Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tìm hiểu thế giới sống cho học sinh THPT
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tìm hiểu thế giới sống cho học sinh THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nham_phat_trien_nang.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tìm hiểu thế giới sống cho học sinh.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tìm hiểu thế giới sống cho học sinh THPT
- 4 câu hỏi, thu thập dữ liệu để trả lời cho câu hỏi và trình bày câu trả lời cho câu hỏi đĩ. Tác giả Vũ Cao Đàm (2003) cho rằng nghiên cứu khoa học là sự phát triển bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc là sáng tạo phương pháp mới, phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ mục tiêu hoạt động của con người. Theo tác giả Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội (2016), phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức nghiên cứu dưới gĩc độ lý thuyết hoặc thực nghiệm một hiện tượng hay quá trình nào đấy, là con đường dẫn các nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo. Về phương pháp nghiên cứu khoa học, tác giả Vũ Cao Đàm (2003) cho rằng, là phương pháp nhận thức thế giới bao gồm những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các động tác cụ thể để tác động vào đối tượng, để bộc lộ bản chất. Cũng theo tác giả, quy trình nghiên cứu khoa học được thực hiện qua các bước sau đây: Bước 1: Quan sát sự vật, hiện tượng và xác định vấn đề cần nghiên cứu. Bước 2: Thiết lập giả thuyết hoặc dự đốn về vấn đề nghiên cứu. Bước 3: Thu thập và xử lý thơng tin cần nghiên cứu. Bước 4: Kết luận xác nhận hay phủ nhận giả thuyết về vấn đề nghiên cứu. Một số tác giả lại cho rằng, phương pháp nghiên cứu khoa học nĩi chung là một trình tự gồm sáu bước. Các bước cơ bản là: - Đặt vấn đề, mục đích, hoặc câu hỏi nghiên cứu: Đặt vấn đề hay câu hỏi nghiên cứu là phần quan trọng nhất của phương pháp nghiên cứu khoa học. Các câu hỏi nghiên cứu đơi khi được hình thành như là một tuyên bố và được gọi là “vấn đề” hoặc “báo cáo vấn đề” mục tiêu hay những ý tưởng mà người nghiên cứu đang kiểm chứng là gì?. Câu hỏi khoa học mà người nghiên cứu đang tìm câu trả lời là gì? - Những giả định cần được chỉ ra: Giả định là một dạng dự báo, như một định hướng để đưa đến câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. - Danh mục tài liệu cần cĩ làm điều tra cơ bản cho nghiên cứu: Danh sách tất cả các tư liệu được sử dụng trong nghiên cứu.
- 5 - Trình tự tiến hành: Là mơ tả chi tiết, từng bước về cách người nghiên cứu thực hiện để thu được kết quả cuối cùng nhằm chứng minh hay bác bỏ giả thuyết đã nêu. - Tầm quan sát, dữ liệu, kết quả: Các kết quả thường là dưới hình thức một tuyên bố để giải thích hoặc diễn giải dữ liệu. Kết quả thu được ở dạng dữ liệu thơ, đồ thị, kết luận rút ra từ những dữ liệu đã cĩ. - Kết luận: Là một bản tĩm tắt các nghiên cứu và các kết quả của nghiên cứu. Đây chính là câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. Theo tác giả Phan Thị Thanh Hội, Nguyễn Thị Phương Thúy (2014), quy trình nghiên cứu khoa học gồm các bước: Quan sát và xác định vấn đề nghiên cứu; Đặt câu hỏi nêu vấn đề; Nêu giả thuyết nghiên cứu; Nghiên cứu tài liệu; Thiết kế thí nghiệm; Kết luận về vấn đề nghiên cứu; Viết báo cáo và thuyết trình. Marzano (2011) cho rằng giải pháp để rèn kĩ năng xây dựng và kiểm nghiệm các giả thuyết là cho học sinh tham gia vào những bài tập nghiên cứu. Theo tác giả, để tăng hiệu quả của giải pháp này thì giáo viên nên đặt cho học sinh những câu hỏi như: “Điều gì xảy ra nếu ”. Ở Việt Nam, việc dạy phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh đã được đưa vào nội dung tài liệu “Hướng dẫn học khoa học tự nhiên” ở cấp Trung học cơ sở của các khối lớp 6, 7, 8. Những kĩ năng cơ bản trong nghiên cứu khoa học như: đặt câu hỏi nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu, thu thập và xử lí kết quả, rút ra kết luận đã được đưa vào chương trình giảng dạy thử nghiệm cho học sinh cấp Trung học cơ sở ở một số địa phương. 2. Năng lực Tổng quan tài liệu đã cho thấy cĩ nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Tuy nhiên, khái quát chung cĩ thể thấy rằng khái niệm năng lực được tiếp cận theo 3 gĩc độ chính: tâm lý, cấu trúc và nguồn gốc hình thành. Một số tác giả đã cho rằng năng lực là một đặc điểm tâm lý của con người. Theo Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng, 2008) thì năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đĩng vai trị là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.
