Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi A2 tại Trường mầm non Chi Lăng

docx 28 trang Chăm Nguyễn 08/12/2025 240
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi A2 tại Trường mầm non Chi Lăng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_p.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi A2 tại Trường mầm non Chi Lăng

  1. Với kết quả như trên tôi đã mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu và thực hiện “Một số biện pháp nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi A2 tại trường mầm non Chi Lăng”. Trong quá trình thực hiện tôi nhận thấy một số ưu điểm và hạn chế sau: 1. Ưu điểm - Phòng lớp học sạch sẽ, thoáng mát, đảm bảo an toàn và sức khoẻ cho trẻ. - Đồng nghiệp luôn đoàn kết đặc biệt là chị em trong cùng lớp luôn quan tâm giúp đỡ nhiệt tình. Luôn nhận được sự quan tâm tạo điều kiện về mọi mặt của ban giám hiệu nhà trường. - Trẻ trong lớp phát triển bình thường có sức khỏe tốt, trẻ nhanh nhẹn, thích tham gia hoạt động. - Trẻ ở lớp với cô cả ngày nên thuận lợi trong việc giáo dục rèn luyện có tính xuyên suốt. - Cha mẹ học sinh nhiệt tình phối hợp với trường lớp trong các nội dung chăm sóc giáo dục của nhà trường với con em mình. b) Hạn chế và nguyên nhân hạn chế - Trẻ lần đầu tiên ra lớp, một số trẻ biểu hiện khủng hoảng, có nhiều trẻ tỏ ra hiếu động, không nghe lời cô, thiếu kỷ luật vì quen với môi trường được tự do ở nhà. Đa số trẻ mới đến trường, lớp còn lạ lẫm với môi trường xung quanh cũng như đồ chơi ở lớp. - Vốn từ của trẻ còn hạn chế nên khi nói trẻ thường bỏ bớt từ, bớt âm khi nói. - Đa số trẻ phát âm chưa chính xác hay ngọng chữ x - s, dấu ngã - dấu sắc, dấu hỏi - dấu nặng. - Đa số phụ huynh trong lớp làm công nhân, họ thường ít có thời gian bên con, trò chuyện với con. Có một số phụ huynh còn xem nhẹ khả năng nói của con, họ nghĩ để con phát triển tự nhiên, dần dần sẽ tự biết nói. Ngôn ngữ có vai trò là một phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Thông qua cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung
  2. quanh. Trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với từ tương ứng với nó. Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày. 2. Biện pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi A2 tại Trường mầm non Chi Lăng”. a) Biện pháp 1: Tạo môi trường lành mạnh an toàn, thân thiện cho trẻ. + Tạo sự thân thiện, gần gũi giữa cô với trẻ Ở độ tuổi này trẻ còn rất bé, sống nhiều về tình cảm nên rất cần sự âu yếm, nhẹ nhàng, của những người gần gũi trẻ. Khi trẻ mới đi học những ngày đầu cô có thể bế trẻ, ngồi bên trẻ âu yếm rồi trò chuyện dỗ dành trẻ, cô lấy đồ chơi cho trẻ chơi cùng cô và các bạn, cô cuốn hút trẻ vào các trò chơi và đồ chơi để trẻ quên đi nỗi nhớ bố mẹ, ông bà. Cô cho trẻ xem tranh, ảnh minh họa các nội dung câu truyện, bài thơ, cô mở tranh truyện cho trẻ xem, cô có thể kể chuyện theo nội dung bức tranh để lôi cuốn trẻ, giúp trẻ quên đi sự sợ hãi, trẻ cảm thấy vui vẻ, hứng thú với những câu chuyện, bài thơ. Sau mỗi lần kể cô có thể đàm thoại về nội dung bức tranh để trẻ trả lời. Từ đó, cô phát triển được ngôn ngữ cho trẻ và hiểu ngôn ngữ của trẻ. Hình ảnh 1.1: Hình ảnh cô cùng trẻ chơi trò chơi chi chi chành chành Hình ảnh 1.2: Hình ảnh cô cùng trẻ chơi trò chơi nu na nu nống + Môi trường trong lớp Môi trường trong lớp rất quan trong đối với trẻ vì hàng ngày trẻ hoạt động trong lớp là chính. Vậy nên tôi đã lựa chọn và xây dựng những khu vực hoạt động của trẻ một cách hợp lý, bắt mắt nhằm tạo cho trẻ có cơ hội trải nghiệm, phát triển ngôn ngữ, phát triển vốn từ cho trẻ trong các hoạt động. Hình ảnh 1.3: Môi trường trong lớp - Ở góc sách - truyện thì cô cho trẻ xem tranh truyện trong chủ đề, bộ rối tay, rối ngón tay, rối bông... Khu vực này cần có nhiều gối để trẻ có thể thư giãn, thoái mái ngồi, nằm xem tranh truyện. Bên cạnh đó là chiếc bàn nhỏ xinh để trẻ có thể đặt sách truyện lên
