Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán Lớp 5
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_tro.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán Lớp 5
- triển trí tuệ, trí thông minh cho học sinh. Để có được điều đó, các em phải tích cực học tập biểu hiện ở chỗ: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề giáo viên nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích những vấn đề chưa rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào những vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn. Trong khi đó, học sinh tiểu học vốn ưa hoạt động, khả năng tập trung chú ý chưa cao, các em thường chỉ chú ý tới những vấn đề mới lạ, hấp dẫn. Mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh không đồng đều. Trong một lớp học có nhiều đối tượng học sinh, nhu cầu hứng thú học tập của các em là khác nhau. Vì vậy làm thế nào để thu hút tất cả các em đều chú ý tập trung trong giờ học, tích cực hoạt động để lĩnh hội kiến thức là điều mà giáo viên cần quan tâm. Với những băn khoăn đó, tôi đã mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu và tìm ra “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán lớp 5”. 1.2. Mục đích nghiên cứu. Xây dựng và áp dụng một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán lớp 5. 1.3. Đối tượng nghiên cứu. - Giáo viên dạy toán và học sinh lớp 5 của nhà trường. - Các giải pháp nâng cao chất lượng trong giảng dạy môn Toán lớp 5. 1.4. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc tài liệu, giáo trình có liên quan đến các vấn đề cần nghiên cứu. Nghiên cứu sách giáo khoa, sách bài tập và các tài liệu khác. - Phương pháp điều tra: + Trao đổi với giáo viên về những khó khăn, thuận lợi khi dạy toán lớp 5. + Tiếp cận, trò chuyện với học sinh về những hứng thú, khó khăn khi học toán. + Dự giờ để đánh giá thực trạng việc dạy và học ở lớp 5 để đề xuất giải pháp khắc phục. - Phương pháp thực nghiệm: Để kiểm tra tính khả thi của những vấn đề đã được nghiên cứu. - Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm. - Phương pháp thống kê toán học: Thu thập, xử lí, đánh giá số liệu 1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm. Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở tiểu học theo phương hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, tăng cường hoạt động cá thể phối hợp với học tập giao lưu. Hình thành và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. 3
- Góp phần giúp học sinh hứng thú học tập môn Toán. Đó là một môn học được coi là khô khan và khó khăn. Do đó việc đưa ra những câu đố, trò chơi toán học nhằm giúp các em học mà chơi, chơi mà học. Đặc biệt trò chơi toán học không những giúp các em lĩnh hội được tri thức mà nó còn giúp các em củng cố và khắc sâu các tri thức đó. Tôi chọn đề tài nghiên cứu này nhằm giúp học sinh nắm kiến thức môn Toán ngày càng vững vàng hơn, hăng say trong các giờ học toán, nâng cao chất lượng giảng dạy và làm nền tảng vững chắc cho các lớp trên. Điểm mới trong việc nghiên cứu và áp dụng đề tài này là tạo dựng được lòng say mê và thích học toán, sự chủ động, tích cực của học sinh và các trò chơi dạy học toán phù hợp với đối tượng học sinh của lớp qua từng dạng bài, một sáng kiến mang tính mới mẻ mà từ trước tới nay ít được vận dụng hoặc có vận dụng thì cũng đang dừng lại mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại hiệu quả cao. 