Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động làm quen chữ cái cho trẻ Lớp 5 - 6 tuổi A2 tại Trường Mầm non Chi Lăng
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động làm quen chữ cái cho trẻ Lớp 5 - 6 tuổi A2 tại Trường Mầm non Chi Lăng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_h.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động làm quen chữ cái cho trẻ Lớp 5 - 6 tuổi A2 tại Trường Mầm non Chi Lăng
- b) Hạn chế và nguyên nhân hạn chế Bên cạnh những thuận lợi còn có những khó khăn như sau: Đồ dùng đồ chơi phục vụ cho môn làm quen chữ cái chưa phong phú, đa số là các đồ dùng, đồ chơi đã cũ nên không hấp dẫn trẻ. Phụ huynh đa số đi công ty cho nên không có nhiều thời gian rèn khả năng nhận biết chữ và phát âm cho trẻ ở nhà, một số trẻ do bố mẹ đi làm ăn xa trẻ ở với ông bà nên việc dạy trẻ còn theo kiểu xưa cũ. Trẻ phát âm còn chưa tròn vành rõ chữ, phát âm chưa rõ ràng Trước khi áp dụng các biện pháp tôi đã tiến hành khảo sát các nội dung về việc tổ chức hoạt động làm quen chữ cái với 41 trẻ tại lớp tôi và thu được kết quả như sau: Nội dung Số trẻ Khảo sát trước khi áp dụng các biện pháp Đạt Tỉ lệ % Chưa đạt Tỉ lệ % Trẻ hứng thú, tích cực tham gia 41 26 63,4 15 36,6 hoạt động làm quen chữ cái Nhận biết chữ cái 41 17 41,4 24 58,6 Phát âm rõ ràng 41 25 60,9 16 39,1 Tập tô, viết, sao chép chữ cái 41 20 48,7 21 51,3 2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động làm quen chữ cái cho trẻ lớp 5 - 6 tuổi tại A2 trường mầm non Chi Lăng a) Biện pháp 1: Tạo môi trường chữ viết cho trẻ
- Tạo môi trường chữ viết trong và ngoài lớp là điều hết sức quan trọng khi cho trẻ làm quen với chữ cái. Vì vậy, tôi không ngừng nghiên cứu để tạo ra môi trường phong phú, đa dạng và luôn lôi cuốn sự tò mò của trẻ. *Tạo môi trường chữ viết trong lớp học: Như chúng ta đã biết, lớp học là ngôi nhà thứ hai của trẻ, phản xạ đầu tiên khi bé bước chân vào lớp là nhìn xung quanh xem có những gì và có đẹp không. Vì vậy các mảng chính như: Mảng chủ đề, các góc hoạt động phải được trang trí với màu sắc đẹp, tên gọi của các góc phải toát lên sự ngây thơ, ngộ nghĩnh. Lựa chọn cỡ chữ phải phù hợp, dán chữ ở độ cao vừa tầm mắt của trẻ, đặc biệt kiểu chữ phải chuẩn, màu sắc đẹp, phù hợp với hình ảnh minh họa ở mỗi góc. (Hình ảnh 1.1. 