Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh Lớp 2

doc 17 trang Chăm Nguyễn 10/01/2026 100
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_phat_trien_nang_luc_n.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh Lớp 2

  1. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. Ngoài kỹ năng sản sinh ra ngôn bản, học sinh còn được luyện rèn các kỹ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, suy luận, tư duy, bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh cho học sinh. Qua đó tích lũy vốn văn học cho trẻ em, rèn luyện và phát triển kỹ năng nói và hiểu một cách có nghệ thuật. Từ đó học sinh học tốt các môn học khác. 2.Cơ sở thực tiễn Thực tế hiện nay, rất nhiều học sinh còn hạn chế các kỹ năng: nghe, đọc, nói, viết. Đặc biệt là học sinh lớp 2. Các em rất ngại nói trong giờ học. Nhiều em có tâm lý dè dặt, ngại ngùng khi nói, thiếu tự tin, nói nhỏ, sợ mình nói sai. Sự tập chung nghe chưa cao, khi được giáo viên gọi nhắc lại câu bạn vừa trả lời thì nói rất nhỏ hoặc đứng im không nói gì. Mặt khác, vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống cũng như giao tiếp của học sinh lớp 2 còn thiếu linh hoạt. Các hoạt động tập thể, thảo luận, tập diễn thuyết, thi hùng biện các em được luyện ít nên kỹ năng nói và nghe phát triển chậm. Vậy làm thế nào để học sinh hoạt động linh hoạt trong mọi hoạt động học tập và giao tiếp? Làm thế nào để có các giải pháp giúp các em phát triển năng lực nói và nghe? Biết dùng các câu văn hay, hình ảnh đẹp để trình bày ý tưởng của mình. Biết lắng nghe để nhận xét, tìm ra cái hay, cái đẹp trong phần trình bày của bạn? Làm thế nào để giúp các em phát triển NĂNG LỰC NGÔN NGỮ để các em học tập trong môi trường giao tiếp được tốt? Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2”. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI *Thuận lợi Các con trong lớp cùng một độ tuổi, phụ huynh cũng trang bị đầy đủ sách, vở và đồ dùng học tập cho các con. Bên cạnh đó Phòng Giáo dục và nhà trường đã quan tâm mua các thiết bị và ti vi thông minh cho các lớp để phục vụ tốt cho công tác giảng dạy. *Khó khăn Qua thăm lớp dự giờ các đồng chí giáo viên trong tổ cũng như các khối khác, tôi thấy các đồng chí giáo viên đã quan tâm đến các đối tượng học sinh. Nhưng khi tổ chức cho các em tìm tòi khám phá kiến thức, các em “ mũi nhọn” hăng hái phát biểu hơn. Còn các em có học lực còn hạn chế thì 3/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  2. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. ít có cơ hội tham gia xây dựng bài hoặc dự thi cùng các bạn trong các hoạt động học tập. Những em ít được hoạt động thường có biểu hiện nhút nhát, tự ty. Nói nhỏ, nói lí nhí hoặc không dám nói vì sợ nói sai. Một số em không tập trung nghe nên không nghe được nội dung bạn trình bày, dẫn đến không nhận xét, đánh giá được phần trình bày của bạn. Nguyên nhân học sinh còn hạn chế kỹ năng nghe và nói là do các em có tâm lý sợ sệt, thiếu tự tin, ngại ngùng. Hiện tượng này diễn ra từ lớp dưới. Các hoạt động tập thể, trao đổi, thảo luận tập thuyết trình, hùng biện ít được tổ chức nên các em ít có điều kiện để rèn luyện kỹ năng nói và nghe. Môi trường gia đình các em, nhiều phụ huynh mải miết làm kinh tế không dành thời gian trò chuyện với con, không học tập cùng con, cũng làm cho các em hạn chế về giao tiếp khiến vốn từ vựng không được bổ sung. CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN I. Những biện pháp chung: Từ thực trạng và số liệu trên, tôi nghiên cứu và đưa vào giảng dạy một số biện pháp sau: 1.Thống kê các dạng bài. 2. Lập kế hoạch. 