Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất cho trẻ 5- 6 tuổi ở trường Mầm non
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất cho trẻ 5- 6 tuổi ở trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_g.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất cho trẻ 5- 6 tuổi ở trường Mầm non
- -Đề tài được nghiên cứu tại lớp 5-6 tuổi A1 do tôi đang chủ nhiệm -Từ tháng 9 năm 2016:Xây dựng đề cương nghiên cứu. -Từ tháng 10/2016 đến tháng 3/2017:Tiến hành nghiên cứu đề tài. -Tháng 4:Viết đề tài. II. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận Chất lượng giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Có thể nói nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc lớn vào sự giáo dục của trẻ trong trường mầm non. Trường mầm non là ngôi nhà thứ hai của trẻ. Vì vậy cần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ và lao động. Tuy nhiên từ lúc lọt lòng mẹ đến lúc trưởng thành thì trẻ em phát triển qua nhiều thời kì khác nhau. Trẻ Mầm non (0 - 6 tuổi) là thời kì đầu tiên của con người, phát triển rất đặc biệt với tốc độ phát triển rất nhanh về mọi mặt và là thời kì có vị trí quan trọng .Và đặt tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách mai sau. Chính vì vậy người lớn đặc biệt là giáo viên mầm non và cũng chính là người dẫn dắt trẻ ở những bước đầu đời, phải nắm được đặc điểm tâm sinh lí ở lứa tuổi này để từ đó đưa ra những biện pháp giáo dục phù hợp cho tất cả các môn học để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng mà mọi nền giáo dục hướng tới. Vận động là nhu cầu tự nhiên của cơ thể, đặc biệt là với cơ thể đang phát triển như trẻ mầm non. Vai trò vận động đối với cơ thể trẻ đã được các nhà khoa học khẳng định ngay từ thế kỉ XVIII: “Cơ thể không vận động giống như nước trong ao tù”, “ Nguyên nhân chậm phát triển của cơ thể hài nhi là do thiếu vận động”. Cho nên vận động có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển cơ thể của trẻ. Vì vậy, khi lập chương trình giáo dục thể chất nhằm phát triển vận động cần dựa trên những cơ sở sau: + Các bài tập vận động phải phù hợp với từng độ tuổi làm sao gây hứng thú cho trẻ. + Các bài tập vận động phát triển được các kỹ năng, tố chất vận động. 3
- + Cần tăng cường ưu tiên các nhóm cơ bắp còn yếu về mặt sinh lí và giáo dục tư thế đúng cho trẻ, giúp trẻ có một thân hình cân đối, các động tác nhẹ nhàng, chính xác. + Sự phát triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo như trò chơi vận động, thể dục sáng, tiết học thể dục, dạo chơi, các trò chơi thể thao lao động. Do đó, phát triển tính tích cực vận động trong giáo dục thể chất cho trẻ em cần được tiến hành một cách mạnh mẽ, toàn diện, cần được sự quan tâm ủng hộ của toàn xã hội, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt nhất. 2.Khảo sát thực trạng * Đặc điểm tình hình nhà trường - Trường tôi là một trường nằm trên địa bàn thuộc 7 xã miền núi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Trường có 2 điểm trường một trung tâm và một điểm lẻ. Với tổng số 271 học sinh ,trong đó nhà trẻ 51 học sinh . và mẫu giáo 220 học sinh gồm 12 nhóm lớp, có 12 phòng học kiên cố. - Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên: 36 đồng chí Cán bộ quản lý: 3; Giáo viên: 25 ; Nhân viên: 8 Trong những năm qua, việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong trường còn có nhiều hạn chế.. Do trình độ, chuyên môn, tay nghề của giáo viên chưa đồng đều; Đa số giáo viên vừa học vừa làm. Bên cạnh đó phụ huynh thiếu quan tâm, chăm sóc giáo dục con, cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục . Vì vậy việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ nhằm thực hiện tốt chất lượng giáo dục phát triển, tiếp cận đổi mới giáo dục mầm non, phương pháp giáo dục trẻ một cách toàn diện là cần thiết. Với quyết tâm phấn đấu đạt trường tiên tiến, vì vậy ngoài những trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi phục vụ chăm sóc, giáo dục trẻ còn cần phải có nhiều biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Để thực hiện mục tiêu đó đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng của lớp mình tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn như sau: * Thuận lợi : - Được sự quan tâm của phòng giáo dục huyện Ba Vì hàng năm đã tổ chức chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ giáo viên. 4
- - Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện hiện đại được đầu tư đáp ứng yêu cầu giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay. - Được sự chỉ đạo của Ban giám hiệu về lịch trình và kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục, cá hoạt động ngoại khóa, - Giáo viên nhiệt tình, tận tụy, tâm huyết với nghề, yêu thương trẻ, có tinh thần trách nhiệm trong mọi công việc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sư phạm cho bản thân. - Trường lớp có quy mô gọn gàng, sạch sẽ, phòng học rộng rãi, có nhiều phòng hợp lí nên việc tổ chức giảng dạy và tổ chức các hoạt động cũng rễ ràng. - Sĩ số học sinh trong lớp có 29 cháu đều cùng ở 1 độ tuổi 5 tuổi. * Khó khăn - Phụ huynh ở trường tôi nghề nghiệp chính chủ yếu là làm nông nghiệp nên không ít phụ huynh chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của độ tuổi mẫu giáo. Còn xem nhẹ việc học ở độ tuổi này. - Nhận thức của phụ huynh về môn giáo dục thể chất không quan trọng mà chỉ là một môn phụ không cần quan tâm mà chỉ thích cho trẻ viết chữ, làm toán như lớp một phổ thông. - Sân tập còn chật hẹp, không có khu tập riêng biệt. - Số lượng học sinh trong lớp là nam chiếm 2/3 số học sinh và 1 cháu cá biệt vì vậy các cháu rất hiếu động và khó bảo. - Sự hứng thú học tập của trẻ chưa cao. Những thực trạng trên gây khó khăn trong việc truyền thụ kiến thức của cô và khả năng tiếp thu của trẻ đó là sự bất cập giữa gia đình và nhà trường nên tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của trẻ. * Số liệu điều tra trước khi thực hiện : Tổng số Kết quả trẻ Nội dung số lượng Tỉ lệ % Trẻ hứng thú, tích cực, 5/29 17,2 mạnh dạn 29 Trẻ hứng thú 6/29 20,6 Trẻ ít hứng thú 8/29 27,5 Trẻ không hứng thú 10/29 34, 4 5
- Nhìn vào bảng khảo sát trên tôi thấy những biện pháp thông thường, bài soạn dập khuôn, cứng nhắc chưa có biện pháp mới tác động thì chất lượng đạt được trên trẻ về các mức độ trung bình và yếu còn ở mức rất cao. Vì vậy tôi đã suy nghĩ làm thế nào để có biện pháp hữu hiệu nhất trong việc thực hiện nâng cao hiệu quả cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi phát triển giáo dục thể chất đạt hiệu quả cao. .3. Những biện pháp thực hiện 3.1 Biện pháp 1: Lập kế hoạch tổ chức cho trẻ vận động và xây dựng góc vận động. 3.2 Biện pháp 2: Tập luyện liên tục thừơng xuyên và đúng giờ ( Đối với thể dục sáng ) 3.3 Biện pháp 3 : Khuyến khích tính tự giác và tính tích cực của trẻ. 3.4 Biện pháp 4: Sử dụng đồ dùng trực quan. 3.5 Biện pháp 5: Lồng ghép các bài hát vào tiết thể dục và đưa bài tập Erobic vào bài tập phát triển chung. 