Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần Lớp 1

doc 33 trang Chăm Nguyễn 30/12/2025 150
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_h.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần Lớp 1

  1. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Giai đoạn tuổi thơ của con người có nhiều mốc cực kỳ quan trọng: biết đi, biết nói, đi học phổ thông và đi làm. Mỗi cá thể trẻ em đi qua một phần duy nhất của những mốc đó trên một đoạn đường thời gian. Tròn 6 tuổi tạm biệt ông bà, cha mẹ bé đến trường phổ thông với thầy cô giáo, với bạn bè đồng lứa tuổi để tiếp thu nền văn minh nhân loại đã được tinh chế bằng phương pháp nhà trường. Vào lớp 1, trẻ trở thành “học sinh Tiểu học” hoạt động vui chơi không còn là chủ đạo nữa, thay vào đó là hoạt động học tập để lĩnh tri thức hoàn toàn khác trước. Sự chuyển đổi có tính chất bước ngoặt này có tác động rất lớn đến đời sông tâm lý của trẻ. Vì thế người giáo viên phải nắm chắc được điểm này để giúp trẻ “chuyển giai đoạn” một cách tự nhiên, không quá khó khăn. Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng ở trẻ 6, 7 tuổi khối lượng bộ não đạt tới 90% khối lượng bộ não người lớn. Sự chín muồi về mặt sinh lý cùng sự phát triển của quá trình tâm lý (như cảm giác, tri giác, trí nhớ) tạo điều kiện để các em có thể thực hiện hoạt động mới: hoạt động học tập. Nhưng cũng chính do hoạt động có ý thức này còn mới mẻ nên có ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ, đôi khi làm giảm hiệu quả học tập. Chẳng hạn khi đến lớp các em phải học thuộc bài, phải kiểm tra bài, ngồi đúng vị trí thật ngay ngắn. Bởi thế nhiều học sinh lớp 1 vẫn hay rụt rè, sợ học, thậm chí không dám đọc to, đọc lạc cả giọng, làm cho hiệu quả của giờ Học vần không được cao. Thêm vào đó, học sinh Tiểu học rất hăng hái và ham thích vận động. Tính hiếu động này kèm theo việc học sinh chưa biết điều khiển hoàn toàn hành vi của mình, dẫn đến hiện tượng dễ bị kích động, không kiềm chế được hành vi của mình, vô tổ chức. Nhưng không phải vì thế mà ta cấm trẻ vận động, ngược lại cần làm cho tính hiếu động được biểu hiện dưới những hình thức đúng đắn. Các trò chơi vận động để rèn luyện thân thể, phát triển tư duy được vận động đứng thời điểm là rất thích hợp. ở lứa tuổi này năng lực vận động của trẻ cũng đạt 2/31
  2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. được những bước phát triển đáng kể. Các em có thể chủ động điều khiển các hoạt động của cơ thể như tay, mắt, đầu, cổ, phối hợp thành nhiều động tác khác nhau. Đây là điều kiện để các em có thể học đọc, học viết, hoạt động đòi hỏi sự chủ động của cánh tay cùng với mắt nhìn, tai nghe, tay viết. Đồng thời ý thức về cấu trúc không gian của trẻ cũng đã hình thành, sự phân biệt bên phải, bên trái, bên trên, bên dưới, không còn là điều khó khăn. Dựa vào đặc trưng này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh định hướng nét bút trên trnag giấy và tập viết các kiểu chữ cái khác nhau. Cũng cần lưu ý ở học sinh lớp 1, các khớp xương chưa hoàn thiện, đa phần là sụn nên cần uốn nắn các em tư thế ngồi, cách cầm bút ngay từ đầu nếu không sẽ trở thành cố tật rất khó sửa. Và không nên bắt các em tập viết quá nhiều sẽ gây sự mệt mỏi, chán nản, làm giảm hiệu quả của giờ học. Người giáo viên Tiểu học cần hiểu rõ những đặc điểm này để giúp những trẻ em lần đầu tiên cắp sách tới trường làm quen với kiến thức mới một cách thoải mái, không quá khó khăn. Nếu có phương pháp dạy phù hợp, chắc chắn với học sinh lớp 1 mỗi ngày đi học sẽ là “một ngày vui” theo đúng nghĩa của nó. III. Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu và thực nghiệm đề tài này tôi đã căn cứ vào các tài liệu như: - Chuẩn kiến thức kĩ năng Tiếng Việt lớp 1. - Phương pháp dạy môn Tiếng Việt. - Sách Tiếng Việt 1. Để thực hiện nội dung của đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: - Đánh giá quá trình dạy Tiếng Việt từ những năm trước và năm gần đây. - Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh. - Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu IV. Mục đích nghiên cứu: - Môn Tiếng Việt lớp 1 là nền móng của bậc Tiểu học. Dạy Tiếng Việt lớp 1 có nhiệm vụ rất lớn lao là trao cho các em cái chìa khóa để vận dụng chữ viết khi học tập và là công cụ để các em sử dụng suốt đời. Đối với học sinh lớp 1 yêu 3/31
  3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. cầu cơ bản và quan trọng nhất trong học Tiếng Việt là đọc thông viết thạo mà cần thiết hơn cả là chất lượng chữ viết. - Khi đủ tuổi vào lớp 1, các em đã phát âm được một số âm và các tiếng của mẹ đẻ. Một số em đã học mẫu giáo thì nhận diện được chữ cái, biết gọi tên các chữ cái trong chữ nhưng chưa biết dùng kí hiệu để ghi lại từng âm vị. Môn học Tiếng Việt giúp các em nắm được kiến thức về ngôn ngữ, học để giao tiếp bằng ngôn ngữ, học để cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và phần nào hiểu được những vấn đề của cuộc sống. V. Thời gian nghiên cứu: - Từ tháng 9/2016 đến tháng 3/2017. 4/31
  4. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Phần ii: giải quyết vấn đề I. cơ sở lý luận Trước khi đến trường, trẻ đã có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh đầy bí ẩn, đó là nhu cầu nhận thức. Nhu cầu này được cụ thể hóa và hình thành mạnh mẽ hơn ở trẻ đầu lớp 1. Đây là để thỏa mãn chính nhu cầu hiểu biết của mình. ở trẻ 6, 7 tuổi nhận thức cảm tính chuyển dần từ không chủ động sang chủ động. Tri thức của trẻ bắt đầu mang tính chất phân tích. Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của học sinh lứa tuổi này chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ logic. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những học sinh lớp 1 chưa tốt và thiếu bền vững bởi quá trình ức chế ở bộ não của các em còn yếu. Vì vậy các em dễ quên điều cô giáo dặn cuối buổi học, bỏ sót chữ cái trong từ, bỏ sót từ trong câu. Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định học sinh tiểu học thường chỉ tập trung và duy trì được sự chú ý liên tục khoảng 30 – 35 phút, chế độ này tùy thuộc vào nhịp độ học tập cũng như nội dung dạy học của giáo viên. Trên cơ sở ý thức đã hình thành, khả năng tư duy bằng tín hiệu ở trẻ cũng phát triển. Đây là cơ sở để các em lĩnh hội chữ viết, những tín hiệu thay thế ngữ âm. Trẻ đã thực sự bắt tay vào việc lĩnh hội nền văn hóa với tư cách là sản phảm của cả loài người, nhờ đó mà trẻ dần dần vượt khỏi phạm vi kinh nghiệm trực tiếp của mình. Các chức năng của não được kích thích phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện để kiểu tư duy trực quan hình tượng chuyển dần sang tư duy trìu tượng. II. Cơ sở thực tiễn. Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học không có ý nghĩa tuyệt đối mà mang một ý nghĩa tương đối. Ở đây vai trò của nội dung dạy học và phương pháp dạy học mới là đặc biệt quan trọng. 5/31
