Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết theo mô hình lớp học VNEN cho học sinh Lớp 3 ở trường Tiểu học T
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết theo mô hình lớp học VNEN cho học sinh Lớp 3 ở trường Tiểu học T", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_day.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết theo mô hình lớp học VNEN cho học sinh Lớp 3 ở trường Tiểu học T
- nghiệm về “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học T.” 2. Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học T. Từ đó giúp học sinh phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục. Học sinh có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng quan sát, kĩ năng phân tích, đánh giá,hợp tác... trong các hoạt động, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam của Nghị quyết 29/NQ-TW. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu: Phương pháp dạy học phân môn tập viết ở trường Tiểu học 3.2.Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết ở trường Tiểu học 4. Giả thuyết khoa học Nếu áp dụng “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết theo mô hình lớp học VNEN cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học T.” thành công thì sẽ khai thác hiệu quả giờ dạy tập viết theo mô hình lớp học VNEN, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc nâng cao chất lượng giáo dục phân môn tập viết ở lớp 3 theo mô hình lớp học VNEN. - Nghiên cứu thực trạng của việc dạy học phân môn tập viết ở lớp 3 theo mô hình lớp học VNEN trong nhà trường. - Đề xuất một số biện pháp việc nâng cao chất lượng giáo dục phân môn tập viết ở lớp 3 theo mô hình lớp học VNEN. 6. Phạm vi nghiên cứu - Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 3 và Giáo viên chủ nhiệm của trường Tiểu học T. - Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 3 của trường tiểu học T - Địa bàn nghiên cứu: Trường tiểu học T - Thời gian nghiên cứu: Tháng 8/2015 - 4/2016
- 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu giáo trình, các tài liệu tập huấn về mô hình trường học mới VNEN, các tài liệu sách báo, phân tích tổng hợp thông tin để rút ra kết luận khoa học cần thiết. 7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp quan sát sư phạm - Phương pháp điều tra Anket - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Qua nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và đề ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết theo mô hình lớp học VNEN cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học T. Đề tài tiến hành thử nghiệm và đưa ra kết luận về hiệu quả của các biện pháp qua một số tiết dạy cụ thể ở trường tiểu học T 8. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Mục lục, đề tài gồm có 3 chương: Chương 1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2. Thực trạng việc dạy tập viết ở lớp 3 của nhà trường. Chương 3. Một số biện pháp giúp giáo viên thực hiện tốt việc dạy học phân môn tập viết theo mô hình lớp học VNEN cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học T.
- NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP VIẾT THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC VNEN CHO HỌC SINH LỚP 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Căn cứ khoa học của đề tài 1.1. Định hướng đổi mới phát triển giáo dục ở nước ta. Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo phải xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện đại và tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, gắn với phát triển khoa học và công nghệ trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ định hướng XHCN. Định hướng giáo dục cũng chỉ rõ, tiểu học là cấp học nền tảng do đó cần có sự đầu tư và quan tâm sâu rộng để có thể đảm bảo phát triển giáo dục toàn diện. Đổi mới về mô hình dạy học, đổi mới cách thức quản lý, tổ chức lớp học từ đó nâng cao năng lực tự học của học sinh là một trong những thay đổi căn bản, cần thiết để thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra. 1.2. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học Việt Nam • Giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản. • Hình thành và phát triển những cơ sở nền tảng nhân cách con người. • Sản phẩm của GDTH có giá trị cơ bản, lâu dài, có tính quyết định đối với cuộc đời mỗi con người. • Bất kì ai cũng phải sử dụng các kĩ năng nghe, nói, đọc viết và tính toán được học ở tiểu học để sống để làm việc. • Trường tiểu học là nơi đầu tiên dạy trẻ em biết yêu gia đình, quê hương, đất nước và con người, biết đọc, biết viết biết làm tính, biết tìm hiểu tự nhiên, xã hội và con người. Sự bền vững ở bậc Tiểu học là đảm bảo cho sự bền vững của đất nước. 1.3. Căn cứ vào nhiệm vụ năm học
- Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội trong Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ cấp Tiểu học năm học 2015-2016 đã nhấn mạnh: Tiếp tục chỉ đạo việc tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học; tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống; chỉ đạo triển khai hiệu quả mô hình trường tiểu học mới...; đề cao trách nhiệm, khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. 1.4. Căn cứ vào đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học * Đặc điểm quá trình nhận thức: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định. Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. Tưởng tượng của học sinh tiểu học còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em. Chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập. Trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic. Giai đoạn lớp 4;5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường, ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Năng lực ý chí còn thiếu bền vững. Tình cảm của học sinh tiểu rất hồn nhiên vô tư, chưa bền vững, dễ thay đổi. Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên. Việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình. * Đặc điểm nhân cách: Học sinh tiểu học có nhiều nét tính cách tốt, hồn nhiên, tính ham hiểu biết, chân thực và rất cả tin ( tin vào sách vở, tuyệt đối tin vào thầy cô giáo )
- Quá trình nhận thức không tách khỏi hoạt động thực tiễn của trẻ thơ, tư duy trong hành động và bằng hành động. Trẻ dễ xúc cảm, xúc động và tình cảm gắn liền với trực quan hình ảnh cụ thể. Người giáo viên phải nắm vững đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học, phải tích cực chủ động đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức để học sinh được tự chủ - tự phục vụ; tự học - tự giải quyết vấn đề một cách tích cực. Chính vì thế, dạy học theo Mô hình VNEN rất phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh Tiểu học. VNEN giúp học sinh “ Học mà chơi - chơi mà học” hứng thú tích cực hoạt động tránh căng thẳng mệt mỏi cho cả buổi học. 2. Nội dung dạy học của môn Tập viết Tập viết là phân môn có tính chất thực hành. Trong chương trình không có tiết học lí thuyết, chỉ có tiết rèn luyện kĩ năng. Tính chất thực hành có mục đích của việc dạy học Tập viết cũng góp phần khẳng định vị trí quan trọng của phân môn này ở trường tiểu học. Ngoài ra, Tập viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho HS những phẩm chất đạo đức tốt như tính chất cẩn thận, tính kỹ thuật và khiếu thẩm mĩ. 2.1. Những yêu cầu và nội dung cơ bản của việc dạy tập viết ở lớp 3 - Về kiến thức : Củng cố, hoàn thiện hiểu biết về hình dáng, quy trình viết chữ hoa, chữ thường và chữ số. - Về kĩ năng : Viết đúng, rõ ràng và thành kĩ năng viết nhanh. Đồng thời biết trình bày bài viết, bài làm sạch, đẹp, thực hiện nề nếp giữ vở sạch, viết chữ đẹp. Học hết lớp 3, HS viết đúng chữ viết thường, chữ hoa ; viết bài chính tả khoảng 50 chữ / 15 phút. 2.2. Phương pháp dạy tập viết 2.2.1. Phương pháp trực quan Giáo viên khắc sâu cho các em về con chữ bằng nhiều con đường : kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập. Điều này giúp các em chủ động phân tích hình dáng, kích thước và cấu tạo mẫu chữ, tìm sự giống nhau và khác nhau của
- chữ cái đang học với chữ cái đã học trước đó trong cùng một nhóm bằng thao tác so sánh tương đồng. Mẫu chữ là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện đầu tiên để các em viết đúng. Có các hình thức mẫu chữ : chữ mẫu in sẵn, chữ phóng to trên bảng, chữ mẫu trong vở tập viết, hộp chữ mẫu Tiêu chuẩn cơ bản của chữ mẫu là phải đúng chữ quy định, rõ ràng và đẹp. Chữ mẫu giúp học sinh dễ quan sát, từ đó tạo điều kiện để các em phân tích hình dáng, kích thước và các nét cơ bản cấu tạo chữ cái cần viết trong bài học. -Chữ nẫu GV viết tiếp trên bảng giúp cho HS nắm được thứ tự viết các nét của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong cùng cột nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền mạch, viết nhanh. Chữ viêt của GV khi chữa bài, chấm bài cũng được học sinh quan sát như một loại chữ mẫu, vì thế, GV cần có ý thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng. Ngoài ra, để việc dạy chữ viết không đơn điệu, GV cần coi trọng việc xử lí quan hệ giữa âm và chữ, tức là giữa đọc và viết. Do đó, trong tiến trình dạy tập viết, nhất là tập viết những âm mà địa phương hay nhầm lẫn, GV cần đọc mẫu.Việc viết đúng sẽ củng cố việc dạy đọc đúng, ngược lại đọc đúng đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo viết đúng 2.2.2. Phương pháp đàm thoại gợi mở Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. GV dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh các nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với các chữ cái phân tích.
