý và tập cho trẻ phát âm nhiều, và cho những bé này chơi cùng nhóm với các bạn phát âm rõ lời, tôi chỉ việc theo dõi, giúp đỡ khi có tình huống xảy ra. Vì thế những cháu này rất an tâm khi chơi cùng các bạn, cháu chơi gần hết giờ, tôi gọi: “các con ơi giờ chơi sắp hết rồi”, thế là những cháu phát âm rõ lời ”dạ” một cách to, rõ, còn những cháu phát âm chưa rõ lời thì cũng ngẩng ngay đầu lên nhìn tôi và “ạ”. Tôi nghĩ ngay đến từ “dạ” và bắt đầu tập cho những cháu này “dạ” theo tôi. Tôi gọi “ Minh Khang ơi!” rồi tập cho cháu “dạ”
  10. 12 nhiều lần... Sau đó tôi gọi “Các con ơi” thì những cháu này cùng “dạ”, cháu nào phát âm đúng thì được cô khen. Cứ thế, tôi tập cho các cháu trong bất kỳ tình huống nào thuận lợi nhất trong mỗi ngày ở lớp. VD: Khi dạy bài thơ “Đôi dép” khi trẻ đọc đến từ “xinh xinh” một số trẻ sẽ phát âm sai thành “dinh dinh” vì vậy cô giáo cần chú ý, kiên trì sửa sai cho trẻ bằng cách (không lặp lại lỗi mắc sai của trẻ), không cáu gắt làm trẻ mất hứng thú mà cô sẽ phát âm lại chậm, rõ và cho trẻ phát âm theo cô nhiều lần. Biện pháp 2: Phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Gia đình là môi trường rất quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách trẻ, vì thế tôi cũng thường xuyên phối hợp với phụ huynh trực tiếp và qua góc tuyên truyền để cùng với cô giáo dục trẻ cho phù hợp. Để vốn từ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu sự đóng góp của gia đình. Việc giáo dục trẻ tại nhà rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trao đổi về nội dung hoạt động nhận biết tập nói trong ngày, sau đó hướng dẫn phụ huynh tiếp tục trò chuyện với trẻ về đề tài đó, nhằm giúp trẻ luyện tập và củng cố những từ mới, mẫu câu đã được học trên lớp với cô. Thời gian trên lớp không đủ để trẻ có nhiều cơ hội được bộc lộ ngôn ngữ của mình. Ví dụ: cô hướng dẫn trẻ “con chào mẹ con đi học” ,“con chào cô” khi đến lớp Phụ huynh nhắc trẻ chào cô khi đén lớp
  11. 13 Hình thức phối hợp được thực hiện như sau: Mỗi giai đoạn tôi có thể mời phụ huynh đến lớp để trao đổi với phụ huynh về tình hình phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua bảng theo dõi. Mời phụ huynh đến dự giờ để phụ huynh biết được đến nhà trẻ là phải học các môn học chứ không phải đi chơi như nhiều phụ huynh thường nghĩ. Trao đổi với phụ huynh về một số kiến thức giúp trẻ học nói ở nhà để từ đó phụ huynh cùng với cô giáo rèn luyện cho trẻ ở nhà cũng như ở trường. Tổ chức họp cha mẹ học sinh trao đổi thống nhất về cách chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ Thông báo cho phụ huynh biết về một số lỗi phát âm của trẻ như trẻ nói ngọng, trẻ ít nói, phát âm sai để phụ huynh có biện pháp giáo dục thêm cho trẻ khi ở nhà. Ví dụ: sau đề tài nhận biết đồ dùng trong gia đình, tôi cũng kết hợp với phụ huynh để luyện tập cho trẻ bằng cách, khi phụ huynh đón trẻ tôi thông báo nội dung bài và hướng dẫn phụ huynh trò chuyện với trẻ về các đồ dùng trong gia đình như cái chén, cái ly... là những đồ vật gần gũi. Phụ huynh có thể ôn lại cho trẻ về tên gọi, màu sắc, chất liệu của các đồ vật đó. Bên cạnh đó trong quá trình dạy tôi quan sát được những trẻ nói ngọng, nói ngược, tôi cũng thông báo với phụ huynh để phụ huynh cùng cô giáo luyện tập và sửa lỗi cho trẻ.