  5. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Người giáo viên tiểu học cần hiểu rõ về Học vần, phân môn nhằm tạo kỹ năng và thói quen mới tích cực cho học sinh, nó không thể có được nếu không lặp đi lặp lại các hành động cần thiết. Do đó trong quá trình dạy vần giáo viên cần cho học sinh đọc nhiều, viết nhiều ở mức có thể. Đồng thời phải thay đổi thường xuyên nội dung đọc – viết để việc học trở nên sinh động, hứng thú, thu hút trẻ một cách tự nhiên, thoải mái. Cũng bởi Học vần là hoạt động có ý thức, nên trong dạy vẫn cần đảm bảo cho học sinh hiểu được những gì mà các em đã học, đã viết. Nếu đánh vần từng chữ một cách máy móc mà không cần biết đến ý nghĩa của câu chữ thì sẽ làm hạn chế kết quả học tập. Người giáo viên cần có biện pháp hướng dẫn các em nắm được nghĩa của những câu từ mình đã đánh vần, đã tô nháp qua các hình thức trò chơi, kể chuyện, tạo được các tình huống ngôn ngữ làm cho hoạt động đọc – viết có ý nghĩa, nâng cao chất lượng môn Học vần. III. thực trạng: Qua nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy ở tiểu học các em thường coi nhẹ môn Học Vần vì các em cho rằng môn Học Vần là môn dễ, không phải suy nghĩ như môn Toán mà chỉ cần phát âm đúng là được. Các em cũng chưa để ý đến việc đọc của mình như thế nào. Một số ít học sinh phát âm sai do thói quen đã có từ trước hoặc do tiếng địa phương. Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng phần lớn các em chỉ biết bắt chước cô một cách tự nhiên. iv. một số biện pháp giúp nâng cao hiệu quả dạy Học vần lớp 1. 1. Chuẩn bị cho học sinh học vần. Lần đầu tiên bước chân vào trường Tiểu học trẻ còn rất nhiều bỡ ngỡ, còn mải chơi, chưa chú tâm học hành và cũng chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học. Điều quan trọng là giáo viên phải uốn nắn dần dần, từng bước giúp trẻ làm quen với các quy định cần thiết của học sinh Tiểu học nhưng không gò ép mà phải tiếp nhận thật thoải mái và hào hứng. Mỗi môn học đều có phương pháp riêng đặc trưng, cụ thể ở phân môn Học vần lớp 1, để giúp học sinh tốt cần lưu ý một số điều sau: 6/31
  6. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Ngay từ đầu năm học, giáo viên có thể dạy trẻ làm theo các hiệu lệnh của mình. Ví dụ như gõ thước một nhịp thì mở sách, gõ hai nhịp thì giơ bảng con lên, gõ ba nhịp thì lấy bộ chữ cái.Hay đặt thước ở đầu dòng thì phân tích vần, đặt ở dưới thì đọc trơn, đặt ở trên cùng thì đánh vần. Ngoài ra, học sinh còn phải được chuẩn bị tư thế mỗi khi đọc bài. Nếu ngồi đọc phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30 đến 35 cm, cổ và đầu phải thẳng, phải thở chậm và sâu để lấy hơi. Khi cô giáo gọi đọc phải bình tĩnh, không hấp tấp đọc ngay. Còn nếu đứng phải đàng hoàng, thoải mái, sách phải mở rộng và cầm bằng hai tay. Điều quan trọng là học sinh phải được đảm bảo về cơ sở vật chất. Cụ thể là: Phòng học: phải thoáng mát và có đủ ánh sáng theo quy định của y tế