Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt 1 (phần Học vần)

doc 20 trang Chăm Nguyễn 15/08/2026 270
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt 1 (phần Học vần)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_day.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt 1 (phần Học vần)

  1. 1 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ thiết tha căn dặn các em học sinh: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các em”. Lời dạy của Bác đã khẳng định vai trò của trẻ em đối với tương lai của đất nước. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, xu thế phát triển của thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện đến ngành giáo dục của chúng ta. Điều này, thúc đẩy giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng phải tự hoàn thiện về mọi mặt. Năm học 2022 - 2023 là năm thứ ba áp dụng chương trình giáo dục phổ thông 2018 và cũng là năm học thứ ba khối 1 trường tôi dạy học theo bộ sách Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục. Năm học này ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới, lấy học sinh làm trung tâm, hướng tới phát triển năng lực - phẩm chất học sinh cho tất cả các cấp học nói chung, tiểu học nói riêng. Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phù hợp với công việc “công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đổi mới giáo dục là nhiệm vụ rất cấp thiết và quan trọng đến chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo. Ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Ngoài nhiệm vụ giúp các em giao tiếp tốt bằng tiếng mẹ đẻ, Tiếng Việt còn có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với chúng là các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Thật hạnh phúc biết bao khi biết đọc, bởi lẽ: Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Biết đọc con người sẽ tăng khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây, anh ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy. Không biết đọc, con người không thể tiếp thu nền văn minh của xã hội loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa
  2. 2 của từ này trong xã hội hiện đại. Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc càng quan trọng vì nó sẽ giúp chúng ta sử dụng các nguồn thông tin đó. Đọc chính là học, học nữa, học mãi. Những lẽ trên đã khẳng định vai trò quan trọng của việc đọc. Nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học là phải rèn cho học sinh có kỹ năng đọc tốt, từ đó các em học tốt môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Thế nhưng, thực tế cho thấy rằng, giai đoạn học tập từ chưa biết đọc, biết viết đến biết đọc, biết viết là giai đoạn khó khăn đối với học sinh lớp 1. Đầu năm học, giáo viên lớp 1 rất vất vả trong viÖc phải giải thích, hướng dẫn các em dù là việc đơn giản nhất như lấy quyển sách nào, quyển vở nào, giải thích cho các em hiểu yêu cầu của bài tập toán, bài tập §ạo đức...vì các em chưa biết đọc. Chính vì vậy, hơn ai hết, giáo viên chủ nhiệm lớp 1 thấy rõ được ích lợi của việc biết đọc. Vậy: Làm thế nào để các em thích đọc, có kĩ năng đọc tốt? Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên, người tổ chức, hướng dẫn các em tiếp xúc với văn bản đọc. Là giáo viên được phân công giảng dạy nhiều năm ở khối lớp 1, với lòng yêu nghề, mến trẻ, với mong muốn học sinh của mình có được kĩ năng đọc tốt, tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và đúc rút được “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt 1 (phần Học vần)”. Tôi đã áp dụng những biện pháp này vào giảng dạy và đã có những thành công nhất định. 2. Mục đích nghiên cứu Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích: - Bồi dưỡng, tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân. - Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt lớp 1 (phần Học vần). 3. Đối tượng nghiên cứu - Mục tiêu, nội dung, chương trình môn Tiếng Việt 1 (phần Học vần). - Những khó khăn của giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập môn Tiếng Việt 1 (phần Học vần). - Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giờ Học vần lớp 1. 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm Giáo viên và học sinh khối lớp 1 của trường Tiểu học A Thị Trấn Văn Điển.
  3. 3 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: - Đọc các tài liệu có liên quan đến dạy học Tiếng Việt lớp 1(phần Học vần), lựa chọn các vấn đề có liên quan làm cơ sở để nghiên cứu. 5.2. Phương pháp quan sát: TÝch cùc dù giê ®ång nghiÖp, quan s¸t, theo dâi c¸c h×nh thøc tæ chøc d¹y häc, ph­¬ng ph¸p gi¶ng d¹y cña ®ång nghiÖp, ghi l¹i nh÷ng lçi mµ häc sinh th­êng m¾c ph¶i trong qu¸ tr×nh luyÖn ®äc. 5.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Từ những nghiên cứu, quan sát trên cùng với việc lắng nghe kinh nghiệm của đồng nghiệp cũng như thực tế giảng dạy, tôi tổng kết lại thành những kinh nghiệm có khả năng áp dụng rộng rãi nhằm nâng cao hiệu quả giờ Học vần lớp 1. 5.4. Phương pháp thực nghiệm giáo dục: Áp dụng dạy thực nghiệm vào các giờ dạy Học vần của lớp để xác định tính hiệu quả của các biện pháp đề ra.
  4. 4 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận Để học tập tốt, bất kì học sinh nào cũng cần đọc thông, viết thạo. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, học tốt môn Tiếng Việt ngay từ nhỏ là nền tảng để trẻ phát triển trí thông minh ngôn ngữ. Từ đó bồi dưỡng khả năng văn chương, học tốt môn Ngữ văn khi lên Trung học cơ sở, hình thành các kĩ năng mềm, kĩ năng sống cần thiết cho học sinh, phát triển khả năng tư duy hình ảnh, so sánh, liên kết, liên tưởng, thuận lợi để học tốt các môn xã hội, ngoại ngữ, nghệ thuật, nuôi dưỡng tâm hồn, cảm xúc; giúp tư duy sâu sắc, nhạy bén, phát triển EQ. Tiếng Việt không những là công cụ của tư duy mà còn là bước đệm để hình thành nhân cách cho học sinh. Học vần rèn cho học sinh kĩ năng đọc, ghi nhớ, sử dụng Tiếng Việt trong đời sống hàng ngày. Vì vậy Học vần có tính tích hợp liên quan mật thiết đến các môn học khác. Học vần có vị trí quan trọng trong môn Tiếng Việt 1 ở Tiểu học. Hơn nữa nó còn là công cụ, là phương tiện quan trọng để học tốt các môn học khác, giúp học sinh chiếm lĩnh kho tàng tri thức văn hoá của nhân loại. Vì vậy khi dạy học Tiếng Việt luôn cần sự đổi mới cả về nội dung và phương pháp dạy học. Giáo viên là người dẫn dắt để học sinh chủ động phát hiện, tìm ra kiến thức, như vậy mới khắc sâu và giúp các em ghi nhớ kiến thức lâu hơn. 2. Cơ sở thực tiễn Những năm gần đây, Bộ giáo dục và đào tạo luôn chú trọng việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông mới, theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Mục tiêu chương trình Tiếng Việt tiểu học 2018 nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh. Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; liên hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn, bài văn ngắn (chủ yếu là bài văn kể và tả); phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý kiến người nói.
  5. 5 Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học. 3. Thực trạng Qua điều tra, tôi thấy việc dạy và học phần Học vần ở trường tôi có những thuận lợi và khó khăn sau: 3.1. Thuận lợi: - Về phía nhà trường: + Trường Tiểu học A Thị Trấn Văn Điển của chúng tôi là một trường thuộc trung tâm huyện. Trong những năm gần đây, dân cư đông đúc, đa dạng hoá nhiều thành phần. Trình độ dân trí của khu vực ngày một nâng cao. + Ban giám hiệu nhà trường năng động, sáng tạo, có nhiều hình thức động viên nhằm kích thích giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm tới việc học tập của học sinh, trang bị cơ sở vật chất lớp học đầy đủ (bảng, đèn chống cận, chống loá; bàn ghế phù hợp và một số thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu đa vật thể,...), từ đó giúp giáo viên có thể sử dụng các phương pháp dạy học linh hoạt đặc biệt các phương pháp dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin. + Trường có bề dày thành tích trong công tác dạy và học. - Về phía giáo viên: + Giáo viên của khối đều có trình độ đạt chuẩn, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, giàu kinh nghiệm, tận tâm, yêu nghề, mến trẻ, có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy ở khối lớp 1. + Giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của môn Tiếng Việt. - Về phía học sinh: + Hầu hết các em đã được qua lớp Mẫu giáo, nhiều em rất nhanh nhẹn. + Phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học tập của con em mình. 3.2. Khó khăn: - Về phía giáo viên: + Một số giáo viên do chủ quan không chuẩn bị kĩ bài trước khi lên lớp nên mục tiêu đạt được sau giờ học chưa cao. + Còn có giáo viên chưa có kĩ năng giao tiếp tốt với học sinh, nôn nóng khi học sinh mắc lỗi, chưa tạo được động cơ và hứng thú học cho học sinh.
  6. 6 - Về phía học sinh: + Khả năng tiếp thu của học sinh không đồng đều. Đặc biệt, có một vài học sinh chậm phát triển về thể chất, trí tuệ. + Nhiều em bộ máy phát âm chưa phát triển hoàn chỉnh, còn ngọng một số vần như inh, ach, iêt... âm, dấu thanh như l/n, thanh hỏi/ ngã, kh/h.... + Một số em hay quên mặt âm, mặt chữ, mặt vần, ghép tiếng chậm. - Về lí do khách quan: + Tốc độ dạy học nhanh, ít có bài ôn giữa các bài nên chương trình yêu cầu là học âm, vần nào phải nhớ ngay âm, vần đó, những học sinh tiếp thu chậm, còn quên âm, vần sẽ rất vất vả khi đọc sang bài mới. + Một số gia đình học sinh chưa dành thời gian kèm cặp con cái học tập. + Do ảnh hưởng từ phía gia đình, do tiếng địa phương, cha mẹ đọc ngọng dẫn đến con đọc ngọng, khó sửa, khó theo kịp các bạn. + Khả năng chú ý của học sinh lớp 1 còn hạn chế, các em dễ mất trật tự trong giờ học nếu hoạt động dạy học của giáo viên không linh hoạt, không kích thích sự hứng thú học tập của các em. + Sau thời gian dịch bệnh có một số học sinh nhút nhát, ít giao tiếp, ngại thể hiện bản thân. Năm học 2022 - 2023, tôi được phân công dạy lớp 1B, lớp có 46 học sinh, trong đó 26 nữ, 20 nam. Để nắm bắt tình hình của lớp, chuẩn bị cho công tác giảng dạy, tôi tiến hành điều tra, khảo sát trên 100% học sinh cả lớp. Bằng phương pháp phỏng vấn kết hợp với phiếu điều tra, khảo sát học sinh, tôi thu được kết quả như sau: BẢNG KHẢO SÁT ĐẦU NĂM Chuyển biến tâm lý Số lượng Tỉ lệ Nhút nhát, thiếu tự tin, nói nhỏ. 25/46 HS 54.3% Mạnh dạn, hòa đồng, hăng hái phát biểu ý kiến 21/46 HS 45.7% Kết quả học tập Số lượng Tỉ lệ Đọc, viết chậm 29/46 HS 63% Đọc, viết theo đúng tốc độ quy định 17/46 HS 37% Thực trạng trên đã khiến tôi trăn trở, suy nghĩ, thôi thúc tôi tìm tòi và nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt 1 (phần Học vần)”.