  3. và “xem sách”. Ngoài cách giở xem sách truyện, có thể hướng dẫn trẻ đọc những câu đơn giản, phù hợp với bức tranh đó... Cô đọc các từ để trẻ nói theo các từ, câu đơn giản về con vật, cây, quả, những hành động của con vật... - Góc bé hoạt động với đồ vật: Các khối để trẻ xếp chồng, xếp cạnh; Hột hạt, dây xâu - Góc thao tác vai: Búp bê, đồ dùng chăm sóc búp bê ăn ngủ, đồ chơi nấu ăn, một số loại rau củ quả + Môi trường ngoài lớp: Tủ đựng đồ cá nhân của trẻ cũng được đặt ngoài cửa lớp có dán ký hiệu để trẻ dễ dàng nhận thấy tủ đồ của mình. Mỗi lần trẻ lấy, cất đồ dùng cá nhân cô hỏi trẻ tủ con đâu? Con tên gì? Hình ảnh 1.4: Tủ đồ dùng cá nhân của trẻ Trên các cây đều có biển tên cây. Mỗi khi cho trẻ hoạt động ngoài trời cô cho trẻ đọc tên các loài cây, tên hoa, màu hoa, lá. Cô hỏi trẻ để trẻ nói tên đồ chơi ngoài trời như: đu quay, cầu trượt b) Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng giáo dục ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi A2 thông qua một số hoạt động hàng ngày ở Trường mầm non. * Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua giờ đón, trả trẻ Giờ đón trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, lôi cuốn trẻ tới trường, tới lớp cô phải thật gần gũi, tích cực trò chuyện với trẻ. Vì trò chuyện với trẻ là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mới có thể cung cấp, mở rộng vốn từ cho trẻ. Ví dụ: Cô trò chuyện với trẻ về gia đình của trẻ: + Gia đình con có những ai? + Trong gia đình con yêu ai nhất? + Mẹ yêu con như thế nào? + Buổi sáng ai đưa con đến lớp?
  4. + Bố con đưa đi bằng phương tiện gì? - Như vậy khi trò chuyện với cô, trẻ tự tin vào vốn từ của mình, ngôn ngữ của trẻ nhờ đó mà được mở rộng và phát triển hơn. - Ngoài ra trong giờ đón trẻ, trả trẻ tôi luôn nhắc trẻ biết chào ông, bà, bố, mẹ như vậy kích thích trẻ trả lời câu trọn vẹn bên cạnh đó giáo dục trẻ có thói quen lễ phép, biết vâng lời. Hình ảnh 2.1: Cô và trẻ trò chuyện khi đến lớp Hình ảnh 2.2: Cô và trẻ trò chuyện trước khi về * Thông qua giờ chơi – tập Trong góc vận động của lớp tôi đã phân loại màu xanh, đỏ, vàng của những chiếc vòng để khi trẻ phân biệt màu không bị nhầm lẫn. Khi trẻ chơi với vòng tôi có thể hỏi trẻ giúp ngôn ngữ của trẻ thêm mạch lạc, rõ ràng hơn: + Vòng này có màu gì hả con? (Vòng màu đỏ ạ) + Thế còn vòng này có màu gì đây? (Vòng màu xanh ạ) + Vòng để làm gì con có biết không? (Vòng để học, để chơi trò chơi ạ) + Con sẽ chơi gì với vòng? (Con lái ô tô ạ) Hình ảnh 2.3: Cô và trẻ vận động với vòng * Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động chơi ở các góc: Trong một giờ hoạt động chung trẻ không thể phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện được mà phải thông qua các hoạt động khác trong đó có hoạt động góc.Với đặc điểm trẻ thường xuyên nói chuyện một mình, thích nói chuyện với đồ chơi và bắt chước làm người lớn, tại các trường mầm non thường có các góc hoạt động với đồ vật, góc bế em nhằm cho trẻ phát huy sở thích của mình, kích thích khả năng ngôn ngữ của trẻ nhỏ. Ví dụ: Trò chơi trong góc “Thao tác vai” trẻ được chơi với em búp bê và khi trẻ chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày.