3. Rèn luyện kỹ năng nói và nghe theo mẫu giao tiếp. 4. Rèn luyện kỹ năng nói qua hoạt động “ Tự học” 3. Rèn luyện kỹ năng nói và nghe qua hoạt động trò chơi. II. Những biện pháp cụ thể: Quá trình thực nghiệm, tôi thấy trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều. Dẫn đến trình bày bài có nhiều cấp độ khác nhau. Có em nói rất to, rõ ràng, tự tin, lưu loát. Trình bày các câu văn hay, hình ảnh đẹp. Có em nói ấp úng, nói bé, thiếu tự tin. Để khắc phục khó khăn trên, tôi dùng các biện pháp sau: 1. Biện pháp thứ nhất: Thống kê các dạng bài. 1.1. Nhiệm vụ: Hệ thống các nhóm bài, từ đó phân loại theo các dạng nhỏ để tìm các giải pháp tích cực phù hợp với từng bài dạy. 4/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  3. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. 1.2. Khó khăn: Môn Tiếng Việt gồm nhiều mảng bài tập như Tập đọc, đọc hiểu, viết chính tả, mở rộng vốn từ và hiểu nghĩa từ . Nói đủ câu, đúng câu và diễn đạt có sắc thái biểu cảm. Tất cả các dạng bài tập này cũng như các môn học khác nói chung đều cần rèn kỹ năng nghe và nói cho học sinh. Mỗi phân môn trong môn Tiếng Việt nói chung, mỗi bài học nói riêng đều có yêu cầu cần đạt được khác nhau. Môn Tiếng Việt ở lớp 2 được phân phối ở 35 tuần trong đó có 31 bài tập “ Nói và nghe” 1.3. Khắc phục: Để khắc phục khó khăn trên, giúp học sinh được luyện kỹ năng nghe và nói có chiều sâu hơn, tôi tập trung nghiên cứu các các bài tập “nói và nghe” và phân loại như sau: Các nhóm bài tập Các bài cụ thể Dạng 1: Các bài có nội dung nhìn Gồm các bài tuần 1, tuần2; Tuần tranh nói về hoạt động, sự vật, 4, tuần 6, tuần 7, tuần 19, tuần 20, cảnh vật. cây cối, mái trường. tuần 24, tuần 25, tuần 26, Dạng 2: Các bài có nội dung nói về - Tuần 3, tuần 8, tuần 10, tuần 11, tình bạn, tình yêu các loài vật. tuần12, tuần 13;tuần 21. Dạng 3: Các bài nói với người - Tuần 14; tuần 15; tuần 16; tuần thân. 17 Dạng 4: Các bài tập nói lời xin lỗi, - Tuần 23, tuần 29. cảm ơn; lời an ủi; động viên. đề nghị yêu cầu. Dạng 5: Các bài tập có nội dung - Tuần 5, tuần 30, tuần 31, tuần về đất nước – con người Việt Nam. 32 tuần 33, tuần 34. 2.Biện pháp thứ hai: Lập kế hoạch 2.1. Nhiệm vụ: Đưa ra những định hướng, những yêu cầu về nội dung, phương pháp phù hợp với kế hoạch dạy phát triển năng lực môn Tiếng Việt phần nói và nghe. 2.2. Khó khăn: Các bài “ Nói và nghe” trong môn Tiếng Việt lớp 2 là một tài liệu bao gồm các ngữ liệu mở rộng và hình thức dạy học mới đòi hỏi giáo viên 5/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  4. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. phải biết cách hướng dẫn để học sinh được rèn luyện nhằm phát triển năng lực toàn diện như: 1. Năng lực Tự chủ và tự học. 2. Năng lực Giao tiếp và hợp tác. 3. Năng lực Giải quyết vấn đề và sáng tạo. 4. Năng lực ngôn ngữ. 5. Năng lực hiểu biết về tự nhiên và xã hội. 6. Năng lực công nghệ. 7. Năng lực tính toán. 8. Năng lực tin học. 9. Năng lực thẩm mỹ. 10.Năng lực thể chất. Nhưng không phải bài nào cũng đảm bảo phát triển 10 năng lực trên. Do đó, giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung, thiết kế các hình thức phong phú phù hợp với yêu cầu mới: Yêu cầu chuyển từ dạy nội dung sang dạy phát triển năng lực. Đặc biệt là năng lực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp trong đó có kỹ năng nói và nghe. 2.3. Khắc phục: Để khắc phục những khó khăn trên, giáo viên cần phải bám sát mục tiêu giáo dục của nhà trường, bám sát nội dung, chương trình và phải cụ thể hóa theo từng đối tượng. Căn cứ vào nhóm bài của chương trình môn Tiếng Việt mà tôi đã thống kê, tôi xây dựng kế hoạch tổ chức các hình thức dạy như sau. Nội dung Hình thức tổ chức Thời gian thực hiện 1.Luyện kỹ năng nói - Hoạt động theo nhóm - Đầu tháng 9 và và nghe theo mẫu nhỏ và nhóm lớn. nhắc lại thường giao tiếp. xuyên. 