  7. 7 3. Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt 1 (phần Học vần) 3.1. Tạo động cơ, hứng thú học tập cho học sinh: Động cơ học tập là sự tác động chi phối, thúc đẩy học sinh học tập tích cực, tạo niềm hứng thú học tập cho học sinh. Hứng thú, động cơ có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc. M. Gorki đã từng nói “Thiên tài nảy nở từ tình yêu với công việc”. Không có việc gì không làm được bởi sự ảnh hưởng của hứng thú. Vì vậy, tôi thấy rằng việc bồi dưỡng, xây dựng động cơ, hứng thú học tập rất quan trọng. Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể mất đi. Hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho học sinh ý thức được lợi ích của việc học để tạo ra động cơ học tập. Chính vì vậy, bắt đầu từ khi mới nhận lớp, tôi đã luôn luôn làm cho học sinh thấy rõ được ích lợi của việc biết đọc. Chẳng hạn như, tôi nói với các em: “Các con mà biết đọc thì thật là thú vị: các con có thể tự đọc được truyện, đọc được lời chúc sinh nhật của bố mẹ, anh chị” và: “Đây là một công viên với rất nhiều trò chơi hấp dẫn, thú vị. Chìa khoá để mở ra có ghi một chữ, ai biết đọc khóa sẽ mở ra ngay”. Tôi còn đọc truyện cho các em nghe và giới thiệu cho các em nhiều truyện khác nữa để các em thấy rằng nếu biết đọc sẽ thích thú biết bao. Nhưng điều quan trọng nhất, cã lÏ, không có con đường nào khác để làm n¶y sinh hứng thú của học sinh với tiếng Việt ngoài cách giúp các em thấy được sự thú vị, vẻ đẹp của chính đối tượng học tập là những bài học vần. Từng giờ, từng phút trong giờ Học vần, tôi đều chú ý hướng đến hình thành và duy trì hứng thú cho học sinh. Đó có thể là một cách vào bài hấp dẫn cho giờ Học vần. Ví dụ: Khi dạy bài 7 “b e ê ” (Sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 1, trang 24 bộ Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục), để tạo hứng thú cho học sinh, tôi đã tổ chức cho học sinh khởi động bằng hình thức hát, vận động theo bài “Cháu yêu bà”. - Sau đó, tôi hỏi: + Bạn nhỏ rất yêu quý ai? + Tiếng “bà” có âm nào các con đã học? + Trong tiếng “bà” âm nào cô chưa dạy các con? - Tôi dẫn kết nối vào bài: Ngoài tiếng “bà”, âm “b”, hôm nay các con còn được biết thêm tiếng mới, âm mới nào nữa? Để trả lời câu hỏi này cô trò mình sẽ cùng tìm hiểu qua bài 7 “b e ê ” nhé!
  8. 8 Hay khi dạy bài 36 “en, et” (Sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 1, trang 84 bộ Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục) trong hoạt động khởi động tôi đã làm như sau: - Cho học sinh quan sát ảnh chụp Hoa sen, - Yêu cầu học sinh phát hiện xem đó là hình ảnh gì? - Tôi hỏi học sinh: + Ở lớp mình, bạn nào đã nhìn thấy hoa sen? + Hoa sen thường có màu gì? Con biết hoa sen mọc ở đâu? - Sau đó, tôi giới thiệu: Sen là một loài hoa tượng trưng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam chúng ta. Trong tiếng “sen” có vần nào chúng mình học hôm nay? Cô trò mình cùng đến với bài 36 “en, et” nhé! Ngoài ra, tôi thấy rằng, đối với học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em