1.2 .1.3 Mảng chủ đề, góc chữ cái, góc phân vai) Dán nhãn vào mọi thứ đồ dùng trong lớp để trẻ thấy được đó là tên của đồ dùng và mối liên hệ giữa lời nói và chữ viết. Ví dụ: Cho trẻ làm quen chữ cái o, ô, ơ (chủ đề: Trường mầm non). Tôi đã cho trẻ ôn luyện bằng cách yêu cầu trẻ tìm chữ o, ô, ơ trong các từ (Chữ ô trong từ “Cô giáo”, chữ ơ trong từ “Lớp học” ) Ngoài ra tôi còn thu hút trẻ bằng cách tạo môi trường chữ ở các góc: Tạo hình, thư viện nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của trẻ. Ví dụ: Tổ chức cho trẻ làm album “Lớp học của bé”. Cô và trẻ sưu tầm tranh ảnh vật dụng có trong lớp của bé, yêu cầu trẻ tìm các chữ cái có trong hoạ báo cắt và ghép thành từ chỉ tên các loại đồ dùng. (Ví dụ: quả bóng, lọ hoa, ô tô ). Mỗi khi thay đổi đồ dùng, đồ chơi và các tiêu đề trên giá đồ chơi, tôi lại giới thiệu cho trẻ về chữ mới, từ mới để trẻ quan sát và làm quen với từ mới, tìm ra chữ cái đã học trong từ mới đó. * Tạo môi trường chữ viết ngoài lớp học: Môi trường ngoài lớp học như: Góc thiên nhiên, góc tuyên truyền với phụ huynh, hành lang, cầu thang, khu vực để đồ dùng cá nhân của trẻ Đây là nơi trẻ thường xuyên hoạt
- động nên có tác dụng ôn tập và củng cố chữ cái cho trẻ, vì vậy tôi thường tạo môi trường chữ ở những góc này. Ví dụ: Ở góc thiên nhiên có các loại cây, hoa. Tôi viết tên các loại cây hoa đó và cho trẻ tìm những chữ cái đã được học. ( Hình ảnh 1.4 ;1.5; 1.6 hành lang, cầu thang, góc thiên nhiên) b) Biện pháp 2: Nâng cao hình thức tổ chức hoạt động làm quen chữ cái Để giúp trẻ dễ nhớ, dễ hiểu, hứng thú hơn khi tham gia vào hoạt động làm quen chữ cái thì tôi thường xuyên nghiên cứu, tìm tòi các hình thức hấp dẫn và ứng dụng công nghệ thông tin vào từng hoạt động của giờ học chữ cái cho trẻ. * Đối với hoạt động làm quen chữ cái mới: Tôi nghiên cứu bài soạn, vạch ra kế hoạch hoạt động, đặt ra mục đích yêu cầu cho hoạt động và lên kế hoạch hoạt động cho cô và trẻ. Tôi chuẩn bị giáo án điện tử phù hợp với nội dung bài dạy và nội dung chủ đề. Muốn giờ học làm quen với chữ cái đạt hiệu quả cao và giúp trẻ chủ động tích cực tham gia vào hoạt động thì việc ứng dụng công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút sự chú ý của trẻ trong các hoạt động giáo dục. Ngoài ra tôi còn tìm cách giới thiệu bài hấp dẫn, biết cách tích hợp một cách khéo léo, có thể tích hợp bằng nhiều hình thức khác nhau. ( Video giờ học chữ cái a, ă, â tại lớp 5TA2) Ví dụ: Khi tổ chức cho trẻ làm quen chữ cái a, ă , â chủ đề “Bản thân”. Tôi đã tổ chức như sau 1. Ổn định:Cho trẻ hát và vận động bài “Mời bạn ăn” và đàm thoại, giáo dục chủ đề. 2.Tiến hành: Làm quen với chữ cái a, ă, â Tôi bật màn hình cho trẻ xem bức tranh về một số bộ phận trên cơ thể. Phía dưới có từ “Bàn tay”. Sau đó cho trẻ tìm chữ đã học trong từ “Bàn tay”. Sau đó tôi tiến hành cho trẻ làm quen với chữ cái theo trình tự: Bật màn hình cho trẻ xem chữ cái a. Cô phát âm mẫu chữ cái a. Trẻ phát âm theo lớp, tổ, cá nhân.
- Trẻ nêu nhận xét về cấu tạo chữ. (Chữ a gồm một nét cong hở phải và một nét sổ thẳng ngắn). Khi trẻ miêu tả về cấu tạo chữ xong, tôi bật màn hình và tạo hiệu ứng để các nét của chữ a hiện ra cho trẻ dễ hiểu. Củng cố lại cấu tạo chữ a và phân tích nét chữ: Tôi đã cho lần lượt từng nét chữ xuất hiện theo qui trình chữ như: Nét cong hở phải ra trước, sau đó đến nét sổ thẳng xuất hiện, tạo thành một chữ a. Hoặc tôi phân tích đến nét nào thì nét đó đổi màu chữ để trẻ dễ hiểu. Giới thiệu thêm chữ a in hoa, chữ a viết hoa và chữ a viết thường: Tôi cho lần lượt từng chữ xuất hiện trên màn hình để trẻ quan sát và phát âm. Trẻ nêu nhận xét về điểm giống và khác nhau của 3 chữ cái a theo kiểu chữ in thường, viết hoa, viết thường và in hoa. (Giống nhau ở cách phát âm, khác nhau ở nét chữ). (Chữ cái ă, â thực hiện tương tự như chữ cái a) So sánh chữ a và chữ ă, â: Cô hỏi: Chữ cái a, ă và â giống nhau ở điểm nào? (Đều có một nét cong hở phải và một nét sổ thẳng ngắn). Khi củng cố lại, tôi đã tạo hiệu ứng để nét cong hở phải của chữ a, ă và â xuất hiện cùng lúc, sau đó nét thẳng đứng lại xuất hiện tạo thành chữ cái a, ă và â (Khi tạo hiệu ứng tôi đã cho các nét chữ bay ra từ các hướng khác nhau. Ví dụ: nét cong hở phải bay ra từ bên phải, nét sổ thẳng đứng xuất hiện theo hướng từ dưới lên trên. Màu của nét cong hở phải là màu đen, màu của nét sổ thẳng là màu đỏ) Khi nhìn các hiệu ứng như vậy trẻ rất thích thú và chăm chú vào bài học. Cô hỏi: Chữ a, ă và â khác nhau ở điểm nào? (chữ cái a không có mũ, chữ ă có mũ ngược trên đầu và chữ â có mũ xuôi trên đầu). Khi trẻ trả lời xong, tôi củng cố lại trên màn hình bằng cách làm hiệu ứng cho dấu mũ của chữ ă và chữ â lần lượt xuất hiện. Như vậy trẻ rất dễ hiểu và cũng rất thích thú.
- Tôi sử dụng nhiều trò chơi hấp dẫn trên màn hình như trò chơi: “Chữ gì biến mất”, “Truy tìm chữ cái”... 3. Kết thúc: Nhận xét tuyên dương và chuyển sang hoạt động khác. * Đối với hoạt động trò chơi với chữ cái Khi cho trẻ chơi với chữ cái, tôi thường xuyên chọn lọc và tìm trò chơi phù hợp với từng nhóm chữ cái. Nếu trò chơi nào vừa được dùng ở bài hôm trước thì hôm sau tôi phải thay trò chơi mới để gây hứng thú cho trẻ. Một yêu cầu đặt ra đối với giáo viên là lượng kiến thức trong trò chơi phải ngắn gọn, dễ hiểu, luôn thay đổi hình thức để tránh nhàm chán cho trẻ. Khi tổ chức các trò chơi nên cho trẻ thi đua giữa các đội hoặc giữa trẻ này với trẻ khác nhằm khuyến khích sự nỗ lực phấn đấu của trẻ. Ngoài ra, khi tổ chức trò chơi còn phải biết kết hợp giữa trò chơi động và trò chơi tĩnh, cách giới thiệu cũng phải hấp dẫn và phù hợp với từng chủ đề. VD: Đối với giờ làm quen với chữ cái a, ă, â * Trò chơi: Ai nhanh nhất Yêu cầu trẻ sử dụng các nét cong tròn khép kín nét sổ thẳng, dấu mũ mà cô đã chuẩn bị để ghép thành chữa, ă, â theo yêu cầu của cô. * Trò chơi: Vòng quay kỳ diệu. Tôi đã tạo 6 ô số trên màn hình với 6 màu sắc rực rỡ khác nhau, trên mỗi ô số là một số (số 1, 2, 3, 4, 5, 6 ). Ẩn phía sau ô số là các chữ cái a, ă, â theo kiểu chữ in thường, viết thường và in hoa. Tôi chia trẻ làm 2 đội và yêu cầu 2 đội cùng thi đua nhau mở ô số. Lần lượt từng đội sẽ mở ô số. Khi ô số mở ra thì đội đó phải đọc tên chữ cái ẩn phía sau ô số và nói xem đó là kiểu chữ cái gì, in hoa hay in thường.... Qua cách dạy như vậy, tôi thấy trẻ rất hứng thú và sôi nổi trong giờ học vì thế kết quả thu được rất cao.( Video trò trẻ chơi trò chơi “ Vòng quay kì diệu” *Đối với hoạt động tập tô chữ cái:
- Đây là một hoạt động rất quan trọng hình thành nên những nét chữ và thói quen cầm bút đúng của trẻ. Vì vậy, tôi rất chú trọng tư thế ngồi cũng như cách cầm bút của trẻ. Tư thế ngồi của trẻ khi tham gia vào các hoạt động học tập quyết định phần lớn vào sự tập trung và hình thành ý thức học tập nghiêm túc khi ngồi vào bàn học đồng thời tạo cho trẻ có ý thức học tập, mang lại hiệu quả học tập cao. Ngồi đúng tư thế có 3 điểm tựa: Hai chân chạm đất, để song song, ngồi thỏa mái lên ghế, lưng thẳng, vai mở rộng, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25 - 30cm. Ngoài ra, kích thước của bàn ghế phải phù hợp với chiều cao của trẻ không nên để trẻ ngồi bàn quá cao hoặc quá thấp, nơi ngồi học phải có ánh sáng đảm bảo cho trẻ. (Hình ảnh 2.1 trẻ tập tô) Bên cạnh tư thế ngồi học đúng cách thì cách cầm bút cũng rất quan trọng đối với trẻ. Bởi nếu cầm bút sai thì việc điều khiển ngòi bút sẽ không linh hoạt, nét tô không đều và ngay ngắn. Trẻ cầm bút sai thường tô sẽ không đều và đẹp. Ngoài ra, việc cầm bút sai sẽ khiến bàn tay bị mệt mỏi, tốc độ tô chậm. Do đó, ngay từ đầu tôi đã chú ý rèn cho trẻ cầm bút đúng cách: Cầm bút bằng tay phải, cầm bút bằng ba đầu ngón tay (Cái, trỏ, giữa). Ngón cái và ngón trỏ cầm bút, ngón giữa đỡ bút. Đầu ngón trỏ cách đầu ngòi bút chừng 2,5cm. Khi hướng dẫn trẻ tô nét tôi thường nhắc trẻ tô trùng khít với nét chấm có sẵn tránh bị tô chờm ra ngoài, nhắc trẻ không được ấn bút quá mạnh. Ngoài ra, khi tổ chức cho trẻ tập tô chữ cái, tôi đã dùng máy ảnh chụp lại các trang vở mà trẻ chuẩn bị tô, sau đó đưa lên màn hình để trẻ nhìn cho rõ. Khi thực hiện tô mẫu cho trẻ, thay bằng việc cô tô mẫu trên vở, tôi đã làm trên máy với hiệu ứng cây bút chì thông minh, cây bút tự tô chữ cái trên màn hình theo đúng quy trình chữ. Như vậy, trẻ nhìn rất rõ, dễ hiểu và tập trung chú ý hơn. (Hình ảnh 2.2 cô hướng dẫn trẻ tô) c) Biện pháp 3: Lồng ghép tích hợp chữ cái vào các hoạt động học khác: * Thông qua hoạt động làm quen với văn học: Ví dụ: Chủ đề “Gia đình” tôi đã cho trẻ làm quen với chữ cái a, ă, â qua bài thơ: “Chiếc bóng” của tác giả Phạm Thanh Quang: “Giữa trưa hè nóng nực
