Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Chính tả Lớp 4

docx 34 trang Chăm Nguyễn 03/01/2026 120
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Chính tả Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_g.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Chính tả Lớp 4

  1. suốt cả cuộc đời. Là giáo viên dạy lớp 4G, tôi luôn trăn trở suy nghĩ một câu hỏi: “Làm thế nào để học sinh của mình phát triển toàn diện cả về các mặt “Đức – Trí – Thể - Mĩ”? Đòi hỏi các em phải viết đúng, viết đẹp ngay là một điều không dễ, khó có thể thực hiện ngay được. Do vậy, đối với lớp chủ nhiệm, tôi lựa chọn mục tiêu trọng tâm của môn học phù hợp với lứa tuổi để học sinh tiếp thu bài một cách vững chắc. Tôi đã xác định muốn viết đẹp thì việc đầu tiên cần làm là rèn cho trẻ có nề nếp và kĩ năng viết đúng chính tả, thì mới có cơ sở để viết đẹp. Vì viết đúng chính tả có tầm quan trọng như vậy nên phân môn Chính tả cần phải được coi trọng ở các trường Tiểu học. Nhưng trên thực tế ở một số vùng, miền hiện tượng học sinh viết sai chính tả là khá phổ biến. - Cụ thể trên địa bàn xã Liên Ninh nói chung, nơi tôi đang giảng dạy nói riêng, hiện tượng học sinh viết sai chính tả còn phổ biến. Trước tình hình như vậy, việc nhìn nhận lại thực trạng về việc dạy chính tả để từ đó tìm ra một số giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng học chính tả cho học sinh dùng phương ngữ là hết sức cần thiết. Đặc biệt là việc cải tiến cách dạy chính tả sao cho khoa học, cho hiệu quả hơn; coi trọng phương pháp dạy chính tả có ý thức để việc viết đúng chính tả trở thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh ngay từ lớp đầu cấp. Xuất phát từ những quan điểm trên, là một giáo viên dạy học ở vùng có nhiều đối tượng học sinh có vấn đề về chính tả, tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Chính tả lớp 4” để nghiên cứu và cùng chia sẻ với các đồng nghiệp. 2. Mục đích nghiên cứu Để tìm hiểu thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 4G ở trường Tiểu học Liên Ninh. Khảo sát những khó khăn, sai lầm trong khi viết chính tả, tìm ra nguyên nhân, từ đó khắc phục trong quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng viết. Đưa ra biện pháp khắc phục để học sinh có kĩ năng viết đúng, viết đẹp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 4 Giúp bản thân và đồng nghiệp làm tốt việc rèn cho học sinh lớp 4 viết đúng, viết đẹp. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: kĩ năng viết đúng chính tả của học sinh lớp 4 trong trường Tiểu học Liên Ninh, năm học 2021 – 2022. 4. Phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 4G. Năm học 2021 - 2022 2
  2. 5. Phương pháp nghiên cứu - Sử dụng phương pháp khảo sát. - Phương pháp quan sát. Quan sát hoạt động viết của học sinh ngay tại lớp và bài viết của học sinh qua phần mềm azota. - Phương pháp phân loại. Phân loại chữ viết của học sinh theo nhóm từ đó có biện pháp khắc phục phù hợp. - Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp tổng kết. - Phương pháp sử dụng tài liệu. 6. Thời gian thực hiện Đề tài được thực hiện trong năm học 2021 – 2022. 3