- 6 Theo Rudich, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định (dẫn theo Vũ Xuân Hùng, 2011). Phạm Minh Hạc (1992) đưa ra định nghĩa: “Năng lực chính là một tổ hợp các đặc điểm tâm lý của một con người (cịn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”. Nhĩm thứ hai dựa vào thành phần cấu trúc của năng lực để định nghĩa. Trong các văn bản chương trình giáo dục của Phần Lan, năng lực được hiểu là các tiềm năng cĩ thể cịn kĩ năng là những thao tác hành động bằng cơ bắp hay bằng tư duy được bộc lộ ra ngồi (dẫn theo Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội, 2016) . Theo De Ketele (1995), năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên một nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra (dẫn theo Xavier Roegiers, 1996). Xavier Roegiers (1996) cho rằng năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra. Như vậy, theo các cách định nghĩa này thì năng lực gồm 3 thành tố cơ bản, đĩ là: kĩ năng, nội dung và tình huống. Theo Denyse Tremblay (2002), năng lực là khả năng hành động đạt được thành cơng và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 1999) thì năng lực là khả năng đủ để thực hiện tốt một cơng việc. Năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát triển cho phép một con người đạt thành cơng trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp, theo Từ điển Giáo dục học (Bùi Hiền, 2013). Nguyễn Văn Cường, Bernd Mier (2016) cho rằng khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động. Năng lực hành động là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần cơ bản sau: năng lực cá thể; năng lực xã hội; năng lực chuyên mơn; năng lực phương pháp. Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Cơng Khanh (2013) cho rằng năng lực cĩ cấu trúc phức tạp, song những thành tố cơ bản của nĩ chỉ gồm: tri thức, kĩ năng, thái độ và tình cảm.
- 7 Theo Ngơ Văn Hưng (2012), năng lực là khả năng thực hiện cĩ hiệu quả và cĩ trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Như vậy, theo tác giả, năng lực là một cấu trúc trong đĩ cĩ nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Ngồi ra cách định nghĩa năng lực cịn dựa vào nguồn gốc hình thành nên năng lực. Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành cơng nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002). Theo Weinert (2001), năng lực là những khả năng nhận thức và kĩ năng vốn cĩ hoặc học được của cá thể nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, ý chí, ý thức xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề trong những tình huống thay đổi một cách thành cơng và cĩ trách nhiệm. Theo Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2016), năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Nguyễn Quang Uẩn (2003) cho rằng năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đĩ cĩ kết quả. Theo Nguyễn Cơng Khanh (2013), năng lực của học sinh phổ thơng là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành cơng nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống. Cũng theo tác giả, năng lực gồm kiến thức, kĩ năng, niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của học sinh. Tác giả đã đề xuất phân loại năng lực thành 2 nhĩm: nhĩm năng lực nhận thức và nhĩm phi nhận thức. Về năng lực đặc thù mơn Sinh học, tác giả Phan Thị Thanh Hội, Trần Khánh Ngọc (2014) cho rằng ở trường phổ thơng, các năng lực chuyên ngành Sinh học mà học sinh cần đạt được đĩ là: năng lực kiến thức Sinh học; năng lực nghiên cứu khoa học (Năng lực quan sát, năng lực thực nghiệm) và năng lực thực hiện trong phịng thí nghiệm. Như vậy, theo quan điểm phân loại của các tác giả trên thì năng lực nghiên cứu khoa học là một loại năng lực chuyên biệt của người học.