3.6 Biện pháp 6: Phối kết hợp với gia đình, cộng đồng để giáo dục trẻ 3.7 Biện pháp 7: Tổ chức cho trẻ giao lưu vận đông với các trẻ lớp khác trong khối. 3.8 Biện pháp 8: Phối kết hợp với gia đình, cộng đồng để giáo dục trẻ: 4.Biện pháp thực hiện(Biện pháp từng phần) 4.1 Biện pháp 1: Lập kế hoạch tổ chức cho trẻ vận động và xây dựng góc vận động. Ngay từ đầu năm học dựa trên kế hoạch của nhà trường xây dựng và căn cứ vào nội dung trong chương trình theo độ tuổi, thời gian, thời điểm; Căn cứ vào mức độ phát triển, khả năng thực tế của trẻ, tôi đã xây dựng kế hoạch nội dung các vận động tập luyện cho trẻ, xác định độ khó của từng bài tập và sắp xếp theo trình tự để đưa vào hướng dẫn trẻ cho phù hợp đi từ dễ đến khó đảm bảo củng cố, phát triển những vận động trẻ đã biết, đồng thời chuẩn bị cho những kĩ năng vận động cao hơn. Khi lập được kế hoạch tổ chức rồi tôi thấy yên tâm và thực hiện rất hiệu quả. + Ví dụ: Kế họach tổ chức các hoạt động Giáo dục thể chất: STT THÁNG NỘI DUNG YÊU CẦU CẦN ĐẠT - Tung bóng lên cao và bắt - Tung bóng lên thẳng hướng, không 1 9 bóng. làm rơi bóng và bắt bóng bằng 2 tay. 6
- -Đi nối liền bàn chân tiến -Đi nối gót chân, đầu chân này nối vào lùi gót chân kia tiến về phía trước,lùi về phía sau. 2 10 - Đi trên ghế thể dục đầu đội - Đi thăng bằng trên ghế không làm rơi túi cát. túi cát. . -Bật xa - Chạm đất nhẹ nhàng bằng 2 dầu bàn chân và giữ được thăng bằng. -Bò theo đường dích dắc -Trẻ biết bò bằng bàn tay cẳng chân theo 3 11 đường dich dắc. -Ném xa bằng 1 tay. -Ném đúng kĩ năng. - Nhảy xa 50cm. - Nhảy xa tối thiểu 50cm. - Ném xa bằng hai tay, chạy - Ném đúng kỹ năng, chạy nhanh đúng 4 12 nhanh 10m. hướng - Ném trúng đích nằm - Biết cầm bao cát và ném trúng vào ngang. đích. 5 1 -Nhảy lò cò được ít nhất 5 -Nhaỷ lò cò được liên tục 5 bước về bước liên tục đổi chân theo phía trước và đổi chân theo yêu cầu. yêu cầu. - Chuyền bóng, bắt bóng qua - Chuyền đúng hướng, không làm rơi đầu. bóng. - Chạy chậm 100m. - Chạy chậm đều liên tục. - Trèo lên xuống ghế. - Trèo lên xuống phối hợp chân nọ tay kia. 6 2 - Ném trúng đích thẳng - Ném trúng bao cát vào đích. đứng. - Nhảy khép và tách chân, - Bật liên tục khép và tách chân đúng ô, tung và bắt bóng. tung bóng lên thẳng hướng và không làm rơi bóng. - Bò qua vật cản 15 – 20cm. - Biết cách bò và bò qua vật cản. 7 3 - Nhảy xuống từ độ cao - Biết phối hợp chân tay nhịp nhàng khi 7
- 40cm. nhảy. - Nhảy khép và tách chân 7 - Bật liên tục khép và tách chân đúng ô, ô, đập và bắt bóng. đập bóng xuống sàn khi bóng nảy lên thì bắt bóng. - Trườn sấp trèo qua ghế thể - Trườn áp sát ngực vào sàn nhà tay nọ dục. chân kia. - Chạy 18m trong khoảng 5- - Chạy nhanh đều. 7giây. 8 4 - Trèo lên, xuống ghế. - Trèo lên xuống phối hợp chân nọ tay kia. - Lăn bóng bằng 2 tay theo - Biết lăn bóng và di chuyển theo bóng đường dích dắc qua 5 hộp qua các hộp, không chạm vào hộp. cách nhau 60cm. - Bài tập tổng hợp: 9 5 + Bật khép tách chân. - Bật liên tục khép và tách chân đúng ô. + Ném đích ngang (1 tay) - Biết cầm bao cát và ném trúng vào đích. + Chạy nhanh 21m. - Chạy nhanh đều liên tục Sau khi xây dựng kế hoạch nội dung các vận động tập luyện cho trẻ tôi tiếp tục xây dựng “Góc vận động”. Xây dựng riêng góc vận động để thuận tiện cho trẻ sử dụng và tuyên truyền tới tất cả phụ huynh. Tôi sắp xếp các đồ dùng, dụng cụ để cho trẻ dễ lấy, dễ sử dụng mỗi khi hoạt động như: Thể dục sáng, giờ học thể dục, hoạt động ngoài trời trẻ có thể tự lấy đồ dùng, đồ chơi phù hợp với vận động mà giáo viên yêu cầu. Khi xây dựng góc vận động tôi nhận thấy trẻ lớp tôi tiến bộ nhiều hơn, trẻ tham gia vận động tự nhiên và tích cực hơn. Đồng thời phụ huynh lớp tôi thấy rõ được tâm quan trọng của giáo dục thể chất, họ quan tâm tới vận động của con mình, xem vận động này, vận động kia mà con mình thực hiện đến đâu và có thực hiện bài tập tốt không. Xây dựng Góc vận động. 4.2 Biện pháp 2: Thống nhất với giáo viên trong tổ nhóm. Sau khi lập kế hoạch tổ chức các hoạt động vận động cho trẻ ở lớp rồi tôi cùng các đồng chí ở trong tổ nhóm trao đổi để cùng thống nhất cách tổ chức và 8
- cùng nhau bàn bạc cách thực hiện. Cùng với các cô sáng tạo, nhiệt tình, yêu trẻ cùng tôi đã tìm ra những hình thức tổ chức cho trẻ tham gia vận động trong cũng như ngoài tiết học thu hút sự tham gia nhiệt tình, tích cực của trẻ. Và đặc biệt khi thống nhất với các giáo viên trong tổ nhóm thì đến tiết học giáo dục thể chất giáo viên nào thực hiện bài dạy trẻ cũng có thể truyền thụ kiến thức đến trẻ một cách tốt nhất và đồng nhất. 4.3 Biện pháp 3: Tập luyện liên tục thừơng xuyên và đúng giờ ( Đối với thể dục sáng ) Cần tăng cường thời lượng vận động cho trẻ ,tăng cường hệ thống bài tập vận động .Thể dục buổi sáng đối với trẻ em hàng ngày có ý nghĩa to lớn về giáo dục và sức khỏe cho trẻ em, đặc biệt là trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo và mầm non. Buổi sáng ngay sau khi ngủ dậy tập thể dục đơn giản, trẻ tích lũy được sự sảng khoái cho cả ngày.Các động tác trong bài tập thể dục sáng phải đảm bảo phát triển được nhóm cơ và hô hấp. Tập luyện thường xuyên, cơ thể trẻ nâng cao hoạt động của các cơ quan của cơ thể, thúc đẩy những kĩ năng vận động cần thiết, củng cố các nhóm cơ hình thành tư thế đúng đắn. Vì vậy, tôi cho trẻ tập thể dục sáng hàng ngày sau giờ đón trẻ. Thời gian tập khoảng 10 -15 ph út. Trang bị dụng cụ như: vòng, gậy, nơ, cờ, thể dục phù hợp với động tác và hấp dẫn đối với trẻ em để tạo hứng thú cho trẻ tập. Khi trẻ tập giáo viên quan sát cách đứng của trẻ, cần đứng thẳng, vai thả đều, không lên gân tay, cử động thoải mái, không cúi đầu. Chọn động tác và sắp xếp bài tập cho trẻ cần theo một số quy định. Bài tập phải có tác động hoàn thiện kỹ năng đi, chạy, trèo, ném thúc đẩy sự hình thành tư thế đúng, tạo sự hoạt động tích cực của các cơ quan hô hấp, tuần hoàn, các nhóm cơ, Trẻ tập thể dục sáng với gậy. 4.4 Biện pháp 4 : Khuyến khích tính tự giác và tính tích cực của trẻ. Giáo dục thể chất cho trẻ là một quá trình sư phạm, cho nên không những phải dạy trẻ biết bắt chước, mô phỏng, làm đúng động tác vận động mà phải thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng cho trẻ những ph ẩm chất đạo đức, khuyến khích trẻ ý thức tự giác, tích cực trong hoạt động. Những giờ học giáo dục thể chất đòi 9
- hỏi trẻ phải vận động tích cực, đôi khi điều đó quá dồn dập so với những hoạt động thường ngày của trẻ. Bên cạnh đó, cơ thể của trẻ còn non nớt, khả năng tập trung kém, khiến trẻ khó mà theo kịp nội dung của bài học. Nhiệm vụ của cô là phải thường xuyên bồi dưỡng cho trẻ có thói quen lắng nghe những lời chỉ bảo trong quá trình tập luyện, đồng thời cũng động viên, khuyến khích trẻ tự giác tích cực trong hoạt động. Kèm theo đó cô cũng cần không ngừng cải tiến phương pháp dạy, lựa chọn nội dung phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ, để trẻ có thể theo kịp bài học một cách mạnh dạn, tự nhiên nhất. 4.5 Biện pháp 5: Sử dụng đồ dùng trực quan. Trẻ mầm non có tư duy và nhận thức theo lối trực quan cảm tính, vì vậy mọi hoạt động giảng dạy đối với lứa tuổi này đều cần phải sử dụng những hình mẫu trực tiếp và hấp dẫn. Có hai hình thức giảng dạy trực quan là làm mẫu trực tiếp cho trẻ quan sát (trực quan trực tiếp) và dùng lời nói để mô tả động tác cùng với đồ dùng, phim, ảnh, mô hình cho trẻ hình dung ra cách tập (trực quan - gián tiếp). Khi giảng dạy giáo dục thể chất cho trẻ mầm non cô cần phối hợp vận dụng cả hai loại trực quan trên, nhất là ở giai đoạn đầu khi mới học động tác. Nguyên tắc trực quan là tiền đề để trẻ tập và làm quen động tác mới. Giáo viên phân tích mẫu trên đồ dùng trực quan và cho trẻ cùng thực hiện bài tập trên đồ dùng trực quan đó. 4.5 Biện pháp 6: Lồng ghép các bài hát vào hoạt động thể dục và đưa bài tập Erobic vào bài tập phát triển chung. Để cho tiết học thể dục không trở nên khô cứng, nhàm chán. Đồng thời không làm cho trẻ thấy mệt mỏi, không thích tập, giáo viên có thể thay đổi nhiều hình thức vào bài. Thường thì các giáo viên tổ chức phần khởi động bằng bài hát: “Đoàn tàu nhỏ xíu” đi các kiểu chân sau đó về tập bài tập phát triển chung. Với phần khởi động tôi kể chuyện, hay hát một bài phù hợp với chủ đề, hoặc dẫn dắt cùng tham gia cuộc thi: “ Bé khỏe, bé khéo, Đường lên đỉnh Olympia, Đi hội rừng xanh, ” và xuyên suốt tiết học đó giáo viên tổ chức dưới dạng các trò chơi liên hoàn, khởi động, vượt chướng ngại vật, tăng tốc về đích. Để tăng sự hứng thú cho trẻ, giáo viên có thể thoát ly khỏi hình thức khởi động quen thuộc. Thay vào đó là những bài tập sôi động nhẹ nhàng nhưng cũng không tách rời mục đích chính của phần khởi động tôi có thể chọn một bản nhạc sôi động sau đó cho trẻ về đội 10
- hình hàng dọc điểm số, tách hàng tập bài tập phat triển chung. Bài tập phát triển chung tôi lựa chọn bài tập Erobic phù hợp với các động tác tay – thân – chân - bật có nhịp đầy đủ. Đến phần hồi tĩnh tôi cho trẻ vận động nhẹ nhàng như: tập dưỡng sinh, tập Yoga, kết hợp các nhạc du dương, nhẹ nhàng tạo cho trẻ cảm giác thoải mái, và vui vẻ khi hoàn thành bài tập. Trẻ tập Erobic vào bài tập phát triển chung. 4.7 Biện pháp 7: Tổ chức cho trẻ giao lưu vận đông với các lớp khác trong khối. Để mở rộng mối quan hệ bạn bè không những ở trong lớp mà với các bạn ở lớp khác để trẻ được giao lưu học hỏi, giúp trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, mạnh dạn chia sẻ cảm xúc và thể hiện mình, trẻ giao lưu và trực tiếp tham gia hoạt động cùng các trẻ khác trong khối.Mỗi tháng tổ chức 2 buổi cho trẻ giao lưu với lớp 5 tuổi A2. + Ví dụ: Vào ngày tết trung thu tôi cùng các cô giáo ở lớp tổ chức cho tre giao lưu ném bóng vào rổ, kéo co, cùng các bạn khối mẫu giáo lớn. Khi được tham gia giao lưu trẻ rất phấn khởi vận động hết mình để dành phần thắng về mình cùng các bé lớp 5tuổi A1. 