rất dễ chán nản, thất vọng. Chính vì vậy, tôi cßn tổ chức quá trình dạy học theo một chiến lược lạc quan, chú trọng vào mặt thành công của trẻ. Tôi tập cho bản thân mình có một cách nhìn: học sinh tiểu học, em nào cũng ngoan, em nào cũng giỏi, em nào cũng cố gắng. Chỉ có em này ngoan, giỏi, cố gắng nhiều hơn, em kia ngoan, giỏi, cố gắng ít hơn mà thôi. Trong giờ học, tôi luôn chú trọng vào những thành công cña trÎ, giao nhiÖm vô cho häc sinh sao cho đảm bảo để các em thµnh c«ng, nghĩa là phải chú ý đến khả năng của từng đối tượng học sinh, em đọc tốt có thể yêu cầu em đó đọc toàn bài, em đọc yếu thì chỉ cần đọc một hoặc hai câu bởi tôi thấy rằng, đạt được thành công trong học tập sẽ tạo ra niềm hứng thú và niềm say mê trong học tập ở học sinh. Chỉ có thành công và niềm tự hào về thành công, cảm giác xúc động khi thành công mới là nguồn gốc thực sự của việc học hỏi. Vì vậy, tôi luôn có những lời động viên học sinh, tỏ ra ngạc nhiên, vui sướng trước những tiến bộ hoặc sáng tạo của học sinh dù rất
  9. 9 nhỏ, chẳng hạn như: “Sao hôm nay con đọc to thế nhỉ, hơn hẳn hôm qua, cô khen con!”, hay: “Bạn Phúc đọc không bị ngọng âm n nữa rồi, bạn giỏi quá!”, “Bạn Chi đã phát âm đúng tiếng ghi vần anh, cô tự hào về con!” Tuy thế, không có nghĩa là chúng ta đánh giá học sinh một cách dễ dãi mà trong quá trình dạy học, giáo viên cần đề ra cho các em một tiêu chí đánh giá chung cho cả lớp, tiêu chí này sẽ thay đổi yêu cầu dần dần cao hơn theo nội dung chương trình và đặc điểm tình hình học sinh của lớp. Nói tóm lại, với cách làm như vậy, tôi đã dần dần tạo ra niềm khát khao học tập, nhu cầu cần được học tập, sự hứng thú, say mê học tập, ham đọc ở các em học sinh. Và đó chính là tiền đề, cũng là cốt lõi của những thành công trong quá trình dạy của giáo viên và học của học sinh. 3.2. Giáo viên nắm vững quy trình dạy Học vần Đối với phần Học vần của chương trình năm 2018 có nhiều điểm khác biệt. Tất cả các bước được tạo lập trong quy trình dạy Học vần được sắp xếp một cách khoa học, nhằm phát triển tốt nhất kĩ năng tìm tòi, khám phá vần mới của học sinh. Từ những dẫn dắt mà giáo viên đưa ra, học sinh có thể tự phát hiện mối liên kết giữa các âm, vận dụng cách đánh vần linh hoạt để đọc được thành tiếng, giáo viên không cần quá đi sâu vào việc ghép vần của học sinh. Học sinh là những chủ thể tự quyết định các thao tác dựa trên sự hỗ trợ của Bộ đồ dùng học tập môn Tiếng Việt. Chú trọng đến phương pháp tự học. Tự học coi trọng vai trò chủ thể tích cực của học sinh trong việc chủ động sáng tạo, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn, ứng dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống. Một bài Học vần bộ sách Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục được chia thành các hoạt động cụ thể như sau: Hoạt động chính Khám Đọc từ Tạo Luyện Đọc Trả Nói Luyện phá ngữ tiếng viết vần bài lời và viết vần ứng mới mới ứng câu nghe vở mới dụng vào bảng dụng hỏi con