  3. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 1. Cơ sở lý luận Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các em đến trường. Ở giai đoạn đầu (Bậc Tiểu học) trẻ tiếp tục được hoàn thiện năng lực nói tiếng mẹ đẻ. Nhà trường xuất phát từ dạng thức nói, từ hệ thống ngữ âm tiếng mẹ đẻ để dạy trẻ học chữ. Trẻ em biết chữ mới có phương tiện để học Tiếng Việt và học các môn Khoa học tự nhiên và môn Khoa học xã hội khác. Trẻ không biết chữ, không có điều kiện tiếp xúc ngôn ngữ văn hoá, không thể tiếp thu trí thức văn hoá, khoa học một cách bình thường được. Biết chữ là biết phân biệt hình nét các ký hiệu, biết tạo ra ký hiệu (chữ viết), biết dùng chữ ghi lời nói, biết đọc và hiểu được ý nghĩa chữ viết Mục tiêu của chúng ta là giúp cho trẻ “Đọc thông - Viết thạo”. Trẻ đọc thông viết thạo sẽ giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, học tốt hơn. Chính vì vậy, việc rèn kỹ năng viết đẹp và đúng chính tả cho học sinh Tiểu học có một tầm quan trọng rất lớn. Rèn cho học sinh viết đẹp không mắc lỗi chính tả còn góp phần quan trọng vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Phân môn chính tả nhằm rèn luyện kĩ năng viết, kĩ năng nghe cho học sinh. Kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn cách phát âm, củng cố nghĩa của từ, trau dồi về ngữ pháp tiếngViệt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy (nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ...). Bồi dưỡng một số đức tính, thái độ, tác phong cần thiết trong công việc như tính cẩn thận, tác phong làm việc chính xác, óc thẩm mĩ... Các cụ ta từ thời xa xưa đã có câu “Nét chữ nết người” - cho chúng ta thấy vai trò của chữ viết được đánh giá cao như thế nào. Trong cuộc sống hiện đại ngày hôm nay chúng ta thấy khi làm bất cứ một công việc gì cũng đều phải cần đến văn bản, giấy tờ và những văn bản giấy tờ đó mang tính khoa học và chính xác. Phân môn Chính tả sẽ cung cấp cho chúng ta tính khoa học, chính xác, chặt chẽ cần thiết. Chúng ta đã biết có đọc đúng thì mới viết đúng cho nên để người học đọc đúng, viết đúng thì trước tiên người thầy phải là một tấm gương. Chính vì vậy mỗi chúng ta phải cố gắng nhiều hơn nữa, phải có tinh thần học học tập không ngừng nghỉ nâng cao trình độ chuyên môn; tìm ra những phương pháp, biện pháp hữu hiệu giúp học sinh học tốt các môn học, đặc biệt là phân môn Chính tả. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên mà chúng ta phải bàn tới. Để giúp các em học sinh khắc phục và sửa được các lỗi chính tả trên đòi hỏi người thầy không những chỉ có chuyên môn mà còn phải tâm huyết nhiệt tình. Tất cả 4
  4. chúng ta phải nhận thức được tầm quan trọng của phân môn Chính tả; vì có học tốt phân môn này các em mới có thể học tốt tất cả các môn học khác ở nhà trường tiểu học. Đây cũng chính là cơ sở nền móng để các em học tốt các môn học ở những bậc học kế tiếp sau này. 2. Cơ sở thực tiễn Các em học sinh trong trường còn viết sai lỗi chính tả nhiều - đó là một vấn đề nan giải mà mỗi thầy cô chúng ta cần quan tâm và tìm cách tìm cách giải quyết. Thực tế, qua quá trình dạy học phân môn Chính tả tại trường, tôi thấy được : Các em học sinh đều chưa hứng thú với môn học; chưa có ý thức tự giác tích cực học tập. Các thầy cô giáo đã quan tâm đến việc rèn chữ cho các em học sinh xong còn chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao. Giáo viên chưa kích thích được lòng ham mê, hứng thú của học sinh trong học tập.Từ thực tiễn trên tôi thiết nghĩ chúng ta phải đề ra những phương pháp biện pháp cụ thể để khắc phục lỗi chính tả mà các em học sinh thường hay mắc phải trong trường tiểu học. 3. Thực trạng: a. Thuận lợi: • Về học sinh: - 96% các em học sinh nằm trên địa bàn gần trường, phần đa số được bố mẹ quan tâm trong việc học. - Học sinh học tập ở nhà ngồi bàn ghế đúng quy cách, chỗ ngồi học đầy đủ ánh sáng, yên tĩnh. • Về giáo viên: - Trước khi học sinh vào năm học mới, được sự chỉ đạo của nhà trường, giáo viên chủ nhiệm tổ chức ôn tập kiểm tra và nắm bắt tình hình học tập của qua phần mềm Zoom và chấm bài bằng phần mềm Azota. - Giáo viên tự linh động, tìm phương pháp tốt nhất trong việc rèn học sinh tùy theo đối tượng trong lớp mình chủ nhiệm. - Giáo viên kết hợp cùng phụ huynh học sinh trao đổi kiến thức, phương pháp giảng dạy để cùng rèn luyện cho các em tốt hơn khi bước vào năm học mới. - Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, theo chuyên đề. Bồi dưỡng chuyên môn qua tham dự các chuyên đề - Nắm vững quy trình lên lớp các tiết dạy. Đối với môn Tiếng Việt, tổ chức các tiết dạy mẫu. Tổ khối đã nghiên cứu, tìm ra những kiến thức cốt lõi trong môn 5