- 2.2.3. Phương pháp luyện tập Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ. Việc hướng dẫn học sinh luyện tập thực hành phải tiến hành từ thấp đến cao giúp học sinh dễ tiếp thu. Lúc đầu là việc viết đúng hình dáng, cấu tạo, kích thước các cỡ chữ, sau đó là viết đúng dòng và đúng tốc độ quy định. Việc rèn luyện kĩ năng viết chữ phải dược tiến hành đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, ở phân ôn tập viết cũng như ở các môn của bộ môn Tiếng Việt và các môn học khác. Hình thức tập viết chữ trên bảng đen có tác dụng kiểm tra sự tiếp thu cách viết chữ và bước đầu đánh giá kĩ năng viết chữ của học sinh.Hình thức này thường dùng khi kiểm tra bài cũ hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, cách luyện tập viết chữ ở lớp. Qua đó, GV phát hiện chỗ sai của học sinh (về hình dáng, kích thước, thứ tự viết các nét ) để uốn nắn chung cho cả lớp hoặc nhận xét, đánh giá. -Tập viết chữ vào bảng con của học sinh HS luyện tập viết chữ bằng phấn trên bảng con trước khi tập viết vào vở. HS có thể tập viết các chữ hoặc từ có hai hoặc ba chữ vào bảng con. Khi sử dụng bảng con, GV cần hướng dẫn các em cả cách lau bảng từ trên xuống, cách sử dụng phấn, cách giơ bảng, cách lau tay sau khi viết để giữ vệ sinh (phải có giẻ ẩm để lau bảng). Viết vào bảng xong, HS cần giơ lên để GV kiểm tra. Cần chú ý giữ trật tự trong lớp khi dùng hình thức luyện tập này - Muốn cho HS sử dụng có hiệu quả vở tập viết, GV cần hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết của từng bài viết (chữ mẫu, các dấu chỉ khoảng cách chữ, dấu vị trí đặt bút, ) giúp các em viết đủ, viết đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết. -Luyện tập viết chữ khi học các môn học khác
- Cần tận dụng việc viết các bài học, bài làm ở các môn học khác để học sinh tập viết, sự nghiêm khắc của GV về chất lượng chữ viết ở tất cả các môn học là cần thiết. Có như thế, việc luyện viết chữ mới được củng cố đồng bộ, thường xuyên. Việc làm này đòi hỏi GV ngoài những hiểu biết về chuyên môn còn cần có sự kiên trì, cẩn thận, lòng yêu nghề mến trẻ. 3. Mô hình trường học mới VNEN 3.1. Khái quát về Mô hình trường học mới VNEN Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam là một Dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển về đặc điểm của giáo dục Việt Nam. Mô hình trường học mới khởi nguồn từ Colombia từ những năm 1995-2000 để dạy học sinh trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm. Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lý lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học,... Mục tiêu tổng thể của Mô hình VNEN là phát triển con người: Dạy chữ - Dạy người. Mô hình VNEN hướng tới chuyển các hoạt động giáo dục trong nhà trường thành các hoạt động tự giáo dục cho học sinh. Mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường đều vì lợi ích của học sinh, của học sinh và do học sinh thực hiện. Đặc trưng của Mô hình trường học mới là “ TỰ”: Học sinh: Tự giác, tự quản - Tự phục vụ; Tự học - Tự giải quyết vấn đề; Tự đánh giá - Tự tin, tự trọng. Giáo viên: Tự chủ - Tự bồi dưỡng. Mô hình trường học mới VNEN đã đem lại sự thay đổi lớn. Đó là:
- + Phát triển năng lực của người học; học sinh chiếm lĩnh kiến thức nhiều hơn do tự tìm hiểu; chuyển từ giờ dạy sang giờ học, học sinh là diễn viên chính. + Môi trường học tập thay đổi giúp trẻ phát huy trí tuệ. + Giáo viên là đạo diễn: người tổ chức, hướng dẫn. + Trang trí VNEN thực sự là môi trường văn hoá, môi trường giáo dục. Vì vậy, tôi rất tâm đắc với Mô hình trường học mới VNEN. 3.Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu - Tập viết là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc biệt. Rèn luyện chữ viết cho học sinh Tiều học là vô cùng quan trọng và cấp thiết bởi chữ viết của học sinh, đặc biệt là của học sinh cấp Tiểu học đặt nền móng cơ bản cho toàn bộ quá trình học tập, rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như: tinh thần kỷ luật, tính cẩn thận và óc thẩm mĩ. Cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như với thầy và bạn đọc bài vở của mình...” Thực trạng chữ viết của học sinh hiện nay còn xấu và thiếu chính xác. Các em còn viết sai, viết quá chậm, trình bày không sạch sẽ, rõ ràng thì không thể trở thành một học sinh giỏi toàn diện được. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung. - Mô hình lớp học VNEN có các tài liệu Hướng dẫn học, các hoạt động giáo dục cho học sinh và các tài liệu hướng dẫn giáo viên môn Toán, môn Tiếng Việt, môn Tự nhiên và Xã hội.................. Tuy nhiên trong Tài liệu hướng dẫn giáo viên Môn Tiếng Việt lớp 3, phần hướng dẫn tổ chức hoạt động từng mạch nội dung thì chỉ có hướng dẫn dạy học đọc, dạy học kĩ năng nghe- nói, dạy học kiến thức Tiếng Việt, dạy học kĩ năng viết(viết chính tả, viết đoạn văn) mà không có hướng dẫn dạy tập viết. Điều này gây không ít khó khăn cho giáo viên khi áp dụng dạy phân môn này trong giờ Tiếng Việt theo mô hình VNEN. Chính vì vậy tôi luôn trăn trở và rất cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi đồng
- nghiệp để rút ra “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập viết theo mô hình lớp học VNEN cho học sinh lớp3” trên tinh thần giúp học sinh phát huy tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin, hứng thú trong học tập. Với phương pháp dạy học mới, giúp các em phát huy tốt các năng lực “Tự chủ - Tự phục vụ; Tự học - Tự giải quyết vấn đề; Năng lực giao tiếp - hợp tác”, tự đánh giá nhau trong giờ học. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC DẠY TẬP VIẾT Ở LỚP 3 CỦA NHÀ TRƯỜNG 1. Vài nét khái quát về nhà trường Trường Tiểu học T là ngôi trường nằm ở vùng ngoại thành Hà Nội, trường đạt chuẩn Quốc gia năm 2011. Mặc dù phần lớn phụ huynh học sinh làm nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao, nhưng với nỗ lực “vì sự nghiệp trồng người” của tập thể giáo viên và các cấp lãnh đạo nên nhiều năm liền trường đạt danh hiệu trường tiên tiến. Chất lượng văn hóa ngày càng đạt kết quả cao mà thể hiện rõ nhất là tỉ lệ học sinh giỏi cấp thành phố, học sinh năng khiếu cấp huyện có sự chuyển biến mạnh. Trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia vào tháng 12/2011. Và từ năm học 2012-2013 đến nay, nhà trường đã thực hiện thí điểm Mô hình trường học mới VNEN nên chất lượng giáo dục của nhà trường ngày càng nâng cao. Là trường tiểu học đầu tiên của thành phố Hà Nội thí điểm thành công mô hình trường học mới VNEN. Năm học 2015 - 2016, nhà trường vẫn duy trì nhân nhân rộng 100 % học sinh lớp 2,3,4,5 với lớp học thử nghiệm theo mô hình trường học mới. Cụ thể: Khối Số lớp Sĩ Số Nữ TB HS/ lớp 3 9
- 2. Thực trạng hoạt động dạy Tập viết cho học sinh lớp 3 theo mô hình VNEN ở trường tiểu học T 2.1. Thuận lợi: - Nhà trường được sự quan tâm của HĐND - UBND huyện, UBND xã, sự ủng hộ và nhiệt tình của cha mẹ học sinh nói chung đã tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục cho nhà trường. - Trường có cơ sơ vật chất và trang thiết bị dạy học khá đầy đủ và hiện đại. Tập thể BGH và giáo viên nhiệt tình có tinh thần trách nhiệm với công việc. - 100% GV được tập huấn cơ bản và được sự chỉ đạo thường xuyên sâu sát của các đồng chí lãnh đạo SGD&ĐT, các đồng chí chuyên viên tổ Tiểu học của PGD&ĐT. Đa số giáo viên và học sinh đã làm quen lớp học theo mô hình 2.2 Khó khăn: *Với giáo viên: - Trong Tài liệu hướng dẫn giáo viên Môn Tiếng Việt lớp 3, không có phần hướng dẫn tổ chức hoạt động dạy tập viết. Điều này khiến cho rất nhiều giáo viên bỡ ngỡ, vất vả trong cách tổ chức cho học sinh học tập viết theo 10 bước của VNEN, cách quan sát, giúp đỡ, nhận xét đánh giá - Nhiều GV khi viết mẫu trên bảng lớp cho HS rất khó đặt bút một lần mà viết đú ng và đẹp mẫu chữ cho HS, nhiều cô phải viết đi viết lại nhiều lần mới thành công.Có giáo viên còn viết theo thói quen của mình, chưa có cách hướng dẫn tỉ mỉ về việc viết chữ, chưa kết hợp giữa việc dạy viết chữ với việc phân tích cấu tạo và cách viết các nét của chữ. Việc chuẩn bị cho một giờ dạy tập viết của giáo viên cũng như việc nhận xét trong vở học sinh cũng chưa được cụ thể. Trong môn Tiếng Việt, chưa coi trọng phân môn tập viết, vì thế chưa tạo ra được sự hứng thú khi dạy và học phân môn này. - Một số giáo viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm dạy học. *Với học sinh:

