Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Lớp 3 trong môn tiếng Anh

docx 28 trang Chăm Nguyễn 09/01/2026 110
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Lớp 3 trong môn tiếng Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_phat_huy_tinh_tich_cu.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Lớp 3 trong môn.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Lớp 3 trong môn tiếng Anh

  1. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” học của người bản xứ trên TV, trên internet, .. - Học tập, tiếp thu chỉ đạo trong các lớp bồi dưỡng, tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học và sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả. - Tích cực làm đồ dùng dạy học phục vụ cho việc giảng dạy hàng ngày trên lớp đạt hiệu quả. - Trang trí trường, lớp theo chủ điểm tạo môi trường học tập tích cực cho học sinh - Làm phiếu điều tra mức độ yêu thích môn Tiếng Anh của học sinh khối 3 trong trường tiểu học 3/25
  2. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” PHẦN II. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN Nhằm bắt kịp với xu thế toàn cầu, ngành giáo dục Việt Nam đang ngày một hội nhập cùng thế giới. Hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục hiện đại là đào tạo ra những con người có thể bắt kịp xu thế hội nhập toàn cầu. Luật Giáo dục đã quy định “phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh , phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN Hiện nay trong các nhà trường , việc dạy và học Tiếng Anh đang diễn ra cùng với sự đổi mới phương pháp giáo dục, cải cách sách giáo khoa, nội dung chương trình học nhằm làm phù hợp với nhận thức của học sinh, giúp học sinh được tiếp cận với nội dung, kiến thức hiện đại. Vốn kiến thức Tiếng Anh trong chương trình học cũng được sử dụng phù hợp với sự phát triển chung của xã hội. Trong thực tế hiện nay, nhiều giáo viên giảng dạy môn Tiếng Anh vẫn còn rất lệ thuộc vào sách giáo khoa, sử dụng những phương pháp cũ là giáo viên truyền đạt - học sinh tiếp thu một cách thụ động, giáo viên viết từ lên bảng yêu cầu học sinh chép đi chép lại nên học sinh không có cơ hội được giao tiếp nhiều bằng 4/25
  3. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” Tiếng Anh, không đưa học sinh vào những tình huống giao tiếp thực tế, Điều này không tạo cho học sinh hứng thú khi học Tiếng Anh và các em không vận dụng được Tiếng Anh trong cuộc sống hàng ngày. Để góp phần khắc phục tình trạng trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong môn Tiếng Anh” không ngoài mục đích duy nhất là xây dựng những phương pháp dạy học phù hợp nhất với tư duy của trẻ, giáo dục kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho trẻ đặc biệt là thứ ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ. III. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Về phía giáo viên: - Giáo viên đạt trình độ chuẩn B2 và được cấp chứng chỉ sư phạm về giảng dạy Tiếng Anh tiểu học, được học tập, trao đổi kinh nghiệm từ đồng nghiệp qua các buổi tập huấn, sinh hoạt chuyên môn, hội giảng, trao đổi kinh nghiệm, chuyên đề. - Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn và đồng nghiệp luôn quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt cho việc dạy và học Tiếng Anh. - Các em có đầy đủ sách giáo khoa, đồ dùng học tập. - Giáo viên được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn phương pháp giảng dạy Tiếng Anh tiểu học. 2. Về phía học sinh: - Đa số