học đường. Ví dụ phải có tối thiểu là 4 bóng đèn nêông hoặc bóng đèn đỏ. Bảng lớp: treo vừa tầm mắt của học sinh, có màu sẫm. Bảng kẻ ô vuông 4,5cm, bảng gỗ hoặc bằng kim loại được phủ sơn chống lóa. Bàn ghế học sinh: phải phù hợp với độ cao của học sinh lớp 1. Tỉ lệ chiều cao của bàn ghế phải cân xứng, khi ngồi khuỷu tay học sinh ngang với mặt bàn để tạo dáng ngồi thẳng, tránh cận thị và cong vẹo cột sống. Bảng con, phấn, giẻ lau: đây là phương tiện ưu việt của học sinh nên cần lưu ý. Loại bảng hiện nay tương đối dễ viết và có kẻ ô phù hợp là loại bảng Hồng Hà, một mặt bảng có kẻ ô vuông khoảng 4cm, còn mặt kia có dòng kẻ ngang. Như thế sẽ thuận lợi cho học sinh tập viết. Trên đây là một số điều cần thiết lưu ý giúp học sinh làm quen dần với môi trường học tập mới. Có đảm bảo được như vậy mới có thể đề cập đến chuyện dạy tốt, học tốt môn Học vần lớp 1. 2. Áp dụng cụng nghệ thụng tin vào giờ dạy học vần. Trong sỏch Tiếng Việt ,học sinh tiếp thu kiến thức bằng kờnh hỡnh và kờnh chữ.Do đú nếu khụng thay đổi thỡ học sinh sẽ khụng được cập nhật với kiến thức mới thường xuyờn.Lớp tụi đó thu thập cỏc bài ỏp dụng cụng nghệ thụng tin để đổi mới phương phỏp giỳp học sinh học tập sụi nổi hơn. 7/31
  7. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Vớ dụ: Khi học sinh học bài học vần ụi – ơi -Sau khi học sinh ghộp vần , tiếng trờn bộ thực hành.Tụi cho học sinh xem video về mụn bơi. -Khi giảng từ mới tụi cho học sinh xem hỡnh ảnh trờn thực tế như: hỡnh ảnh đồ chơi và hỡnh ảnh ngúi mới. Khi hướng dẫn học sinh viết tụi cho học sinh quan sỏt video cỏch viết chữ ụi,ơi, ổi,bơi. Phần củng cố tụi cho học sinh chơi trũ chơi đuổi hỡnh bắt chữ 3. Sử dụng phiếu bài tập trong giờ dạy học vần. Phiếu bài tập sử dụng nhiều trong giờ hướng dẫn học nhằm củng cố kiến thức bài học và thay đổi hình thức dạy học, tạo cho học sinh biết hợp tác nhóm, tổ chức nhóm phát huy tính tập thể. Nó giúp học sinh lĩnh hội tốt kiến thức và tạo được không khí học tập sôi nổi. Ví dụ như khi dạy bài âm “tr”, trước khi dạy bài mới, giáo viên kiểm tra kiến thức của học sinh thông qua phiếu học tập. Âm trước các em học là âm “ng – ngh”. Để kiểm tra học sinh có nắm bài, học bài ở nhà tốt không, giáo viên đọc cho học sinh viết vào phần kiểm tra bài cũ ở phiếu. Viết: ng, cá ngừ ngh, củ nghệ Vào tiết hướng dẫn học, sau khi cho học sinh viết chữ “tr”, cho các em lấy phiếu học tập và viết vào phiếu một dòng “tr”. Trong khi học sinh dưới lớp viết, giáo viên có thể gọi hai học sinh lên bảng viết “tr” và cho học sinh nhận xét bạn viết. Phương pháp vừa giúp học sinh nhớ âm, viết đẹp, viết đúng, vừa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học. Ngoài ra, viết vào phiếu học tập cũng giúp các em hạn chế dùng phấn viết bảng con, biện pháp vừa lâu, vừa bụi, vừa mất trật tự bởi đây là học sinh lớp 1. Một loại bài tập nữa cũng được sử dụng trong phiếu học tập là bài tập điền âm. Nó giúp học sinh biết tư duy, sáng tạo và nhất thiết phải hiểu, nắm chắc bài mới làm tốt được. Chẳng hạn bài tập điền âm “k, c” vào chỗ chấm. ẻ, ô, ì, á. 8/31