- Bé đi bên hàng cây Dưới bóng râm tán lá Đôi má hồng hây hây Ơ kìa, đàn kiến nhỏ Xây tổ nắng chang chang Những cái đầu bé xíu Đội đất đi thành hàng Bé thương đàn kiến nắng Lấy mình làm bóng râm, Che mát cho đàn kiến Đang xây tổ âm thầm Bé từ biệt đàn kiến Về nhà, mẹ đang chờ Định để chiếc bóng lại Cho kiến mượn làm ô Bé đi bóng cũng bước Ý của bé chẳng thành Sao chiếc bóng xấu thế Không đứng được một mình”. Tôi chép bài thơ lên bảng cho trẻ đọc bài thơ theo tay chỉ của cô. Sau đó tôi chia trẻ làm 2 tổ, phía trên là 2 bảng tôi đã chép bài thơ. Tôi yêu cầu hai tổ cùng tìm và gạch chân chữ cái a, ă, â trong bài thơ.( Hình ảnh 3.1 bài thơ Chiếc bóng),( Video trẻ chơi trò chơi tìm và gạch chân chữ cái a, ă, â trong bài thơ) Chiếc bóng) Hoặc khi học chữ o, ô, ơ. Tôi đã cho trẻ đọc bài đồng giao nói ngược: “Trời mưa cho mối bắt gà Đòng đong, cân cấn đuổi gà xôn xao Lươn nằm cho trúm bò vào
- Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô Thóc giống đuổi chuột trong bồ Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu Chim chích cắn cổ diều hâu Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.” Khi đọc đoạn đồng giao này, trẻ sẽ được luyện phát âm và tìm chữ o, ô, ơ còn thiếu trong bài thơ. Với chuyện sáng tạo tôi cho trẻ làm quen với chữ viết thường và nhận biết được hướng đi của chữ. Ví dụ: Đối với truyện sáng tạo: “Dê con nhanh trí” ở chủ đề “Gia đình” Tôi kể chuyện cho trẻ nghe và gợi ý, trẻ sẽ tự đặt tên cho câu chuyện như: “Dê mẹ và dê con”, “Dê con biết vâng lời”, “Con chó sói gian ác”... những tên truyện mà trẻ đặt tôi viết lên bảng và khi viết tôi đọc từng chữ cái và trẻ được làm quen với các cụm từ đơn giản một cách hứng thú, từ đấy sẽ nhìn vào những câu truyện tranh để phát hiện và đọc những chữ cái. * Lồng ghép làm quen chữ cái vào hoạt động thể dục: Ví dụ bài “Bật liên tục qua 5 vòng thể dục” tôi đã lồng ghép chữ e, ê. Tôi xếp các vòng tròn, bên trong mỗi vòng tôi dán một chữ cái: Trẻ thực hiện động tác bật và kết hợp đọc chữ cái trong vòng tròn.
- Với bài thể dục này tôi tổ chức hình thức thi đua nên khi kết thúc phần thi xem đội nào thắng cuộc sẽ được tặng hoa, trong mỗi bông hoa có chứa chữ cái e, ê. Như vậy, thông qua hoạt động thể dục tôi đã vận dụng tích hợp được rất nhiều các chữ cái và tạo hứng thú cho môn học, vừa củng cố khắc sâu các chữ cái mới được làm quen. (Video trẻ bật liên tục qua 5 vòng thể dục kết hợp đọc chữ cái trong các vòng) * Thông qua hoạt động âm nhạc: Với nhóm chữ cái a, ă, â. Tôi đã cho trẻ hát bài “Chữ a, ă, â” (Một vòng tròn tròn, một nét cong cong, là chữ a, móc câu nằm trên thành chữ ă, a thêm mũ đội thành chữ â,....).(Hình ảnh 3.2 Trẻ học chữ cái trong giờ âm nhạc) * Lồng ghép vào hoạt động KPKH: (Trường mầm non của bé). Tôi cho trẻ chơi: Ô chữ bí mật o ô ơ ô o ơ Trong mỗi ô chữ là một chữ cái đã học, ẩn phía sau ô chữ sẽ là hình ảnh các đồ dùng đồ chơi trong trường mầm non. Khi chơi trẻ phải chọn cho mình một ô chữ, nếu đọc được tên chữ cái thì ô chữ mới được mở ra để xem trong ô chữ đó có đồ vật gì. * Thông qua hoạt động ngoài trời: Tôi đã tổ chức cho trẻ chơi trò chơi dân gian như: Rồng rắn lên mây. Khi đọc “Rồng rắn”, tôi yêu cầu trẻ phải cong lưỡi. Khi chơi tự do quanh sân trường, tôi cho trẻ phải đọc tên cây và tìm chữ cái đã học trong từ chỉ tên cây treo ở mỗi cây. (Hình ảnh 3.3 trẻ chơi trò chơi Rồng rắn) Tôi còn cho trẻ tìm và nhận ra các chữ cái viết thường, in thường, in hoa trong các bảng biểu treo ở sân trường như bảng nội quy, bảng thông báo. Tôi còn cho trẻ dùng hột hạt,