các em học sinh rất chăm ngoan và hứng thú với môn Tiếng Anh. - Học sinh luôn được phụ huynh và giáo viên quan tâm, giúp đỡ trong quá trình học tập. - Qua thực tế giảng dạy môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học trong nhiều năm qua, tôi nhận thấy dù chất lượng môn học đã có nhiều chuyển biến rất tích cực nhưng tính chủ động và sáng tạo trong quá trình học của học sinh vẫn chưa thực sự khả quan. Qua thăm dò điều tra, hỏi ý kiến của học sinh và những đánh giá nhìn nhận của cá nhân mình, tôi nhận thấy có một số hạn chế như sau: a. Cơ hội thực hành Tiếng Anh chưa nhiều Học sinh chưa được ứng dụng các kiến thức mà các em được học vào giao 5/25
  4. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” tiếp hàng ngày. Phạm vi học và thực hành Tiếng Anh chỉ ở trong lớp học. Chính vì vậy học sinh học như bị bắt buộc, học để lấy thành tích cao là chủ yếu, các em chưa ý thức được học tiếng Anh để phục vụ cho việc giao tiếp và cho nghề nghiệp của mình sau này. b. Hạn chế về thời gian và hình thức trò chơi Học sinh tiểu học còn nhỏ nên tốc độ viết của các em còn chậm. Đây là lí do chủ yếu dẫn đến việc hạn chế trong tổ chức trò chơi. Bên cạnh đó các hình thức trò chơi mặc dù được tổ chức phong phú nhưng chưa bao quát đến tất cả các đối tượng học sinh. Thời lượng của một tiết học không chỉ dành cho các trò chơi mà còn phải tập trung vào việc truyền tải kiến thức và các kĩ năng khác. c. Động cơ và ý thức học tập chưa cao Môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học vẫn chưa được quan tâm đúng mực nên một số học sinh và phụ huynh chưa ý thức được tầm quan trọng của môn học này. Một số học sinh lên lớp học Tiếng Anh là vì bắt buộc phải lên chứ các em không có một động cơ học tập nào. Bên cạnh đó, học sinh yếu kém rất ngại thực hành giao tiếp vì khả năng tiếp thu chậm, sợ thực hành sai, sợ những nhận xét không tốt của giáo viên. Còn một số đối tượng khá, giỏi các em lại ngại giao tiếp vì các em xấu hổ khi phải thể hiện trước đám đông. Ở lứa tuổi này các em rất ham chơi nên ý thức học tập chưa cao, các em chưa chú trọng nhiều đến việc học. Tại trường tôi đang công tác hiện nay, chương trình Tiếng Anh đã được giảng dạy từ nhiều năm. Bản thân tôi đều được dạy các khối 3, 4, 5, vì vậy tôi thấy rõ những ưu điểm và hạn chế của học sinh mình. Đối với học sinh lớp 4 và 5 các em rất tự tin và tích cực phát biểu trong giờ học. Nhưng học sinh khối 3 thì ngược lại, các em ít tham gia xây dựng bài mặc dù câu hỏi giáo viên đưa ra không hề khó với học sinh. Qua đây chúng ta thấy rằng vẫn còn một bộ phận học sinh thiếu tự tin và rụt rè trong giao tiếp. Mặt khác do các em mới bắt đầu được học Tiếng Anh nên còn nhiều bỡ ngỡ dù rằng các em cũng rất yêu thích môn học này. Khi chưa áp dụng những biện pháp trong sáng kiến này, kết quả khảo sát đầu 6/25
  5. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” năm môn Tiếng Anh của học sinh khối 3 năm học 2017- 2018 tại trường tôi về các mặt như sau: Kết quả Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Kĩ năng nghe 21% 76% 3% Kĩ năng nói 32% 65% 3% Kĩ năng đọc 36% 64% 0% Kĩ năng viết 28% 61% 1% IV. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN Trước tiên người thầy muốn dạy tốt và muốn đạt kết quả cao trong việc dạy học thì việc hiểu rõ đặc điểm tâm lý của học sinh là rất quan trọng. Là một giáo viên tâm huyết trong nghề giảng dạy tôi thấy vấn đề này rất cần sự quan tâm đúng mức hơn của các thầy cô, các bậc phụ huynh và các cấp giáo dục. Riêng bản thân cá nhân tôi, để đóng góp tích cực cho việc giảng dạy môn tiếng Anh tiểu học thiết nghĩ cần có một số đổi mới trong phương pháp dạy- học cho phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý của các con nhằm nâng cao chất lương môn học. Từ việc nắm vững và hiểu rõ tâm lý học sinh, tôi đã đưa ra được những phương pháp dạy học phù hợp nhằm giúp học sinh chủ động, tích cực và hứng thú với việc học Tiếng Anh 1. Phương pháp TPR (Total Physical Response - Vận động toàn thân) Tiến sỹ James J. Asher cha đẻ của phương pháp TPR đã nghiên cứu và phát triển TPR trong hơn 50 năm và nó được mệnh danh là phương pháp học ngoại ngữ ưu việt nhất hiện nay. Bậc Tiểu học ( Từ 6-10 tuổi) là bậc học đầu tiên trẻ được tiếp cận chính thức với việc học Tiếng Anh – ngôn ngữ thứ hai. Học điều mới luôn được trẻ đón nhận một cách thích thú. Nhiệm vụ của người giáo viên là làm sao cho những thích thú ban đầu đó luôn kéo dài và chuyển thành hứng thú. Trẻ yêu thích Tiếng Anh sẽ là nền tảng vững chắc để học tốt ngôn ngữ này. 7/25
  6. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” Để làm được điều này chúng ta cần hiểu rõ về đặc trưng tâm lí trẻ: 1. Trẻ cảm thụ ngôn ngữ thông qua nghe. 2. Học thông qua việc làm và chơi. 3. Trẻ thích học ngôn ngữ thành tiếng, thích bắt chước và tạo ra những tiếng động, âm thanh buồn cười. 4. Trẻ không có lí do để học Tiếng Anh. 5. Trẻ rất dễ hào hứng nhưng cũng rất dễ chán nếu một hoạt động bị lặp đi lặp lại nhiều lần. 6. Trẻ có thể học từ những kinh nghiệm và những hoạt động trực tiếp. Ví dụ 1: Trong phần khởi động bài khi cho các em hát bài “The way we go to school” : Giáo viên nên cho học sinh đứng dậy thay vì chỉ ngồi im tại chỗ, học sinh vừa hát vừa làm động tác đi bộ, đi xe đạp các em rất hứng thú và hào hứng bước vào bài học mới. Hơn nữa còn kích thích được sự sáng tạo của các em và góp phần làm cho giờ học thêm ấn tượng để từ đó các em ghi nhớ bài sâu hơn. 8/25
  7. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” Ví dụ 2: Trong Unit 18: Khi dạy các từ chỉ các hoạt động như: read cook dance play the piano Giáo viên vừa phát âm các từ vừa minh họa động tác - Học sinh nhìn, lắng nghe. Tiếp đó học sinh nghe, làm theo và nhắc lại. Tiếp theo giáo viên thực hiện hành động - học sinh phát âm từ. Tiếp theo giáo viên đọc to từ - học sinh thực hiện hành động. Quá trình trên sẽ giúp học sinh nhớ từ mới rất nhanh và sâu cho dù giáo viên không cần dùng một từ Tiếng Việt nào. TPR có thể dùng hiệu quả trong rất nhiều bài học ví dụ như khi dạy các từ: dog cat rabbit 9/25
  8. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” hay khi dạy minh họa các từ chỉ thời tiết: cloud sunny rainy windy hoặc các câu mệnh lệnh. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy giáo viên nên áp dụng phương pháp TPR càng nhiều càng tốt bởi vì các em luôn thấy hào hứng và thoải mái. Điều này giúp các em tiếp thu bài học một cách tự nhiên và hiệu quả. 2. Sử dụng các đồ dùng trực quan Theo tôi tất cả các phương tiện dạy học như máy vi tính, đĩa CD, máy chiếu và các phương tiện trực quan như tranh, ảnh, đồ vật thật... đều có thể gây hứng thú và tạo sự chú ý đặc biệt cho học sinh trong học tập. Giáo viên có thể sử dụng đồ dùng trực quan trong suốt quá trình dạy học, từ lúc giới thiệu ngữ liệu đến lúc thực hành. Bởi lẽ các phương tiện đó giúp học sinh ghi nhớ một các nhanh chóng và vững chắc những kiến thức, kĩ năng. Giáo cụ trực quan rất đa dạng, nêú biết khai thác sẽ trở nên rất đơn giản, dễ chuẩn bị nhưng lại có hiệu quả cao. Với các chủ đề gần gũi với cuộc sống thường ngày của sách giáo khoa Tiếng Anh 3, giáo viên có thể giới thiệu từ mới hay tình huống thông qua các phương tiện trực quan như hình ảnh hay đồ vật thật. 10/25