  8. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Học sinh phải hiểu và thuộc âm “k, c” mới làm bài được và phải nhớ âm “k” chỉ ghép được với ba âm: e, ê, i; âm “c” không ghép với ba âm đó thì sẽ làm tốt bài. Hay ở bài âm “tr” giáo viên cho học sinh làm bài tập điền “tr” hay “ch” vào chỗ chấm: ở về che ở a mẹ Bài này yêu cầu học sinh phải biết phân biệt so sánh cách phát âm của hai âm. Muốn học sinh làm tốt bài, giáo viên nên cho các em so sánh âm “tr”, “ch” từ đó áp dụng vào bài làm. Thêm vào đó học sinh phải hiểu được nghĩa của từ mà mình cần điền. Giáo viên có thể là người giúp các em hiểu nghĩa của các từ đó, khi đã hiểu nghĩa của các từ, học sinh sẽ hứng thú và tự tin khi làm bài. Loại bài này với học sinh khá giỏi thì làm tốt song với học sinh trung bình và yếu thì giáo viên nên có sự gợi mở, dẫn dắt cho các em, tránh tình trạng học sinh ngại khó, bỏ bài không làm. Một loại bài cũng có thể thường sử dụng trong phiếu là tìm âm, tiếng mới trong các câu ứng dụng. Loại bài tập này rất rộng, giáo viên có thể viết những câu gồm nhiều tiếng mà các em đã được học sau đó yêu cầu học sinh đọc trơn, to các câu đó rồi gạch chân vào phiếu các tiếng có chứa âm mới mà các em vừa được học. Giáo viên cũng có thể viết câu mà các em chưa đọc được hết vì văn bản ấy có chứa tiếng, âm vần mà học sinh chưa được học. ở kiểu bài này chỉ yêu cầu học sinh gạch chân âm mới, không cần phải đọc. Loại bài tập này giúp phát huy trí lực cho học sinh, gây sự tò mò, kích thích hứng thú học tập của học sinh, giúp tiết học không còn nhàm chán. Loại bài tập mà học sinh rất thích đó là nghe đọc viết. Hình thức: Giáo viên là người đọc các âm, từ mới cho học sinh viết vào phiếu. Loại bài tập này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh tạo cho học sinh thói quen thi đua học tập. Với loại bài tập này, giáo viên có thể cho học sinh tham gia trò chơi thi viết nhanh lên bảng giúp các em có phản xạ nhanh, nhạy bén, thực tế hơn. Đồng 9/31
  9. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. thời loại bài tập này cũng giúp giáo viên đánh giá đúng sự hiểu bài và sức học của từng học sinh. Trên đây là một số loại hình bài tập mà giáo viên lớp 1 có thể áp dụng với hình thức phiếu bài tập để hướng dẫn truyền đạt kiến thức cho học sinh trong giờ dạy học vần. Tất nhiên không thể áp dụng tất các loại bài tập trên vào phiếu học tập trong một giờ học, vì như vậy không đủ thời gian. Cần có sự lựa chọn cho phù hợp đảm bảo tiết dạy đủ thời gian. Cần có sự lựa chọn cho phù hợp và cũng cần lưu ý đến từng đối tượng học sinh. Có như vậy giờ Học vần mới đem lại kết quả như mong muốn. 10/31
  10. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Hướng dẫn học Môn: Tiéng Việt Bài 1. Điền g hay gh: nhà ...a ế ..ỗ .e đò tủ .ỗ i vở .ồ ..ề .à .ô .é qua Bài 2: Điền i hay ia: ` tờ b ` .. th . to lá m .. ` b .ve th ...là m ` ...gà Hướng dẫn học Môn: Tiéng Việt Bài 1. Điền vào chỗ chấm: a) cuộc họp hoặc xe đạp: chiếc .. ...nhóm b) cặp da hoặc bập bênh: đeo .. chơi .. Bài 2: Điền vào chấm ap hay at? th .bút bút s bãi c . rạp h . x ..gạo vở nh .. 11/31
  11. Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Hướng dẫn học Môn: Tiéng Việt Bài 1: Nối các tiếng có âm đầu giống nhau (theo mẫu): lê cá cò lá hổ hồ Bài 2: Điền chữ: .ồ ba l .  v .. ..ổ Bài 3. Nối tiếng với tiếng để tạo thành từ đúng: thể mỏ vé chú củ đủ lơ đỗ chả xe bì thư thợ lệ cô vở chó từ thi mơ kẻ cá đu xù 12/31