  5. + Búp bê của chị ngoan nào! Hình ảnh 2.4: Trẻ đang chơi bế em + Để chị xúc bột cho em ăn nhé! Hình ảnh 2.5: Trẻ cho em ăn + Bột vẫn còn nóng lắm để chị thổi cho nguội đã! Hình ảnh 2.6: Trẻ giả vờ thổi cho nguội + Búp bê của chị ăn ngoan rồi, chị cho búp bê đi chơi nhé! (Âu yếm em búp bê) - Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe, hiểu giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương, gắn bó của con người. * Giáo dục ngôn ngữ thông qua chơi ngoài trời Tôi nhận thấy trẻ sẽ vô cùng vui sướng và hào hứng khi được cô giáo cho ra ngoài sân trường, khi ra ngoài sân trường các con được tiếp xúc với không gian rộng rãi, cảm nhận được thời tiết trong ngày, được chơi với đồ chơi ngoài sân trường, được nhìn, được sờ vào rất nhiều cây, hoa và các loại rau, các loại quả có trong vườn trường. Ra ngoài trời trẻ được gặp gỡ tiếp xúc với các bạn, các anh chị trong trường, những cảm xúc và sự giao lưu trực tiếp với thế giới xung quanh là điều kiện để trẻ học thêm những từ mới, học cách nói đủ câu, giúp trẻ ngày càng tự tin giao tiếp khi. Nắm được giá trị của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động ngoài trời như vậy nên tôi luôn có sự nhạy bén, quan tâm đến trẻ và đặt ra những câu hỏi về sự vật hiện tượng hiện ra ngay trước mắt trẻ để trẻ được nói nhiều, biết nhiều. Ngoài sân luôn có rất nhiều đồ chơi khác nhau nên tôi luôn khuyến khích trẻ nói tên đồ chơi: Đu quay, cầu trượt, xích đu, thú nhún, bập bênh.., đồng thời trò chuyện với trẻ về cách chơi đồ chơi đó. Ví dụ: Hàng ngày đi dạo chơi quanh sân trường tôi thường xuyên đặt câu hỏi và giới thiệu cho trẻ biết cây xanh, cây hoa ở vườn trường và hỏi trẻ: + Cây hoa này có màu gì? (Trẻ trả lời: Hoa có màu tím ạ)
  6. + Thân cây này to hay nhỏ? (Thân cây to ạ) + Lá có màu gì? (Lá màu xanh ạ) Hình ảnh 2.7: Cô cho trẻ quan sát cây xanh Giáo dục trẻ không được hái hoa, bẻ cành mà phải tưới cây, bảo vệ cây để cây mau lớn nhé! (Trẻ trả lời) Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích lũy được những vốn từ mới ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc, rõ ràng hơn. Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ, nói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại từ đó hình thành cho trẻ kĩ năng nghe nói. Hình ảnh 2.8: Cô nói mẫu cho trẻ nhắc lại * Thông qua giờ nhận biết tập nói: Đây là hoạt động học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp vốn từ vựng cho trẻ. Trẻ ở lứa tuổi 24 - 36 tháng đang bắt đầu học nói, kỹ năng phát âm chưa hoàn chính, vì vậy trẻ thường nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết dạy cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ, bên cạnh đó cô phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu không nói cộc lốc. Ví dụ: Trong bài nhận biết tập nói “Búp bê”, cô chuẩn bị búp bê, để cho trẻ quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các giác quan như: sờ, nhìn,... nhằm phát huy tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích. Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ thống câu hỏi: + Cô có gì đây? (Cô có búp bê ạ) + Búp bê mặc váy màu gì? (Váy búp bê màu đỏ ạ) + Búp bê đi giày màu gì đây? (Giày màu đỏ ạ)
  7. + Đây là búp bê gái, hay búp bê trai? (Đây là búp bê gái ạ) Hình ảnh 2.9: Cô cho trẻ nhận biết tập nói “Búp bê” Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói thiếu từ cô phải sửa ngay cho trẻ, và cho trẻ nói lại nhiều lần. * Thông qua giờ thơ, truyện: Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ cũng học thêm được các từ mới qua giờ học thơ, truyện. Để giờ thơ, truyện đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ thì đồ dùng phục vụ cho tiết học phải đảm bảo: + Đồ dùng phải đẹp, phong phú nhằm thu hút trẻ. Hình ảnh 2.10: Đồ dùng phục vụ tiết truyện + Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật. Hình ảnh 2.11: Cô kể chuyện diễn cảm Ví dụ: Trong câu truyện “Cây táo” ngoài việc giúp trẻ thể hiện ngữ điệu, sắc thái tình cảm của các nhân vật trong truyện tôi còn sửa sai những từ trẻ hay nói ngọng để giúp trẻ phát âm chuẩn và động viên những trẻ nhút nhát mạnh dạn hơn khi trả lời. + Trẻ hay nói ngôi nhà - ngôi nà. + Trẻ nói gà trống - Gà tống + Bươm bướm – Bươn bướn - Mỗi khi trẻ nói sai tôi dừng lại sửa sai luôn cho trẻ bằng cách: tôi nói mẫu cho trẻ nghe 1-2 lần sau đó yêu cầu trẻ nói theo.