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận. Môn Toán lớp 5 là một môn học luyện tập, thực hành nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực học toán cho học sinh. Năng lực của học sinh qua các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng sau: - Về số và phép tính: + Bổ sung những hiểu biết cần thiết về phân số thập phân, hỗn số để chuẩn bị học số thập phân. + Ôn tập củng cố, hệ thống hoá những kiến thức và kĩ năng cơ bản về số và phép tính với số tự nhiên, phân số và số thập phân. - Về đo lường: + Biết tên gọi, kí hiệu, quan hệ giữa một đơn vị đo diện tích, thể tích thông dụng. + Biết viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích, thời gian dưới dạng số thập phân. - Về hình học: + Nhận biết được hình thang, hình hộp chữ nhật, hình lập phương và một số dạng của hình tam giác. + Biết tính chu vi, diện tích hình tam giác, hình thang, hình tròn. + Biết tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương. + Về giải toán có lời văn: Biết giải và trình bày các bài toán có đến bốn bước tính: một số dạng bài toán về quan hệ tỉ lệ; các bài toán về tỉ số phần trăm; các bài toán có nội dung hình học liên quan đến các hình đã học. - Về các yếu tố thống kê. 4
- + Biết đọc các số liệu trên biểu đồ hình quạt. + Bước đầu biết nhận xét về một số thông tin đơn giản thu thập trên biểu đồ. - Về phát triển ngôn ngữ, tư duy và góp phần nhân cách của học sinh. + Biết diễn đạt một số nhận xét, quy tắc, tính chất... bằng ngôn ngữ (nói, viết dưới dạng công thức...) ở dạng khái quát. + Tiếp tục phát triển năng lực phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, cụ thể hoá; bước đầu hình thành và phát triển tư duy phê phán và sáng tạo; phát triển trí tượng không gian... + Tiếp tục rèn luyện các đức tính: chăm học, cẩn thận, tự tin, trung thực, có tinh thần trách nhiệm... góp phần hình thành nhân cách ở học sinh. Các yêu cầu kiến thức, kĩ năng trên được hình thành trong quá trình giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh. Vì thế trong dạy học toán ở tiểu học, phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Cốt lõi của vấn đề là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Muốn vậy trong quá trình hình thành và nâng cao năng lực tự học cho học sinh tiểu học, vai trò của người thầy là rất quan trọng. Người dạy cần hướng dẫn, tổ chức để học sinh xác định được động cơ học tập một cách đúng đắn. Tăng cường các hình thức dạy học nhóm, trao đổi, thảo luận, nêu lên chứng kiến của mình Điều này buộc học sinh phải nghiên cứu tài liệu, phân tích, mổ xẻ các vấn đề trên nhiều khía cạnh khác nhau để có thể tham gia đóng góp, tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình. 2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. - Đối với giáo viên: Chúng ta đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, nhưng vẫn còn giáo viên còn gặp nhiều lúng túng, chủ yếu là giảng giải thuyết trình, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Trong một lớp, năng lực nhận thức của học sinh không đồng đều nhưng giáo viên thường chỉ thiết kế giáo án theo đường thẳng, chung cho mọi đối tượng học sinh. Trên lớp giáo viên chủ động thực hiện một mạch theo các bước đã chuẩn bị, giáo viên chưa vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học mới bằng hình thức giao việc cụ thể cho từng học sinh. Qua dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy một số tiết dạy còn nặng nề, gò bó không lôi cuốn được tất cả học sinh cùng tham gia. Phần đánh giá kết quả học tập giáo viên thường là người độc quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh. Không ít giáo viên chưa chú trọng đúng mức tới việc kích thích trí tò mò, lòng ham hiểu biết của lứa tuổi tiểu học trong giờ học toán. - Đối với học sinh: 5