- 8 Về khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học, cũng cĩ nhiều định nghĩa và quan niệm đề cập đến. Theo Chương trình đánh giá học sinh Quốc tế (Programme for international Student Assessment, được viết tắt là PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development, được viết tắt là OECD) cho rằng năng lực nghiên cứu khoa học là một thành tố của năng lực khoa học. Theo PISA (2015), năng lực khoa học được thể hiện qua việc học sinh cĩ kiến thức khoa học và sử dụng kiến thức để nhận ra được các vấn đề khoa học, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận trên cơ sở chứng cứ về các vấn đề liên quan tới khoa học và việc đánh giá năng lực khoa học liên quan tới kiến thức, thái độ và liên quan tới bối cảnh. Mưller và cộng sự (2008) cho rằng năng lực nghiên cứu khoa học gồm 4 kĩ năng: tạo câu hỏi, đưa giả thuyết, lên kế hoạch tìm hiểu và giải thích số liệu. Các tác giả đã tiến hành một nghiên cứu nhằm đánh giá kĩ năng nghiên cứu của học sinh từ lớp 5 đến lớp 10 (10 đến 16 tuổi) trong một học kỳ. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khả năng nghiên cứu khoa học ở học sinh lớp 5 đến 8 tăng nhiều hơn so với lớp 9 và lớp 10. Cĩ thể bởi các học sinh lớp lớn đã bị ảnh hưởng bởi những phương pháp dạy cũ, khơng dựa trên sự khám phá hoặc do chương trình học quá nặng. Trong các kĩ năng nghiên cứu khoa học, kĩ năng tạo câu hỏi, đưa giả thuyết và lên kế hoạch tìm hiểu cĩ mức độ phát triển khá nhanh. Khả năng nghiên cứu của học sinh ở các loại trường tốp đầu được tăng lên rõ rệt, trong khi đĩ ở những trường thuộc tốp cuối thì khơng được cải thiện nhiều. Từ kết quả nghiên cứu trên, các tác giả cũng đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của học sinh là phải tạo ra mơi trường học tập cĩ thể khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình nghiên cứu khoa học. Wenning (2005), đã đưa ra tổ hợp các kĩ năng của nghiên cứu. Bao gồm: Xác định một vấn đề để nghiên cứu; Sử dụng quy nạp, xây dựng một giả thuyết hay mơ hình kết hợp lơgic và bằng chứng; Sử dụng suy luận, tạo ra một dự đốn từ giả thuyết hoặc mơ hình; Thiết kế quy trình thực nghiệm để kiểm tra dự đốn; Tiến hành một thí nghiệm khoa học, quan sát hay mơ phỏng để kiểm tra giả thuyết hoặc mơ hình; Thu thập dữ liệu cĩ ý nghĩa, sắp xếp và phân tích dữ liệu chính xác; Áp dụng các phương pháp tính tốn và thống kê số liệu số để tiếp cận và hỗ trợ kết luận; Giải thích kết quả.
- 9 Theo một số tác giả như Mưller, Grube, & Mayer, 2008; Mưller, Grube, Hartmann, & Mayer, 2009 thì năng lực nghiên cứu khoa học gồm một số kĩ năng: đặt câu hỏi, hình thành giả thuyết, xây dựng kế hoạch điều tra và xử lí số liệu. Về năng lực nghiên cứu khoa học, theo Šeberová, đĩ là một hệ thống mở và khơng ngừng phát triển, bao gồm các kiến thức trong lĩnh vực nghiên cứu, các thái độ và sự sẵn sàng của cá nhân cho phép giáo viên thực hiện một nghiên cứu giáo dục trong khuơn khổ hoạt động nghề nghiệp của họ. Theo quan điểm của chúng tơi, nghiên cứu khoa học trong dạy học để tìm tri thức mới với nghiên cứu khoa học trong cuộc thi sáng tạo khoa học kĩ thuật là những hoạt động để tìm tịi, triển khai cách giải quyết để đạt mục đích và mục tiêu nghiên cứu. Tuy nhiên, đối với cuộc thi sáng tạo khoa học kĩ thuật thì sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học cĩ giá trị về mặt lý luận và thực tiễn cho nhân loại. Nghiên cứu khoa học trong dạy học thì sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học là việc lĩnh hội những tri thức của nhân loại đã được đúc kết trong chương trình. Những tri thức mà học sinh lĩnh hội được là mới so với chính chủ thể nhận thức. Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu khoa học người học cịn rèn luyện các kĩ năng để tìm ra những tri thức đĩ. Cũng như mọi năng lực khác, năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm 3 thành tố chủ yếu: kiến thức, kĩ năng và thái độ. - Kiến thức (các sự kiện khoa học; các khái niệm, quy luật và nguyên lí khoa học; ứng dụng, các phương pháp nghiên cứu khoa học; ) - Kĩ năng tìm tịi khoa học như quan sát, đo đạc, sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, nhận biết được vấn đề; nêu câu hỏi; giả thuyết/dự đốn; thiết kế phương án tìm tịi; thu thập và phân tích số liệu, giải thích kết quả thí nghiệm; phân tích, suy luận để rút ra kết luận (kiến thức mới); kĩ năng vận dụng kiến thức khoa học để mơ tả, giải thích sự vật hiện tượng; - Thái độ và hứng thú: Thái độ yêu thích khoa học, đánh giá được về vai trị của khoa học; suy nghĩ và hành động một cách khoa học (cẩn thận, trung thực, khách quan, ..); sẵn sàng vận dụng kiến thức khoa học vào trong cuộc sống. Theo Thơng tư 32 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năng lực tìm hiểu thế giới sống gồm những biểu hiện sau:
- 10 - Đề xuất vấn đề liên quan đến thế giới sống: đặt ra được các câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất vấn đề; dùng ngơn ngữ của mình biểu đạt được vấn đề đã đề xuất. - Đưa ra phán đốn và xây dựng giả thuyết: phân tích được vấn đề để nêu được phán đốn; xây dựng và phát biểu được giả thuyết nghiên cứu. - Lập kế hoạch thực hiện: xây dựng được khung logic nội dung nghiên cứu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, hồi cứu tư liệu,...); lập được kế hoạch triển khai hoạt động nghiên cứu. - Thực hiện kế hoạch: thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết, giải thích, rút ra kết luận và điều chỉnh (nếu cần); đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả nghiên cứu hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp. - Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: sử dụng được ngơn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt quá trình và kết quả nghiên cứu; viết được báo cáo nghiên cứu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ lắng nghe tích cực và tơn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ kết quả nghiên cứu một cách thuyết phục. Dựa vào tổng quan tài liệu chúng tơi nhận thấy những thành tố cấu thành nên năng lực nghiên cứu khoa học trong Sinh học cũng chính là những thành tố của năng lực tìm hiểu thế giới sống – một trong những năng lực đặc thù Sinh học cần phải được phát triển cho học sinh THPT trong chương trình giáo dục phổ thơng 2018. Tuy vậy, những nghiên cứu về năng lực này cịn ít, đặc biệt chưa cĩ nhiều nghiên cứu về năng lực này trên đối tượng học sinh THPT ở Việt Nam cho tới thời điểm này. Qua nghiên cứu tổng quan về năng lực nĩi chung và năng lực tìm hiểu thế giới sống nĩi riêng, chúng tơi đề xuất các kĩ năng thành phần của năng lực tìm hiểu thế giới sống của học sinh phổ thơng gồm: đặt câu hỏi nghiên cứu, hình thành giả thuyết, lập kế hoạch và thực hiện, xử lí kết quả và rút ra kết luận, viết báo cáo. Những biểu hiện hành vi của mỗi kĩ năng được chúng tơi thể hiện ở bảng 1. Bảng 1. Những biểu hiện của từng kĩ năng cấu thành nên năng lực tìm hiểu thế giới sống