2. Luyện kỹ năng - Hướng dẫn cá nhân - Hình thành nếp tự nói và nghe qua tự học ở nhà có sự hợp học ngay từ đầu hoạt động tự học. tác với cha mẹ học năm học và nhắc lại sinh. hàng ngày. 3. Luyện kỹ năng - Hoạt động nhóm lớn - Tuần 6, tuần 8 , nói và nghe qua hoặc cả lớp, phối hợp tuần 10, tuần 11, hoạt động trò chơi. với cả khối thông qua tuần 12, tuần hoạt động tập thể, trò 24,tuần 33 chơi. 3.Biện pháp thứ ba: Rèn luyện kỹ năng nói và nghe theo mẫu giao tiếp 6/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  5. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. Để phát triển kỹ năng nói tốt cho học sinh cần phải rèn luyện và trải nghiệm trong giao tiếp. Vì vậy cần hướng dẫn học sinh cách nói theo các bước sau: Bước 1: Khuyến khích học sinh can đảm nói ra những gì mà các con suy nghĩ. + Trước khi nói, con cần hít thở sâu, chuẩn bị tâm thế nói, không sợ sệt, không căng thẳng. + Tập nói với bố mẹ, người thân, rồi đến tập nói với thầy cô, bạn bè và nói chuyện với người lạ những nội dung mà mình cần trao đổi, đề nghị. + Yêu cầu: Nói to, rõ ràng, nói đủ câu, đủ ý, nói câu văn hay có hình ảnh đẹp. Bước 2: Hướng dẫn học sinh tạo sự lôi cuốn đối với người đối diện. + Khi lắng nghe hoặc nói chuyện, các con hãy nhìn thẳng vào mắt của người đối diện. Ánh mắt trìu mến, thân thiện. Điều này sẽ giúp các con tương tác thành công hơn. + Phối hợp sắc thái biểu cảm phù hợp với nội dung trình bày. - Ví dụ nói về chủ đề Mái ấm gia đình tuần 14. Bài Hai anh em. Con hãy nói lời trao đổi giữa hai anh em khi họ bắt gặp nhau trong tay đang ôm những bó lúa bỏ sang phần của người kia? * Lưu ý khi nói: Nét mặt các con phải tươi cười, các cử chỉ hành động thể hiện sự yêu thương và nội dung phải thể hiện được mình là người anh ( người em) sống có trách nhiệm, biết cảm thông với người thân của mình. Chẳng hạn khi nói hai bàn tay đặt chéo nhau trước bụng hoặc cầm tay âu yếm người nói chuyện. a.Anh với em. - Em à: Nếu phần lúa của anh bằng phần lúa của em thì thật không công bằng. b.Em nói với anh. - Anh ơi! Anh còn phải nuôi vợ và con. Nếu phần lúa của em bằng phần của anh thì không công bằng. * Lưu ý : Nét mặt các con phải thể hiện sự cảm thông. Giọng nói phải vui tươi để cho người nói chuyện không cảm thấy buồn tủi khi cô đơn. * Khi nghe người khác nói cũng phải chú ý lắng nghe, thể hiện sự chia sẻ cảm thông trước những nội dung mà bạn khác hoặc thầy cô chia sẻ. Bước 3: Hướng dẫn học sinh sử dụng từ ngữ mềm dẻo, linh hoạt. + Phát biểu rõ ràng, âm lượng vừa đủ nghe. Không nói lí nhí, không nói kiểu la hét. 7/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  6. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. + Tốc độ nói vừa phải không nói liến thoắng. Cũng không nói nhát gừng làm người nghe khó chịu. Ví dụ bài : Lớp học viết thư tuần 28: Em đóng vai thầy giáo sẻ và vai học trò để viết thư cho nhau. - Cho học sinh ghi lời thoại của - Lần lượt từng em trình bày lời mình vào vở nháp. thoại của mình khi viết thư cho - Lớp trưởng điều hành phần trình thầy Sẻ hoặc cho bạn của mình và bày. ngược lại. - Cho học sinh nhận xét cách viết + Cậu thân mến! thư cho bạn, mở đầu thư em phải viết như thế nào? - Nếu là thầy giáo hoặc người lớn + Các học trò thân mến! tuổi viết thư cho người nhỏ tuổi hơn thì đầu thư viết như thế nào? - Phỏng vấn học sinh: Khi nói - Khi nói chuyện với bạn, với thầy chuyện với bạn, với thầy cô con cần cô,thì lời nói phải nhẹ nhàng, nét chú ý điều gì? ( Lời nói, điệu bộ, mặt vui tươi thể hiện thái độ thân nét mặt...) thiện. * Giáo viên chốt: Khi nói chuyện - Học sinh sẽ lựa chọn giải pháp trực tiếp với thầy cô và bạn bè, ta theo ý hiểu của mình để trình bày. cần có thái độ lễ phép , trân trọng - Các nhóm lên trình bày từng tình và lịch sự: Lời nói phải nhẹ nhàng huống của nhóm mình. tình cảm: Thể hiện sự kính trọng với thầy cô, thân thiện với bạn bè. Nét mặt vui tươi, mắt nhìn thẳng 8/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  7. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. vào mắt người nói chuyện. * Khi viết thư , chúng ta cũng phải có thái độ như vậy. Liên hệ: Các con sẽ nói như thế nào với ông bà, cha mẹ, em nhỏ, và người lớn tuổi? * Qua biện rèn kỹ nói và nghe qua mẫu giao tiếp, các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, nói to rõ ràng hơn, lắng nghe chăm chú hơn, thể hiện sắc thái biểu cảm đúng với từng hoàn cảnh, có ý thức tự giác học tập hơn. 4. Biện pháp thứ bốn: Rèn luyện kỹ năng nói qua hoạt động “Tự học”. a)Trang bị cho học sinh luôn có luồng tư tưởng tích cực. + Đối với Học sinh tự ty nhút nhát. - Trong một lớp học, bên cạnh những học sinh thông minh nhanh nhẹn ham học, tiếp thu nhanh, còn có những học sinh thiếu tự tin, nhút nhát, tiếp thu bài chậm. Bởi vậy động viên các con là biện pháp tối thắng. * Chẳng hạn, khi học sinh chuẩn bị bài ở nhà. Các con gặp khó khăn, gọi điện hỏi bài tôi, tôi động viên: “ Con là người thông minh, chắc chắn con học được, hiểu được và làm bài được. Chẳng qua là từ trước đến giờ con học chưa đúng phương pháp mà thôi. Gặp bài khó đầu tiên con phải nghĩ: “ Mình là người thông minh, mình sẽ làm được bài” Sau đó con làm theo các bước chung như sau: + Lập thời gian biểu. + Đặt mục tiêu cho học tập. + Đưa ra nhiều phương án học hiệu quả. + Đọc lại đề bài để xác định yêu cầu của bài. + Suy nghĩ và viết nháp những ý hiểu của mình. + Nhờ bố mẹ hoặc anh chị soát lại những ý tưởng của mình. + Tra google để đối chiếu hoặc gọi điện nhờ thầy cô hỗ trợ. + Đọc lại bài để sửa. + Hoàn chỉnh bài và đọc lại toàn bài xem có cần bổ sung chỗ nào không. + Tập nói to và diễn đạt cho lưu loát. + Tập nói trước gương để luyện sắc thái biểu cảm ( vẻ mặt ). * Tránh giấu dốt. Tự giác thực hiện học tập theo thời gian biểu. - Tránh học tùy hứng, học đối phó. - Tránh vừa học vừa nằm xem phim. 9/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  8. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. * Các con lưu ý: Nghe nhanh quên, nhìn nhanh nhớ, và trải nghiệm thì mới thấu hiểu. + Kể cho học sinh nghe câu chuyện “Con đại bàng và đàn gà” trong giờ sinh hoạt. Chuyện kể về một con đại bàng mẹ khi đi kiếm ăn đã trở dạ đẻ và để rơi quả trứng vào ổ gà. Nhờ gà mái ấm ủ, trứng đại bàng nở ra đại bàng con và sống cùng bầy gà. Nhưng thân hình của nó ngày một lớn và khác hẳn gà. Một hôm từ trên cao, đại bàng mẹ nhìn xuống đất nhận ra đứa con mình đánh rơi năm xưa. Đại bàng mẹ sà xuống vườn