- Ở cấp Tiểu học một bộ phận các em còn ngại khó, còn thụ động, chủ yếu là nghe giảng, ghi nhớ và làm theo bài mẫu. Chính vì vậy mà kiến thức của các em còn mang tính hời hợt, nhớ không lâu, thiếu sự linh hoạt, sáng tạo và khả năng phân tích của các em còn hạn chế. Năm học 2018-2019, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5A, kết quả khảo sát chất lượng đầu năm như sau: Tổng số Điểm 9 -10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm dưới 5 học sinh SL % SL % SL % SL % 25 4 16 7 28 8 40 6 24 Kết quả trên cho thấy: chất lượng môn Toán của lớp 5A còn thấp, thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu của trường chuẩn quốc gia. Tỉ lệ học sinh điểm dưới 5 còn nhiều. Tôi tiến hành điều tra, tìm hiểu nguyên nhân thì nhận thấy: phần lớn học sinh có tâm lí ngại học toán vì các em cảm thấy khó và nặng nề, sợ mỗi khi gặp dạng toán mới, lúng túng khi gặp bài toán khó, không đủ niềm tin để khẳng định bài toán mình làm đúng hay sai, Trước thực trạng trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu và mạnh dạn tổ chức thực hiện các giải pháp sau đây. 2.3. Các giải pháp thực hiện. Qua thực tế giảng dạy và kinh nghiệm của bản thân, tôi rút ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán lớp 5 cụ thể như sau: 2.3.1. Giải pháp 1: Phân hóa đối tượng, khơi dậy lòng say mê và thích học toán ở học sinh. a. Phân nhóm đối tượng học sinh. Ngay từ đầu năm học, dựa vào kết quả khảo sát và kết hợp dạy học hàng ngày trên lớp, tôi phân loại số học sinh trong lớp thành các nhóm đối tượng như sau: - Nhóm gồm các học sinh có khả năng hoàn thành tốt nội dung học tập: Nguyễn Hà Thảo Ly, Nguyễn Đình Phú, Mai Văn Chính, Hoàng Thị Thúy Nhi, Lê Xuân Hùng, Nguyễn Khắc Sáng. - Nhóm gồm các học sinh hoàn thành nội dung học tập: Lê Thị Ngọc Ánh, Lê Đình Việt Anh, Lê Thị Thủy, Lê Đình Văn, Vũ Thị Hà Vi, Nguyễn Thị Thùy Linh, Lê Thị Thùy Linh, Nguyễn Thị Anh Đào, Nguyễn Đình Đạt, Nguyễn Văn Hùng Dương, Nguyễn Viết Nhật, Lê Văn Sơn, Trịnh Đình Thanh. - Nhóm gồm các học sinh chưa hoàn thành: Lê Đình Đức, Lê Thế Hoàng, Lê Đình Trường Sơn, Ngô Tiến Thành, Vũ Đình Tùng, Lê Đình Hùng. b. Khơi dậy lòng say mê và thích học toán của học sinh: - Trong quá trình giảng dạy tôi đã thực hiện các giải pháp sau để giúp các em say mê và thích học môn Toán: 6
- Xem kỹ nội dung chương trình môn Toán, nội dung từng bài dạy và mục tiêu của mỗi bài để tránh việc truyền đạt quá tải cho học sinh; phối hợp nhịp nhàng giữa phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phát huy tính tích cực, chủ động, kích thích sự hứng thú của học sinh, tránh sự đơn điệu và tẻ nhạt ở mỗi tiết học. Tổ chức các hoạt động trong từng bài để giúp các em tự mình tìm tòi, chủ động phát hiện kiến thức mới, rèn thêm kỹ năng mới dựa trên các kiến thức và kỹ năng các em đã có. Luôn thay đổi không khí giờ học toán để tạo ra sự thoải mái, giảm bớt căng thẳng cho học sinh. Nhờ thế, các em sẽ tập trung sự chú ý, tiếp thu bài tốt hơn. Để thực hiện điều này, tôi tổ chức cho các em giải các câu đố vui toán học mà mình đã sưu tầm được. Hoạt động này sẽ kích thích sự tò mò và bồi dưỡng tính hài hước cho các em vì các câu đố thường được viết dưới dạng các câu thơ, các bài văn vần, các câu hò, vè quen thuộc rất dí dỏm, vui tươi, ngộ nghĩnh. Ví dụ: Khi dạy phần ôn tập phân số, số tự nhiên, dấu hiệu chia hết, tôi đã đưa ra các câu đố: Câu 1: Thân em gồm có hai phần. Càng thêm vào dưới, lại càng