- 11 Các kĩ năng thành phần Biểu hiện của kĩ năng Là khả năng người học đưa ra câu hỏi giả định cĩ Đặt câu hỏi nghiên cứu giá trị về bản chất sự vật. Là khả năng người học đưa ra nhận định sơ bộ, một Hình thành giả thuyết dự đốn về bản chất của đối tượng nghiên cứu. Là khả năng người học đưa ra dự kiến triển khai đề tài khoa học về tất cả phương diện như: Những nội Lập kế hoạch nghiên cứu dung cần thực hiện, phương pháp thực hiện mỗi nội dung, thứ tự thực hiện cơng việc, dự kiến thời gian hồn thành một cơng việc cụ thể. Là khả năng người học thu thập dữ liệu, phân tích, suy luận hoặc tiến hành thiết kế mơ hình, thử Thực hiện kế hoạch nghiệm, điều chỉnh để chứng minh cho giả thuyết khoa học. Là khả năng người học xử lý được các dữ liệu nghiên cứu thu được, trình bày được mối quan hệ giữa các dữ liệu, phân tích mối quan hệ nhân quả để Xử lí kết quả và rút ra kết luận rút ra tính quy luật, giải thích và tổng hợp các mơ hình trong dữ liệu bằng cách sử dụng các khái niệm khoa học chuyên sâu, đưa ra những kết luận cĩ giá trị từ kết quả nghiên cứu thu được. Là khả năng người học tổng kết lại tồn bộ quá trình học tập, nghiên cứu của mình theo trình tự xác định. Trình tự các hoạt động đĩ là lí do chọn đề tài Viết báo cáo khoa học, mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, thời gian thực hiện, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và những kết luận cần rút ra. B. CƠ SỞ THỰC TIỄN Để cĩ cơ sở thực tiễn cho sáng kiến, chúng tơi đã xây dựng các phiếu điều tra cho giáo viên Sinh học THPT của tỉnh Nam Định năm học 2021-2022 và 2022- 2023 (xem Phụ lục 1) và năng lực tìm hiểu thế giới sống của học sinh thơng qua kết quả điểm kiểm tra. Dựa trên các nội dung cần điều tra và tiến hành điều tra để thu thập kết quả. Chúng tơi tiến hành điều tra về: 1. Nhận thức của giáo viên về vai trị của việc rèn năng lực năng lực tìm hiểu thế giới sống trong dạy và học bộ mơn Sinh học ở trường phổ thơng
- 12 Kết quả xử lý câu hỏi điều tra nhận thức của giáo viên về vai trị của việc rèn năng lực nghiên cứu khoa học Sinh học (năng lực tìm hiểu thế giới sống) trong dạy và học bộ mơn Sinh học ở trường phổ thơng được chúng tơi thể hiện ở bảng 2 dưới đây: Bảng 2. Kết quả điều tra nhận thức giáo viên về vai trị của việc rèn năng lực tìm hiểu thế giới sống trong dạy và học bộ mơn Sinh học ở trường phổ thơng Nội dung điều tra Số lượng Tỉ lệ Vai trị của việc rèn luyện năng Rất cần thiết 91 91,1% lực tìm hiểu thế giới sống trong Cần thiết 8 8,2% dạy và học bộ mơn Sinh học ở Bình thường 0 0,0% trường phổ thơng Khơng cần thiết 0 0,0% Tổng 99 100% Kết quả ở bảng 1 cho thấy, đa số giáo viên đều đánh giá cao vai trị của việc rèn năng lực tìm hiểu thế giới sống trong dạy và học mơn Sinh học ở trường phổ thơng (với 100% giáo viên) trong đĩ cĩ 91,9% giáo viên đánh giá vai trị ở mức rất cần thiết của việc rèn năng lực này; 8,1% giáo viên cho rằng việc rèn luyện năng lực này cho học sinh THPT là cần thiết và khơng cĩ giáo viên được điều tra đánh giá thấp việc rèn năng lực tìm hiểu thế giới sống cho học sinh THPT. 2. Thực trạng rèn năng lực tìm hiểu thế giới sống ở trường phổ thơng Để đánh giá việc cụ thể hĩa nhận thức về vai trị của việc rèn năng lực tìm hiểu thế giới sống trong thực tiễn dạy học bộ mơn Sinh học ở trường phổ thơng, chúng tơi thiết kế câu hỏi và tiến hành điều tra về thực trạng rèn năng lực tìm hiểu thế giới sống ở trường phổ thơng, xử lý số liệu thu được kết quả như sau: Bảng 3. Kết quả điều tra thực trạng rèn năng lực tìm hiểu thế giới sống trong dạy học Sinh học ở trường phổ thơng Nội dung điều tra Số lượng Tỉ lệ Mức độ rèn năng lực tìm hiểu Thường xuyên 04 4,04% thế giới sống trong dạy học Thỉnh thoảng 95 95,96% bộ mơn Sinh học Khơng tiến hành 0 0,0% Tổng 99 100%