4.8 Biện pháp 8: Phối kết hợp với gia đình, cộng đồng để giáo dục trẻ: Đối với trẻ mầm non, thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học, chăm sóc, nuôi dạy trẻ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Bởi vậy, trường tổ chức phối kết hợp với phụ huynh qua các cuộc họp phụ huynh toàn trường qua hai lần trong năm; toàn trường xây dựng góc tuyên truyền qua các góc tuyên truyền những điều cha mẹ cần biết nhằm giúp cho phụ huynh nắm được một số kiến thức giáo dục, rèn luyện cho trẻ có thói quen, hành vi văn minh trong giao tiếp, biết yêu thương quý trọng cô giáo, bố mẹ, người lớn. Có thói quen nề nếp trong học tập, trong các hoạt động, từ đó chất lượng giáo dục được tăng lên, trẻ năm vững các kiến thức, kỹ năng, trả lời hồn nhiên, nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin. 5.Kết quả thực hiện 5.1. Đối với giáo viên: 11
- Nhận thức được về tầm quan trọng của hoạt động phát triển giáo dục thể chất. Đặc biệt là đã nắm vững nội dung, phương pháp, hình thức đổi mới của hoạt động này. Khác hẳn với trước đây, giờ hoạt động phát triển giáo dục thể chất bây giờ là một niềm say mê sáng tạo của giáo viên, muốn thể hiện trí tuệ, năng lực của mình qua một tiết dạy sinh động, hấp dẫn trẻ. Qua những năm giảng dạy trẻ lúc mới bước vào giảng dạy các biện pháp,hình thức tổ chức chưa linh hoạt sáng tạo nên kết quả của tiết học chưa cao. Từ khi sử dụng các biện pháp trên nên nghệ thuật lên lớp của tôi đã có một cách sáng tạo, linh hoạt, bản thân không ngừng phấn đấu học hỏi ở bạn bè đồng nghiệp, qua các phương tiện thông tin đại chúng .... Bên cạnh những thành tích trên tôi còn phải cố gắng nhiều hơn nữa, trau dồi kinh nghiệm chuyên môn để phát huy và đạt được kết quả cao hơn nữa trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ. 5.2. Đối với trẻ: - Qua việc thực hiện các biện pháp mới sáng tạo trong việc dạy hoạt động “ Phát triển giáo dục thể chất” tôi thấy đa số trẻ đã mạnh dạn, tự nhiên hơn và tham gia vào hoạt động một cách tích cực, hết mình. Từ đó, tôi thu được kết quả sau: Tổng số trẻ Kết quả Nội dung Số lượng Tỉ lệ % Trẻ hứng thú, tích cực, 23/29 79,3 mạnh dạn 29 Trẻ hứng thú 4/29 13,7 Trẻ ít hứng thú 2/29 6.8 Trẻ không hứng thú 0 0 * Kết quả của trẻ theo đánh giá của lớp: Nhìn vào bảng khảo sát trên tôi thấy số trẻ hứng thú và tham gia hoạt động tích cực tăng lên rõ rệt, số trẻ ở các mức độ trung bình và yếu giảm xuống đáng kể. Vì vậy có thể kết luận rằng với những biện pháp thông thường dập khuôn, thì chất lượng thu được trên trẻ rất thấp. Nếu chúng ta biết vận dụng sáng 12
- tạo linh hoạt các biện pháp như tôi đã làm ở trên thì hiệu quả của việc hoạt động phát triển giáo dục thể chất sẽ được nâng lên rõ rệt. 5.3. Đối với phụ huynh: Từ khi phối hợp với phụ huynh bản thân tôi đã chú ý vận dụng tuyên truyền một cách thuyết phục cho bộ môn “phát triển giáo dục thể chất”. Đặc biệt phụ huynh đã có sự chuyển biến rõ nét, quan tâm đến công tác phối kết hợp với giáo viên để giúp trẻ phát triển các kĩ năng, tố chất vận động qua hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ. 13