bé đi”. (là gi?) Câu 2: Đố em viết tiếp Vào dãy số sau: 0; 15; 30; 5 số nối nhau Tìm mau kẻo lỡ Xong sau bạn cười. Câu 3: 2325; 3446; 4590; 1000. Những số đã viết Số nào chia hết Cho cả ba, năm? Số nào chia thêm Cho hai và chín? Các câu đố này sẽ biến những bài toán với các con số khô khan thành những bài toán vui, hóm hỉnh, gần gũi với học sinh giúp củng cố kiến thức và kỹ năng thực hành, góp phần rèn luyện tư duy sáng tạo, óc nhanh nhạy trước các tình huống toán học chứa đựng trong câu đố. - Ngoài ra trong các buổi ngoại khoá, trong những giờ ra chơi hay những buổi sinh hoạt tập thể, tôi luôn tìm cách khơi dậy tinh thần hăng say học tập, kích thích chí hướng phấn đấu vươn lên thành học sinh xuất sắc bằng những câu chuyện bổ ích, những tấm gương học tốt, những bài học về phương pháp học được rút ra từ các nhà khoa học hay đơn giản chỉ là những câu nói thể hiện niềm tin về sự cố gắng của một học sinh nào đó. 7
- Ví dụ: Kể về các gương học sinh trước đây có hoàn cảnh khó khăn nhưng nhờ chăm chỉ, chịu khó đã trở thành học sinh xuất sắc, đỗ đạt vào các trường đại học. Cụ thể như : Em Lê Hữu Hùng ở thôn 5, nhà nghèo, bố mẹ khuyết tật, ngoài giờ học em phải đi quấn kẹo thuê để kiếm thêm tiền đỡ cho bố mẹ. Nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng, say mê học tập đến nay Hùng đã thi đỗ vào Trường Học viện Kĩ thuật Quân sự Ngoài những câu chuyện thực tế trong trường, lớp, địa phương tôi còn sưu tầm các câu chuyện khác trên báo trí, mạng internet Những việc đơn giản đó đã giúp tôi hiểu rõ và tìm được phương pháp kích thích hứng thú học tập cho từng học sinh. Hầu hết các em luôn tin tưởng và gần gũi giáo viên. Sẵn sàng tham gia vào các hoạt động do giáo viên tổ chức trong giờ học toán. 2.3.2. Giải pháp 2: Thiết kế bài và dạy học theo đối tượng để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Trong quá trình chuẩn bị kế hoạch bài dạy, tôi thường chuẩn bị bài dựa vào thực tế năng lực và khả năng tiếp thu của học sinh mình phụ trách. Kế hoạch bài dạy được thiết kế bằng nhiều phương án theo kiểu phương án nhánh. Giáo viên linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của tiết học với sự tham gia tích cực của học sinh. Dù ở loại bài nào thì việc lựa chọn câu hỏi, các bài tập có vai trò quan trọng nhất vì các câu hỏi, bài tập đưa ra phải phù hợp với các đối tượng để ba đối tượng đều được phát huy khả năng tích cực của mình mà không bị nhàm chán, không bị thừa thời gian cho học sinh hoàn thành tốt. Ở mỗi dạng bài tập, mỗi câu hỏi thì mỗi đối tượng học sinh có các yêu cầu khác nhau: Ví dụ 1: So sánh A và B biết: A = 3,54 + 2,17 + 6,46 B = 2,54 + 6,17 + 3,46 - Đối với đối tượng chưa hoàn thành chỉ yêu cầu học sinh tính kết quả theo thứ tự thực hiện phép tính, sau đó so sánh. (A = 12,17 ; B = 12,17. Vậy A = B) - Đối tượng học sinh hoàn thành, ngoài cách tính kết quả để so sánh, các em có thể sử dụng tính chất giao hoán và kết hợp đã học để tính nhanh kết quả rồi so sánh. A = (3,54 + 6,46) + 2,17 B = (2,54 + 3,46) + 6,17 = 10 + 2,17 = 6 + 6,17 = 12,17 = 12,17 Vậy A = B - Nhưng với đối tượng học sinh hoàn thành tốt, ngoài cách tính kết quả để so sánh, sử dụng tính chất giao hoán và kết hợp để tính nhanh kết quả rồi so sánh, các em còn phải suy nghĩ để tìm cách so sánh nhanh nhất (xét các chữ số hàng đơn vị, hàng phần mười, hàng phần trăm của A và B). Ví dụ 2: So sánh hai phân số 4 và 3 . 7 8 8