- sỏi, đá, lá khô nhỏ để xếp thành chữ cái đã học nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn về cấu tạo của các chữ cái. (Hình ảnh 3.4 cô và trẻ tìm chữ cái trên bảng nội quy) d) Biện pháp 4: Sáng tác, sưu tầm trò chơi, câu đố giúp trẻ làm quen với chữ cái. Trẻ mầm non “Học bằng chơi, chơi mà học” trẻ lĩnh hội tri thức một cách tự nhiên thoải mái, hứng thú sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Bởi vậy, sử dụng một số trò chơi câu đố trong làm quen với chữ cái là rất quan trọng. Để giải quyết nhiệm vụ học tập thông qua trò chơi đạt hiệu quả cao nhất, bản thân giáo viên phải hướng dẫn trò chơi sao cho trò chơi trở thành một hoạt động trẻ thích thú, trẻ cảm thấy gần gũi, phải xen kẽ giữa trò chơi tĩnh với trò chơi động để giúp trẻ củng cố, khắc sâu chữ cái vừa được làm quen. *Trò chơi: Ví dụ 1: Trò chơi “Thi ghép chữ nhanh” Yêu cầu: - Trẻ biết một từ trọn vẹn là do những chữ cái rời ghép lại. - Biết thứ tự các chữ trong từ - Làm quen dần với các từ đơn và từ ghép. Chuẩn bị: - Các thẻ chữ rời in thường và viết thường. - Bảng cài để gắn chữ cái. - Vòng thể dục. Cách chơi: Theo hình thức thi đua giữa các đội. Ví dụ 2: Ở chủ đề “Gia đình” sau khi học xong bài hát “Ba ngọn nến lung linh” tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Truyền tin”: Gắn các chữ cái đã học Yêu cầu: Trẻ phát âm chữ cái mà bạn đội trưởng đã lấy về Chuẩn bị: Các thẻ chữ cái
- Cách chơi: Cô cho trẻ đứng thành 2 hàng dọc, mỗi nhóm cử đại diện 1 bạn đội trưởng. Cô cho bạn đội trưởng xem lần lượt các thẻ chữ, trẻ này phải ghi nhớ tên thẻ chữ cái đó và chạy về chỗ, khi về đến hàng của mình, bạn đội trưởng sẽ nói thầm vào tai của bạn kế tiếp, cứ như vậy đến hết trẻ. Trẻ cuối cùng sẽ chọn thẻ chữ cái tương ứng gắn lên bảng. Đội thắng là đội nhận được thông tin chính xác, đúng tên thẻ chữ cái cô vừa đưa ra.( Video trẻ chơi trò chơi truyền tin) Ví dụ 3: Tranh xe đạp có từ “Xe đạp” thì cô ghép các thẻ chữ thành từ “X...đạp” (thiếu chữ e) Yêu cầu trẻ lên tìm chữ còn thiếu trong từ và gắn vào cho phù hợp để tạo thành từ hoàn chỉnh. Trẻ sẽ phải tìm chữ e, ê đế gắn vào và cho trẻ đọc từ đó. (Hình ảnh 4.1 trẻ tìm chữ còn thiếu trong từ dưới tranh) *Câu đố: Để góp phần giúp trẻ nhận biết phân biệt các chữ cái đã được là quen một cách sâu sắc, tôi đã sáng tác sưu tầm một số câu đố về chữ cái đơn giản và dễ hiểu: Ví dụ 1: Nét tròn em đọc chữ o Khuyết đi một nửa sẽ cho chữ gì? Đố là chữ gì? (c) Ví dụ 2: Bình thường em đọc chữ u Khi em quay ngược chữ u ra chữ gì? Đố là chữ gì? (n) Ví dụ 3: Chữ gì một nét cong tròn Bên phải nét thẳng, trên đầu có ô?