  8. - Thể hiện sắc thái, ngữ điệu nhân vật sẽ cuốn hút rất nhiều trẻ tham gia đặc biệt những trẻ nhút nhát qua đó cũng mạnh dạn hơn. Đối với những trẻ đó tôi động viên, khích lệ trẻ kịp thời. - Tôi cho trẻ thể hiện ngữ điệu của các nhân vật trong truyện “Cây táo” + Giọng Gà trống gọi cây thì to rõ + Giọng cô bươm bướm gọi cây thì êm dịu - Như vậy thơ, truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ mà còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách toàn diện. Trẻ nhớ nội dung câu truyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện để tiếp thu kiến thức. Hình ảnh 2.12: Hình ảnh trẻ hứng thú nghe kể chuyện * Thông qua giờ âm nhạc: Để thu hút trẻ vào giờ học và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ được tốt hơn thôi thúc tôi phải nghiên cứu, sáng tạo những phương pháp dạy học tốt nhất có hiệu quả với trẻ. Đối với tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều đồ vật (Trống, lắc, phách tre, xắc xô và nhiều chất liệu khác) trẻ được học những giai điệu vui tươi kết hợp với các loại vận động theo bài hát một cách nhịp nhàng. Để làm được như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức vốn từ, kỹ năng nhất là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ của trẻ được tích luỹ và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật, giúp trẻ yêu âm nhạc. Hình ảnh 2.13: Trẻ được làm quen với dụng cụ âm nhạc Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ có mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những hình ảnh đẹp của bài hát. Ví dụ: Hát và vận động “Lời chào buổi sáng” Trước khi vào bài cô trò chuyện cùng với trẻ, hỏi trẻ: + Buổi sáng ai đưa con đến trường? + Trước khi đi học con chào ai?
  9. + Đến trường con chào ai? Khi vào bài cô hỏi tên bài hát, trẻ trả lời. Mỗi lần trẻ trả lời cô đều gợi mở cho trẻ nói, cô cho trẻ nói nhiều lần. Hát và vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ có mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những hình ảnh đẹp của bài hát. c) Biện pháp 3: Tuyên truyền và kết hợp với phụ huynh Để vốn từ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu được đó là sự đóng góp của gia đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trao đổi thống nhất về cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ cho phụ huynh nắm bắt được. Vì đây là trẻ nhà trẻ, trẻ bắt đầu tập nói tôi trao đổi với phụ huynh về ý nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và mong phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hàng ngày phụ huynh cần phải dành nhiều thời gian thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với các sự vật hiện tượng xung quanh, lắng nghe và trả lời các câu hỏi của trẻ. Ví dụ: Trong cuộc họp đầu năm tại lớp tôi có nêu tầm quan trọng của lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ đặc biệt là thông qua hoạt động dạy trẻ đọc ca dao, đồng dao, đọc thơ, kể truyện. Hình ảnh 3.1: Họp phụ huynh Trong giờ đón trả trẻ ngoài việc trao đổi với phụ huynh về tình tình sức khỏe, thói quen ăn ngủ, vệ sinh trong ngày của trẻ tôi còn trao đổi về tình hình học tập của cháu và chú trọng hơn về việc phát âm, diễn đạt ngôn ngữ của trẻ. Hình ảnh 3.2: Trao đổi với phụ huynh Bảng tuyên truyền là một phương tiện trao đổi gián tiếp của cô giáo với phụ huynh. Trong bảng tuyên truyền tôi sắp xếp một mục là thơ truyện bé học. Trong mục thơ truyện bé học tôi sưu tầm các bài thơ, câu chuyện hay có ý nghĩa, phù hợp với độ tuổi. Nhờ vậy phụ huynh có ý thức hơn trong việc giúp trẻ phát âm, diễn đạt ngôn ngữ một cách tốt nhất.