- - Đối với học sinh hoàn thành và chưa hoàn thành các em chỉ việc quy đồng mẫu số hai phân số để so sánh như sau: 4 4 8 32 3 3 7 32 21 4 3 Ta có: ; vì nên > . 7 7 8 56 8 8 7 56 56 7 8 - Đối với học sinh hoàn thành tốt khuyến khích học sinh tìm ra cách so sánh nhanh hơn bằng cách so sánh với phân số trung gian như sau: 4 4 3 4 3 4 3 3 4 3 Vì nên > . Hoặc Vì nên > . 7 8 8 7 8 7 7 8 7 8 Ví dụ 3: Phần củng cố tính chất kết hợp của phép nhân sau khi học nhân số thập phân. Hãy nêu tính chất kết hợp của phép nhân, hãy lấy ví dụ và thực hiện. - Với học sinh chưa hoàn thành: chỉ cần nêu được tính chất. - Với học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt: nêu được tính chất, lấy được ví dụ minh họa. Ví dụ 4: Phần bài tập 3,5 x 0,4 x 25 - Với học sinh chưa hoàn thành và hoàn thành chỉ cần tính được giá trị biểu thức ví dụ như sau: 3,5 x 0,4 x 25 = 1,4 x 25 = 35 - Với học sinh hoàn thành tốt: Sử dụng tính chất giao hoán và kết hợp tính giá trị biểu thức theo các cách khác nhau như sau: Cách 1: Cách 2; Cách 3: 3,5 x 0,4 x 25 3,5 x 0,4 x 25 3,5 x 0,4 x 25 = 1,4 x 25 = 3,5 x (0,4 x 25) = 3,5 x 25 x 0,4 = 35 = 3,5 x 10 = 87,5 x 0,4 = 35 = 35 Cuối cùng cả ba đối tượng đều phát huy được khả năng chủ động của mình trong việc thực hiện phép tính. Học sinh chưa hoàn thành sẽ không cảm thấy quá sức. Học sinh hoàn thành tốt không thấy nhàm chán. Ví dụ 5: Khi dạy bài ôn tập và bổ sung giải toán, phần “Bài toán về hai đại lượng cùng gấp lên hoặc giảm đi một số lần (tỉ lệ thuận). Phần củng cố giáo viên hỏi: Nêu cách giải bài toán về hai đại lượng cùng gấp lên hoặc giảm đi một số lần. - Với học sinh chưa hoàn thành và hoàn thành: Học sinh chỉ cần nêu cách giải bài toán về hai đại lượng cùng gấp lên hoặc giảm đi một số lần là giải bằng phương pháp rút về đơn vị hoặc tìm tỉ số. - Với học sinh hoàn thành tốt: Ngoài câu hỏi chung ở trên giáo viên còn hỏi thêm: Khi nào bài toán về hai đại lượng cùng gấp lên hoặc giảm đi một số lần giải được bằng phương pháp tìm tỉ số, khi nào giải được bằng phương pháp rút về đơn vị ? + Như bài toán sau đây ta chỉ có cách giải là tìm tỉ số: 9
- Bài 3 (trang19). Số dân của một xã hiện nay có 4000 người. a, Với mức tăng hằng năm là cứ 1000 người thì tăng thêm 21 người, hãy tính xem một năm sau số dân của xã đó tăng thêm bao nhiêu người. b, Nếu hạ mức tăng hằng năm là cứ 1000 người chỉ tăng thêm 15 người, thì sau một năm sau số dân của xã đó tăng thêm bao nhiêu người ? Đối với bài này chúng ta chỉ có cách giải là tìm tỉ số như sau: a, 4000 người gấp 1000 người số lần là: 4000 : 1000 = 4 (lần) Số dân của xã đó tăng thêm sau một năm là: 21 x 4 = 84 (người) b, Nếu hạ mức tăng hằng năm là cứ 1000 người chỉ tăng thêm 15 người, thì sau một năm sau số dân của xã đó tăng thêm số người là: 15 x 4 = 60 (người) Đáp số: a, 84 người b, 60 người - Bài toán này không thể giải theo cách rút về đơn vị. Vì nếu giải cách rút về đơn vị thì bước rút về đơn vị ta sẽ có số người là phân số điều này không phù hợp với thực tiễn. (1 người tăng thêm thì tương ứng với số dân là 1000 : 21 = 1000 người). 21 - Ngoài ra ở các bài học giáo viên sử dụng cả các bài tập nâng cao thêm cho học sinh hoàn thành tốt. Giáo viên còn chuẩn bị một hệ thống bài tập mở rộng có liên quan đến dạng đang học. Ví dụ : Nếu có 4 người mỗi ngày làm việc 5 giờ thì đắp xong đoạn đường trong 12 ngày. Hỏi nếu có 6 người mỗi ngày làm việc 10 giờ thì đắp xong đoạn đường ấy trong bao nhiêu ngày (năng suất lao động của mỗi người như nhau). Qua việc chuẩn bị thiết kế bài dạy theo hướng phân nhánh này không những phát huy tính tích cực chủ động cho các đối tượng học sinh trong giờ học mà còn giúp cho các em óc sáng tạo, có lòng say mê học toán, ham hiểu biết chuẩn bị cho phương pháp tự học khi lên lớp trên. 2.3.3. Giải pháp 3: Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học theo hướng đổi mới để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Vấn đề đổi mới phương pháp là vấn đề đang được quan tâm nhiều nhất trong giai đoạn hiện nay. Thế nhưng phương pháp dạy học không phải là vấn đề kĩ thuật. Mỗi phương pháp chịu sự chỉ đạo của lý thuyết xác định. Việc vận dụng phương pháp phải phù hợp với mục tiêu, đối tượng, điều kiện dạy học, không nên lý tưởng hóa, tuyệt đối hóa tác dụng với phương pháp nào đó mà phải phối hợp sử dụng hợp lý các phương pháp. Mỗi đối tượng học sinh có thể sử dụng một phương pháp khác nhau. 10
- Ví dụ 1: Khi giải các bài toán dạng “Tìm hai số biết tổng và hiệu của hai số đó” hoặc dạng toán “Tính chu vi (diện tích) của hình chữ nhật (hình vuông)” Đối với học chưa hoàn thành, giáo viên cần nêu câu hỏi gợi mở (phương pháp vấn đáp) để giúp học sinh tìm ra cách làm. Nhưng đối với học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt, có thể để học sinh tự phát hiện dạng toán, tự trao đổi với nhau để tìm cách giải (phương pháp nêu vấn đề hoặc trò hỏi, trò trả lời, ) Trong quá trình học sinh tham gia vấn đáp hoặc nêu vấn đề, giáo viên phải là người định hướng và dẫn dắt học sinh đi đúng hướng. Khi học sinh nêu câu hỏi sẽ rất đa dạng, lẫn lộn, có câu phù hợp, có câu không, giáo viên là trọng tài cùng các em lựa chọn để giữ lại câu hỏi phù hợp yêu cầu bài học và quỹ thời gian cho phép. Trong trường hợp có câu hỏi cần giải quyết thì cho các em trả lời ngay, câu hỏi có ý hay nhưng chưa phù hợp trọng tâm để các em trao đổi ngoài giờ. Một lớp có nhiều học sinh nên khả năng nhận thức khác nhau. Vấn đề là phải tạo tình huống có vấn đề phù hợp với từng học sinh. Ví dụ 2: Nhân một số thập phân với 10; 100; 1000;... 0,12 x 400 - Với học sinh chưa hoàn thành: Giáo viên có thể hướng các em vận dụng tính chất kết hợp của phép nhân để chuyển thành phép tính như sau. 0,12 x 400 = 0,12 x 100 x 4 = 12 x 4 = 48 - Với học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt: Yêu cầu các em nêu cách làm. Ví dụ 3: Nhân với số có ba chữ số có chữ số 0 ở giữa. 138 203 x 414 2760 2801 4 - Vấn đề nêu ra tại sao phép nhân này chỉ cần ghi hai tích riêng. - Học sinh chưa hoàn thành: Do hàng chục của thừa số thứ hai là 0 nên tích riêng thứ hai là 0 nên ta viết gọn lại. - Với học hoàn thành và hoàn thành tốt yêu cầu cao hơn. Ta có thể viết gọn như thế nào? Học sinh nêu cách viết: 138 203 x 414 276 2801 4 11
- (Vì tích riêng thứ hai là 0 nên ta bỏ đi. Và: 276 “ở phép nhân trên thực ra là” 276 “trăm”, là kết quả khi nhân 2 “trăm” với 138, vậy 6 phải viết thẳng cột với hàng trăm. - Từ đó học sinh hình thành cách viết khác: bỏ qua tích riêng thứ hai, tích riêng thứ ba lùi vào hai hàng so với tích riêng thứ nhất. Từ đó mở rộng ra trường hợp phép nhân với số có nhiều chữ số 0 ở giữa. Ví dụ 4: Khi dạy bài “Chia một số thập phân cho 10; 100; 1000; ” Phần hình thành kiến thức mới. - Đối với học hoàn thành và chưa hoàn thành giáo viên có thể cho học sinh thực hiện phép chia số thập phân cho 10; 100 như các bước sách giáo khoa để rút ra cách chia nhẩm một số thập phân cho 10; 100; 1000; - Còn đối với học sinh hoàn thành tốt có thể hướng dẫn các em chuyển các phép chia đó thành phép nhân một số thập phân với 0,1; 0,01 rồi từ đó rút ra cách chia nhẩm một số thập phân với 10; 100; 1000; Cụ thể như: 213,8 : 10 = 213,8 x 1 = 213,8 x 0,1 = 21,38 10 Các bước này học sinh đã