- 13 Số liệu ở bảng 3 cho thấy mức độ rèn năng lực này trong dạy học Sinh học ở trường phổ thơng của giáo viên đạt mức rất thấp (chiếm 4,04%). Số lượng giáo viên thỉnh thoảng rèn luyện năng lực cho học sinh trong dạy học vẫn cịn chiếm tỉ lệ khá cao 95,96%. Từ kết quả trên, chúng tơi thấy rằng giáo viên nhận thức rõ về vai trị của việc rèn luyện năng lực tìm hiểu thế giới sống trong dạy học Sinh học ở trường phổ thơng. Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học, mức độ rèn năng lực này cho học sinh một cách thường xuyên là rất thấp. 3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến việc rèn luyện năng lực tìm hiểu thế giới sống của giáo viên trong dạy học Sinh học ở trường phổ thơng Để tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên, chúng tơi tiến hành thiết kế câu hỏi tìm hiểu một số khĩ khăn ảnh đến việc rèn năng lực này cho học sinh của giáo viên, kết quả chúng tơi thu được như sau: Bảng 4. Kết quả điều tra nguyên nhân ảnh hưởng đến việc rèn luyện năng lực tìm hiểu thế giới sống của giáo viên trong dạy học Sinh học ở trường phổ thơng Kết quả điều tra giáo viên Nội dung điều tra Số lượng Tỉ lệ Hiểu biết về năng lực Chưa biết 0 0% tìm hiểu thế giới Biết nhưng chưa hiểu 02 9,1% sống và cách rèn Đã hiểu nhưng chưa biết luyện năng lực này 20 90,9% cách rèn luyện cho học sinh Tổng 22 100% Số liệu bảng 4 cho thấy nguyên nhân dẫn đến thực trạng giáo viên thỉnh thoảng rèn luyện năng lực này cho học sinh trong dạy học Sinh học ở trường phổ thơng chủ yếu là do giáo viên chưa biết cách rèn luyện năng lực này cho học sinh. 4. Mức độ về năng lực tìm hiểu thế giới sống của học sinh THPT Chúng tơi đã sử dụng bài kiểm tra trắc nghiệm (Thí nghiệm của Louis Pasteur) để đánh giá từng kĩ năng thành phần của năng lực tìm hiểu thế giới sống của học sinh 2 lớp chuyên Tốn và Tin của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định trước khi tiến hành thực nghiệm với tổng số học sinh là 105 (Kết quả thu được thể hiện ở bảng 5.
- 14 Bảng 5. Kết quả điều tra năng lực tìm hiểu thế giới sống của học sinh THPT STT Kĩ năng của năng lực tìm hiểu thế giới Kết quả điểm trung bình sống (thang điểm 10,0)/1kĩ năng 1 Kĩ năng đặt câu hỏi nghiên cứu 4,0 2 Hình thành giả thuyết 3,6 3 Lập kế hoạch và thực hiện 4,1 4 Xử lí kết quả và rút ra kết luận 5,5 5 Viết báo cáo 6,0 Mặc dù số lượng học sinh được kiểm tra chưa nhiều nhưng cĩ thể rút ra những nhận định sơ bộ như sau: Việc rèn năng lực tìm hiểu thế giới sống của học sinh trường THPT cần được quan tâm hơn trong dạy học. Trong 5 kĩ năng thành phần của năng lực này, chỉ cĩ 2 kĩ năng đạt mức trung bình, đĩ là kĩ năng xử lí kết quả và rút ra kết luận và kĩ năng viết báo cáo. 5. Tâm lí của học sinh THPT Học sinh trung học phổ thơng ở lứa tuổi 16-18 đang ở giai đoạn phát triển cả về thể chất và tâm hồn cĩ khả năng tự ý thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh trong hoạt động học tập; tri giác cĩ chủ định chiếm ưu thế, năng lực ghi nhớ tăng lên rõ rệt, sự tập trung chú ý cao hơn và cĩ khả năng di chuyển, chú ý tốt: hoạt động học tập dần dần hướng vào thoả mãn nhu cầu nhận thức, . Mặt khác, do tiếp xúc với nhiều mơn học, nhiều phương pháp dạy học của các thầy cơ nên địi hỏi các em phải cĩ những biến chuyển lớn về năng lực quan sát, ghi nhớ, tư duy lơgic, tính độc lập, kiên trì, tư duy phê phán, . Từ những thực trạng điều tra trên, chúng tơi nhận định rằng việc phát triển năng lực tìm hiểu thế giới sống cho học sinh THPT là phù hợp với tâm lý và phát triển trí tuệ của các em; đồng thời việc bồi dưỡng cho giáo viên THPT về các biện pháp rèn luyện năng lực tìm hiểu thế giới sống trong dạy học Sinh học ở trường THPT là một giải pháp cĩ hiệu quả nhằm khắc phục một số khĩ khăn trong thực tiễn dạy học bộ mơn Sinh học ở trường phổ thơng hiện nay, từ đĩ gĩp phần nâng cao chất lượng rèn luyện năng lực tìm hiểu thế giới sống cho học sinh.