và nói với đại bàng con rằng: “Con chính là đại bàng”. Nó không tin. Nhưng thời gian qua mau, nó luôn ước ao được bay cao như đại bàng. Và nó nghĩ: Mình là đại bàng. Mình phải tập bay. Cuối cùng nó cũng bay được lên không trung làm chủ bầu trời cao đẹp. * Qua câu chuyện trên, giúp học sinh hiểu được: Nếu có ý chí và kiên trì rèn luyện thì ước mơ sẽ trở thành sự thật. Cho học sinh ghi câu danh ngôn dán vào góc học tập của các em, để khích lệ tinh thần ham học của học sinh. “ Có chí thì ham học Mất chí thì ham chơi Trí sáng tạo nên người Đức nhân tìm ra bạn”. b) Trang bị cho phụ huynh luồng tư tưởng siêu tích cực để đồng hành cùng con học tập. Môi trường gia đình là yếu tố thứ hai quyết định đến chất lượng học tập của các con, vì vậy việc trang bị cho phụ huynh các biện pháp để đồng hành cùng con trong học tập là việc làm vô cùng cần thiết. Vì vậy trong buổi họp phụ huynh đầu năm học, tôi tập huấn cho phụ huynh các biện pháp sau: 1, Động viên con kịp thời: Trong cuộc họp phụ huynh, tôi đã kể cho phụ huynh nghe câu chuyện thứ nhất: Câu chuyện có thật về nhà bác học Thomas – Edison thời niên thiếu. Ông bị thầy giáo và nhà trường đuổi học vì cho rằng : Ông là người đần độn. Ông phải tự học ở nhà dưới sự dẫn dắt của người mẹ. Bà mẹ có trái tim nhân hậu vĩ đại ấy là ngôi trường tuyệt vời đã đào tạo nên một thiên tài cho nhân loại của thể kỷ 20. 2, Hình thành môi trường tốt cho con tại gia đình. 10/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  9. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. - Kể câu chuyện thứ hai : Câu chuyện ngài Mạnh Tử: Truyện kể về ngài Mạnh tử thông minh nhưng rất hay bắt trước người khác. Ở môi trường chợ búa, ngài học thói điêu ngoa dối trá. Ở môi trường có nhiều kẻ lang thang, giang hồ, ngài học nhanh thói nghịch ngợm cuội phá. Bà mẹ liền thay đổi môi trường sống ba lần. Cuối cùng bà chọn cho con môi trường giáo dục. Và sau này ông trở thành nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc. Qua câu chuyện, tôi muốn giúp phụ huynh thấy được: Trái tim nhân hậu của người mẹ luôn là trường học của người con. Môi trường gia đình quan trọng không kém ở trường. Từ đó phụ huynh luôn là tấm gương sáng để con học tập, có kế hoạch luôn theo sát tâm tư nguyện vọng của con, lắng nghe chia sẻ của con để giúp con tìm hướng giải quyết, động viên, giúp đỡ con hoàn thành việc tự học ở nhà. 3,Tạo tâm thế an nhiên cho con khi tự học ở nhà. - Kể câu chuyện thứ ba: Người cha không biết chữ dạy con. Chuyện kể về người cha không biết chữ, nhưng hôm nào ông cũng dành thời gian ngồi cạnh con học bài. Thỉnh thoảng, ông xoa đầu con và nói: “Cố gắng lên con trai! Có cố gắng học tập mới thành tài và không phải làm việc vất vả như cha”. Và cuối cùng con trai ông luôn có kết quả học tập rất tốt. Qua câu chuyện, tôi muốn chuyển tải cho phụ huynh biết: “Không có phương pháp thì người tài cũng lỗi, có phương pháp thì người bình thường cũng sẽ trở thành phi thường”. * Kết luận: Trang bị cho học sinh và phụ huynh học sinh luồng tư tưởng siêu tích cực là việc làm vô cùng cần thiết. Cách quan tâm tới con không phải là đáp ứng mọi nhu cầu vật chất cho con, hoặc bỏ tiền tài thuê người khác làm thay mình, mà mỗi người cần đầu tư một quỹ thời gian bên con, đồng hành cùng con học tập, làm điểm tựa cho con. Nhờ tâm an, các con sẽ học tốt không chỉ môn Tiếng Việt, học tốt tất cả các môn, mà còn giúp con phát triển các năng lực một cách toàn diện. * Đối với các bài tập có liên qua đến trò chơi đóng vai, tôi hướng dẫn các con chuẩn bị bài ở nhà theo các bước như sau: + Chọn bạn để tham gia đóng vai. + Trao đổi với bạn để viết lời thoại cho kịch bản. + Nhờ bố mẹ, anh chị kiểm tra, đóng góp ý kiến, gợi ý xây dựng. + Hoàn chỉnh kịch bản. 11/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  10. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. + Phối hợp với bạn, tập diễn xuất ở nhà trước khi tham gia đóng vai ở lớp. * Đối với các bài tập có nội dung mở cần gợi ý cho các con những tài liệu cần tham khảo như sách giáo khoa, từ điển, tra google, hỏi người thân, bạn bè hoặc có thể hỏi thầy cô tư vấn. *Thông qua các hoạt động trên, các năng lực và phẩm chất của người học sinh được hình thành và phát triển toàn diện. Không chỉ học sinh được luyện nói và nghe để phát triển ngôn ngữ, mà các năng lực tự chủ, tự học, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tin học, năng lực công nghệ, năng lực tư duy và sáng tạo ... cũng được hình thành. 5. Biện pháp thứ năm: Rèn luyện kỹ năng nói và nghe qua hoạt động trò chơi. 1,Trò chơi : Ai đoán đúng. * Để tạo dựng văn bản nói, tôi tổ chức trò chơi cho học sinh ngay trong giờ Nói và nghe. Chẳng hạn như tuần 25 bài: Hạt giống nhỏ. * Phần luyện tập nói và nghe hôm nay, chúng ta sẽ thi ai đoán đúng. Bước 1: Chuẩn bị: Dự kiến số học sinh dự thi. Bước 2: Học sinh đọc lại kịch bản đã chuẩn bị. Bước 3: Các cá nhân thể hiện. Bước 4: Nhận xét đánh giá và bình chọn bạn đoán đúng và hay nhất. Qua hoạt động học tập dưới hình thức nhìn tranh đoán, các em đã nói rất tốt những suy nghĩ của mình qua bốn bức tranh. Bài của em : -Mình xin đoán : Ở bức tranh thứ nhất : Nhờ 12/17 Nguyễn Thị Nguyệt
  11. Một số biện pháp phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2. những hạt mưa làm cho đất mềm và hạt giống nhỏ nảy mầm vươn lên khỏi mặt đất. Nhờ mặt trời sưởi ấm và cung cấp năng lượng, hạt giống đã trở thành một cái cây cao, to, khỏe. Bài của em: -Mình xin được đoán Ở bức tranh thứ hai: Sống trên đồi vắng, cây rất buồn, nó muốn có thêm nhiều cây khác sống cùng làm bạn. Bài của em: - Mình xin được đoán ở bức tranh thứ ba: Cô Gió đã đưa những hạt giống nhỏ ở nơi khác đến gieo khắp quả đồi. Cô Mây, ông mặt Trời tưới nước và sưởi ấm để các cây nhanh lớn. Bài của em: - Mình xin được đoán ở bức tranh thứ tư: Quả đồi đã được phủ xanh bởi rất nhiều cây. Hàng ngày chim chóc đến ca hót véo von thật vui. + Con nhận xét phần làm việc của các bạn? + Lớp bình chọn bạn đoán đúng nhất và trình bày hay nhất! + Giáo viên nhận xét chung và đánh giá xếp hạng các nhóm tham gia chơi. + Khen và biểu dương động viên các bạn tham gia trò chơi. 2, Trò chơi đóng vai. Tuần 7 - Bài bữa ăn trưa : Các em hãy đóng vai thầy hiệu trưởng và lớp ăn trưa. Các em được chuẩn bị lời thoại ở nhà và đăng ký dự thi trước. Qua cuộc thi, lớp chọn được nhóm trình bày hay nhất: - Các con có mang theo món ăn + Có ạ! của biển và của đồi núi không? - Cái gì đó của biển là ? + Cá, tôm, hải sản. - Cái gì đó của đồi núi? + Trứng, rau, thịt. * Liên hệ: Để trả lời được chính - Cần chú ý lắng nghe để có câu xác câu hỏi của thầy, các con cần trả lời chính xác. làm gì? * Giáo viên chốt: Các con ạ: Khi đóng vai, các con cần chuẩn bị kỹ lời thoại của từng nhân vật. Đứng trước gương tập diễn xuất nhiều lần để điều chỉnh sắc thái biểu cảm của nhân vật như nét mặt, lời nói, cử chỉ của nhân vật mà các con đóng vai. 3. Thi kể chuyện 13/17 Nguyễn Thị Nguyệt