  10. Hình ảnh 3.3: Bảng tuyên truyền của lớp có những bài hát, bài thơ, câu chuyện Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay đa phần phụ huynh đều sử dụng điện thoại thông minh có zalo, facebook chính vì vậy mà tôi đã lập trang zalo, facebook riêng của lớp. Ngoài việc thông báo các sự kiện, bài học của trẻ ra tôi còn đăng các bài thơ, chia sẻ các video truyện lên trang để phụ huynh có thể dạy cho trẻ ở nhà. 3. Kết quả a. Kết quả đạt được Sau khi áp dụng các biện pháp vào các hoạt động trong ngày, trong thời gian vừa qua tôi thấy trẻ đã có sự tiến bộ hơn, trẻ đã có vốn từ khá phong phú, khả năng phát âm tốt hơn, các con nói mạch lạc, rõ ràng hơn, khả năng nghe và hiểu ngôn ngữ tốt hơn nhiều so với đầu năm. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng những phương pháp này ở các chủ đề còn lại và mong muốn kết quả trẻ sẽ đạt tỷ lệ cao. * Đối với giáo viên: - Tôi luôn gần gũi, sát sao trẻ mọi lúc, mọi nơi tạo cảm giác yêu thương, ấm áp giữa cô và trẻ, nắm rõ hơn đặc điểm riêng của từng trẻ. Từ đó tôi có những biện pháp giáo dục phù hợp với cá nhân trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện cho trẻ. - Tạo được lòng tin cho phụ huynh, rút ngắn khoảng cách giữa gia đình và nhà trường trong mọi hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. * Đối với trẻ: Đa số trẻ phát âm chuẩn, trẻ ngoan, tích cực tham gia vào các hoạt động cùng cô. Trẻ có tác phong mạnh dạn và tự tin hơn trong giao tiếp. Trẻ vui chơi thoải mái, gần gũi với cô. Vốn từ của trẻ phong phú hơn. Trẻ biết đưa ra yêu cầu với cô mỗi khi cần như: Muốn ăn, muốn uống nước, muốn đi vệ sinh, Trẻ biết đặt các câu hỏi: “Cô làm gì đấy? Cô đi đâu đấy? Cái gì đây? Trẻ nói được đủ câu. Đọc cùng cô các bài thơ, nhắc được tên bài thơ, tên truyện, tác giả. Trẻ nhớ các nhận vật trong truyện và nói tên nhân vật, nhắc lại được một số đoạnh hội thoại của truyện. Nói được tên một số loài hoa, đồ dùng, đồ
  11. chơi, Khả năng nghe hiểu ngôn ngữ của trẻ cũng tăng lên rõ rệt. Trẻ nghe cô nói và thực hiện đúng yêu cầu của cô. Trả lời đúng các câu hỏi mà cô đặt ra Nội dung đánh giá Tổng số Trước khi áp dụng biện Sau khi áp dụng biện pháp pháp Số trẻ đạt Tỷ lệ % Số trẻ đạt Tỷ lệ % Khả năng nghe hiểu 16 7 43 13 81 ngôn ngữ Vốn từ 16 8 50 12 75 Khả năng nói đủ câu, 16 6 37 13 81 rõ ràng, mạch lạc Khả năng giao tiếp 16 6 37 14 87 * Đối với phụ huynh: - Phụ huynh đã có sự hợp tác với những phương pháp, những kế hoạch phát triển ngôn ngữ mà tôi đưa ra cho trẻ ở lớp và ở tại gia đình trẻ. - Đã có sự phản hồi thường xuyên, liên tục về mức độ phát triển ngôn ngữ của con em mình ở nhà để giáo viên có những biện pháp tác động kịp thời đến trẻ. b. Điều chỉnh, bổ sung sau thực nghiệm - Ở thời điểm hiện tại cần tăng cường công tác tuyên truyền với phụ huynh thông qua nhóm zalo của lớp.