  9. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” Ví dụ 1: Khi dạy Unit 8, để dạy các từ như: a rubber: một cái tẩy a schoolbag: cái cặp sách a ruler: một cái thước a pencil: một cái bút chì Giáo viên có thể chỉ vào các đồ vật thật có ở trong lớp và giới thiệu: “This is my book”. Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào đồ vật và đoán nghĩa của từ. Phương pháp này cho các em hứng thú học tập và sự tập trung cao vì các từ giáo viên giới thiệu là những đồ vật rất gần gũi với các em hằng ngày và dễ đoán nghĩa đối với các em. 11/25
  10. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” Qua đó GV dạy cấu trúc câu: “This is my book” để học sinh thực hành nói sẽ dễ dàng hơn và HS sẽ nhớ câu và từ được lâu hơn. Bên cạnh những đồ vật, bản thân của người giáo viên cũng là “một đồ dùng trực quan”, người giáo viên còn là một diễn viên, có thể dùng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt hay hành động của mình để minh hoạ tình huống, trình bày nghĩa của từ, nhóm từ. Ví dụ 2: Khi dạy Unit 12 để dạy các từ như: living room bathroom kitchen bedroom dining room 12/25
  11. “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 3 trong môn tiếng Anh” Không phải lúc nào cũng có thể sử dụng đồ vật thật ở trường nên giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh để thay thế. Trong bộ sách Tiếng Anh 3 hình ảnh đưa ra để giới thiệu rất đẹp và sống động rất giống với hình ảnh thật trong cuộc sống. Vì vậy, trong khi giảng dạy giáo viên không những chỉ biết khai thác và sử dụng một cách tối đa mà còn phải sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Đây là cách dạy nhẹ nhàng nhưng đem lại hiệu quả rất cao phù hợp với đối tượng học sinh tiểu học. Ngoài việc sử dụng các đồ dùng trực quan để giới thiệu từ mới, chủ đề hay tình huống của bài, giáo viên có thể sử dụng chúng để củng cố bài học, tổ chức trò chơi nhằm giúp cho học sinh khắc sâu kiến thức. Qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi thấy các giáo cụ trực quan luôn làm giờ học sôi nổi, đạt hiệu quả cao và gây hứng thú đối với học sinh trong giờ học. 3. Sử dụng các trò chơi trong giảng dạy “ Đối với trẻ em, mọi chỗ đều là chỗ chơi, mọi giờ đều là giờ chơi, mọi thứ đều là đồ chơi và mọi người đều là bạn chơi” Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác tích cực. Giúp học sinh rèn luyện, củng cố kiến thức đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm được tính lũy qua hoạt động chơi. Trò chơi học tập rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ, nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình dạy học trở thành một hoạt động vui mà hấp dẫn hơn, cơ hội học tập đa dạng hơn. Ví dụ 1: Để củng cố vốn từ vựng đã học trong giáo viên có thể sử dụng trò chơi “Board race - chạy đua lên bảng” Cách chơi: Chia học sinh thành 2 đội mỗi đội khoảng tám học sinh đứng xếp thành từng hàng. Giáo viên yêu cầu mỗi đội lên bảng viết các từ vựng chỉ đồ dùng học tập đã học. Mỗi lượt lên bảng mỗi đội chỉ được phép một người, khi người đứng trước lên viết xong một từ và chạy về cuối hàng thì người kế tiếp chạy lên bảng viết thêm từ, đội nào viết được nhiều từ đúng và nhanh hơn sẽ thắng. 13/25