  10. 10 Các hoạt động này được chia thành 2 tiết, tuỳ đặc điểm của từng trường sẽ có cách chia các hoạt động khác nhau. Trường Tiểu học A Thị Trấn Văn Điển chúng tôi thống nhất quy trình dạy Học vần bộ Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục như sau: TIẾT 1 1. Hoạt động 1. Khởi động (3’) - Sử dụng bài hát, trò chơi liên quan tạo hứng thú học tập cho học sinh. 2. Hoạt động 2 (12’) * Giới thiệu âm, vần mới: Đưa tranh, đặt câu hỏi dẫn dắt. Đưa tiếng (từ) mới (giải nghĩa) Học sinh phát hiện ra tiếng chứa âm, vần mới. Phát hiện âm, vần mới. - Giáo viên giới thiệu âm (vần mới) ghi bảng tên bài - Học sinh nhắc lại tên bài. * Đọc âm (vần), tiếng, từ khoá: - Âm, vần mới, tiếng mới thứ nhất: + Giáo viên phát âm (đánh vần) mẫu (chậm, liền mạch), gọi học sinh đọc (đánh vần), sửa. + Đọc âm (vần - đọc trơn). Phân tích cấu tạo âm (vần). + Nêu, chỉ, đọc mô hình (đối với bài vần). Chốt cấu tạo âm, vần. + Giáo viên hướng dẫn đánh vần tiếng đọc trơn Phân tích tiếng. - Âm, vần mới, tiếng mới thứ hai: quy trình tương tự. So sánh âm (vần) mới. * Đọc bài khoá: + Đọc bảng: Gọi học sinh đánh vần đọc trơn, giáo viên chỉ không theo thứ tự. + Đọc sách giáo khoa (phần khám phá): đọc theo thứ tự. 3. Hoạt động 3: Đọc từ ngữ ứng dụng (5’) - Đưa tranh: Tranh vẽ gì? Kết hợp giảng nghĩa (nếu cần) từ tương ứng, gọi 1 học sinh đọc từ. - Thảo luận nhóm bàn, tìm tiếng chứa vần mới + luyện đọc. - Tìm tiếng có chứa vần âm, vần mới (gạch chân). - Yêu cầu học sinh đánh vần, đọc trơn, phân tích tiếng mới. - Gọi học sinh đọc từ ứng dụng. Giáo viên chỉ theo thứ tự, không theo thứ tự.
  11. 11 * Nghỉ giữa giờ (2’) 4. Hoạt động 4: Tạo tiếng chứa âm, vần mới (3’) - Yêu cầu học sinh lấy bộ thực hành Tiếng Việt ghép tiếng chứa âm, vần mới. - Tổ chức chơi “Xì điện” nói tiếng mình vừa ghép. - Mở rộng: Tiếng này có trong từ nào? Nói câu chứa từ đó. 5. Hoạt động 5: Luyện viết bảng (10’) - Gọi học sinh đọc nội dung bài viết. - Yêu cầu học sinh quan sát, nêu độ cao các con chữ. - Hướng dẫn viết từng chữ. -> Viết mẫu. Lưu ý điểm đặt bút, dừng bút, kĩ thuật nối nét, khoảng cách giữa các chữ. - Cho học sinh xem lại clip quy trình viết. -> Yêu cầu học sinh viết bảng -> Sửa lỗi. TIẾT 2 1. Hoạt động 1: Đọc bài ứng dụng (10’) - Giới thiệu: Tranh vẽ ai? Họ đang làm gì? đưa bài ứng dụng. - Đọc nhẩm: Chỉ bảng từng chữ, yêu cầu học sinh đọc nhẩm. - GV đọc mẫu trong sách giáo khoa (yêu cầu học sinh mở sách giáo khoa). - Đọc tiếng/ từ: Tìm tiếng chứa âm (vần) mới (gạch chân). - Chỉ, gọi học sinh đánh vần/ đọc trơn. - Đọc câu: Giáo viên chia câu. Yêu cầu đọc từng câu (lưu ý ngắt hơi). - Đọc bài: Đọc cá nhân, nhóm, lớp đồng thanh (nghỉ hơi sau dấu chấm). (Lưu ý: Đọc nhóm nối tiếp mỗi bạn 1 câu). Giáo viên sửa lỗi. 2. Hoạt động 2: Trả lời câu hỏi (3’) Yêu cầu học sinh đọc câu hỏi học sinh trả lời. 3. Hoạt động 3: Nói và nghe (5’) - Yêu cầu đọc câu hỏi. Học sinh hỏi – đáp trong nhóm 2. - Nói trước lớp theo cặp. Nhận xét. - Liên hệ, trải nghiệm. * Nghỉ giữa giờ (2’) 4. Hoạt động 4: Luyện viết vở (12’) - Chiếu bài viết, chỉ, gọi học sinh đọc bài viết, nêu số dòng.