học 89,13 : 100 = 213,8 x 1 = 213,8 x 0,01 = 0,813 100 Các bước này học sinh đã học Như vậy trong quá trình giảng dạy dựa vào phân loại học sinh để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thì giáo viên cần căn cứ vào khả năng của học sinh để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, để phát huy năng lực sở trường của học sinh bằng phương pháp và mức độ phù hợp, tạo cho các em có niềm tin, niềm vui trong học tập. Từ đó các em sẽ lĩnh hội kiến thức. 2.3.4. Giải pháp 4: Lồng ghép tổ chức trò chơi trong giờ học toán. - Cách tổ chức trò chơi trong môn Toán lớp 5: Để trò chơi góp phần mang lại hiệu quả cao trong giờ học, khi tổ chức và thiết kế trò chơi phải đảm bảo những nguyên tắc sau: + Thiết kế trò chơi toán học sao cho phù hợp với nội dung từng bài học: Tổ chức trò chơi học tập để dạy môn Toán nói chung và môn Toán lớp 5 nói riêng, chúng ta phải dựa vào nội dung bài học, điều kiện thời gian trong mỗi tiết học cụ thể để đưa ra các trò chơi cho phù hợp. Song muốn tổ chức được trò chơi trong dạy toán có hiệu quả cao thì đòi hỏi người giáo viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cặn kẽ và đảm bảo các yêu cầu sau: + Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục. + Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học. 12
- + Trò chơi phải phù hợp với tâm sinh lí học sinh, phù hợp với khả năng người hướng dẫn, sự chuẩn bị của giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường. + Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú. + Trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo. + Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh. - Cấu trúc của trò chơi học tập: + Tên trò chơi. + Mục đích: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng nào. Mục đích trò chơi sẽ quy định hành động trò chơi được thiết kế trong trò chơi. + Đồ dùng, trò chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong Trò chơi học tập. + Nêu lên luật chơi: Chỉ rõ quy tắc của hành động chơi quy định đối với người chơi, quy định thắng thua của trò chơi. + Số người tham gia chơi: Cần chỉ rõ số người tham gia trò chơi. + Nêu lên cách chơi. + Nếu cần thiết cho học sinh chơi thử. + Phần thưởng cho đội thắng, phạt đội thua như thế nào?... - Cách tổ chức trò chơi. + Thời gian tiến hành: thường từ 3 - 5 phút. Đầu tiên là giới thiệu trò chơi: * Nêu tên trò chơi. * Hướng dẫn cách chơi bằng cách vừa mô tả vừa thực hành, nêu rõ luật chơi. + Nhận xét kết quả chơi, thái độ của người tham dự, giáo viên có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai lầm cần tránh. + Thưởng - phạt: Phân minh, đúng luật chơi, sao cho người chơi chấp nhận thoải mái và tự giác làm trò chơi thêm hấp dẫn, kích thích học tập của học sinh. Phạt những học sinh phạm luật chơi bằng những hình thức đơn giản, vui (như chào các bạn thắng cuộc, hát một bài, nhảy lò cò...tuyệt đối giáo viên không được phê bình hoặc nói nặng lời mà phải luôn động viên các em. - Một số trò chơi nhằm gây hứng thú học tập trong môn Toán lớp 5: Sau đây tôi xin giới thiệu một số trò chơi tiêu biểu mà tôi đã áp dụng trong quá trình dạy toán cho học sinh lớp 5. Trò chơi 1: Xếp hàng thứ tự (Áp dụng cho các tiết học: So sánh phân số; So sánh số thập phân,...) Mục đích: Giúp học sinh củng cố cách so sánh và sắp xếp các số thập phân, phân số theo thứ tự từ bé đến lớn và ngược lại. Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị 2 lá cờ hiệu (cờ giấy nhỏ, 2 lá có màu khác nhau); học sinh mỗi đội 5 mảnh bìa (có kích thước 10 x 15 cm) trong mỗi mảnh 13