  5. Tiếng Việt mà học sinh cần đạt ở mỗi bài học, mỗi chủ đề. Xây dựng kiến thức cần ghi nhớ xuyên suốt năm học đối với học sinh lớp 4 với môn Tiếng Việt. b. Khó khăn: • Về học sinh: - Thời gian học sinh nghỉ hè dài, nhiều học sinh quên kiến thức, quên vần dẫn đến việc học sinh đọc chậm, sai; viết không đúng chính tả. - Do tình hình dịch COVID -19, chương trình kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt thời lượng các tiết trong tuần giảm nên khó khăn trong việc tiếp nhận, ghi nhớ kiến thức của học sinh. - Học sinh với trình độ nhận thức khác nhau nên việc tiếp thu kiến thức không đồng đều, giáo viên rất vất vả khi truyền đạt kiến thức lớp 4 cho các em. - Học sinh lớp 4 có vốn từ còn hạn chế, môn Tiếng Việt (phân môn Chính tả đoạn nhiều, đa dạng nội dung) nên khó khăn cho học sinh trong việc viết đoạn văn, câu văn diễn đạt chưa rõ ràng. - Thời gian thực hành, ôn luyện môn Tiếng Việt ít nhưng lượng bài tập nhiều. - Còn một số ít em chưa được bố mẹ thực sự quan tâm trong việc học tại nhà. - Một số em còn quá rụt rè, nhút nhát, ngượng ngùng khi giao tiếp. - Do tình hình dịch bệnh kéo dài nên nhiều gia đình học sinh khó khăn dẫn đến các em thiếu thiết bị học tập hoặc thiết bị học tập không đảm bảo. - Môi trường học tập ở nhà có thể bị xao nhãng do nhiều yếu tố bên ngoài như em nhỏ, tiếng Tivi hay tín hiệu đường truyền kém... dẫn đến tình trạng tiếp nhận kiến thức kém hiệu quả. - Việc không có sự tương tác trực tiếp với giáo viên, bạn bè cũng có thể gây ra tâm lí nhàm chán hoặc không tập trung ở học sinh. • Về giáo viên: - Việc dạy và học trực tuyến phụ thuộc rất lớn vào thiết bị, tín hiệu đường truyền... do đó, nếu có gặp sự cố về các vấn đề trên, việc giảng dạy bị gián đoạn hoặc không thể thực hiện hiệu quả. - Trong các lớp học trực tuyến, tính tương tác giữa giáo viên và học trò còn kém hoặc chưa cao. 6
  6. - Việc hướng dẫn học sinh hiểu bài, kiểm tra hay giám sát quá trình học đều gặp nhiều khó khăn. Giáo viên cũng khó có thể tạo ra nhiều hoạt động sôi nổi như ở trên lớp. 7
  7. Chương 2: Một số biện pháp Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực trạng trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rèn kỹ năng viết đẹp và đúng chính tả cho học sinh lớp 4G nhằm đưa chất lượng chữ viết được đi lên, giúp kết quả học tập của các em được nâng cao. 1. Biện pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh. - Ngay từ đầu năm học, giáo viên dựa trên kết quả cuối năm học trước, kết quả thi khảo sát học sinh đầu năm, kết hợp với việc dạy học hằng ngày trên lớp để phân loại học sinh theo trình độ. Hiện nay các lớp thường chia làm ba đối tượng: Học sinh viết chữ đẹp; Học sinh viết chữ chưa đẹp; Học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả. - Sau khi chia học sinh theo nhóm đối tượng, tôi chia học sinh ngồi theo nhóm đối tượng từ đó tôi đặt tên các nhóm theo thẻ: + Học sinh viết chữ đẹp, đúng chính tả thẻ màu xanh. + Học sinh viết chữ chưa đẹp, sai ít lỗi chính tả thẻ màu vàng. + Học sinh viết chữ chưa đẹp, sai nhiều lỗi chính tả thẻ màu đỏ. (Giáo viên tránh nói đâu là học sinh viết chữ đẹp, học sinh viết chữ chưa đẹp, học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả vì như thế dễ gây tổn thương đến các em.) - Việc phân loại đối tượng học sinh như trên được giáo viên tiến hành khi dạy như chữ em nào đẹp, chữ xấu, hay mắc lỗi chính tả Việc phân loại học sinh như vậy mất khá nhiều thời gian nhưng dựa vào đó, tôi có những yêu cầu khác nhau, vận dụng phương pháp dạy học khác nhau để đạt kết quả tốt nhất. Có thể sắp xếp chỗ ngồi hợp lí cho các em ở vị trí giáo viên dễ quan sát, cho ngồi kèm học sinh viết đẹp, đúng chuẩn để các em học tập bạn. Đồng thời giáo viên nên gặp giáo viên chủ nhiệm năm học trước để nắm bắt và tìm hiểu về những thông tin cần thiết về khả năng và sở thích của từng em...để từ đó định hướng cho mình một phương pháp dạy học thích hợp và hiệu quả. - Sau khi đã tiến hành phân loại học sinh, tôi tiến hành đi tìm hiểu tình hình của từng nhóm. Đặc biệt, tôi cần quan tâm đến đối tượng học sinh viết chữ chưa đẹp, sai nhiều lỗi chính tả (thẻ màu đỏ). Nguyên nhân của việc viết chữ chưa đẹp, sai nhiều lỗi chính tả có nhiều: Sự phát triển trí tuệ chậm, kiến thức không vững chắc, thái độ học tập không đúng, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn... Tôi phải tìm được nguyên nhân chủ yếu đối với từng đối tượng học sinh để có biện pháp thích hợp giải quyết dần tình trạng đó. 8
  8. - Một số giáo viên không quan tâm đến tình trạng lớp có nhiều trình độ khác nhau nên tổ chức giờ dạy không đạt kết quả . Tôi tìm cách giải quyết tốt nhất là coi lớp đang dạy như một “lớp ghép” và vận dụng cách dạy của lớp ghép để phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp. 2. Biện pháp 2: Chuẩn bị kĩ bài soạn, đồ dùng dạy học. - Đồ dùng dạy học đẩy mạnh được hoạt động nhận thức của học sinh. Giúp học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh, hợp lý hoá quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh. - Đồ dùng dạy học với tư cách là công cụ lao động của giáo viên và học sinh được sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng bộ môn. Đồ dùng dạy học không những đóng vai trò minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn cung cấp nội dung thông tin học tập, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở học sinh những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. - Giáo viên cần điều chỉnh tốc độ giảng dạy để học có thể theo kịp. Không nên chỉ chú ý đến học sinh viết chữ đẹp, đúng chính tả để nên bài trôi chảy, sinh động. Nhưng cũng không vì chú ý đến số học sinh viết chữ chưa đẹp, sai nhiều lỗi chính tả mà hạ thấp giờ học khiến học sinh khác chán nản. - Để mọi học sinh trong lớp đều hứng thú, tự tin trong giờ viết chính tả, giáo viên cần đưa ra những yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau để học sinh tự chọn. Trong khi học sinh thực hiện, giáo viên theo dõi, kiểm tra từng cá nhân, từng nhóm. Sau đó đánh giá nhận xét kết quả theo yêu cầu đã đặt ra. - Tuy nhiên, giáo viên cần phải linh động trong việc giảng dạy và chủ động đưa ra kế hoạch giảng dạy, nhưng vẫn đảm bảo dạy đủ, dạy đúng kiến thức theo chương trình tiểu học. Song giáo viên cần có sự chuẩn bị cả về giáo án và đồ dùng dạy học. Dự đoán trước những tình huống cụ thể xảy ra và chuẩn bị sẵn hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức. - Sử dụng đồ dùng dạy học đã tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy - học và hoạt động theo hướng tích cực hoá, cá thể hoá người học trong hoạt động học tập rèn luyện; phát huy hết tài năng của mỗi giáo viên và tiềm năng của mỗi học sinh. - Đồ dùng trong phân môn chính tả gồm có : Bảng điện tử, bảng con , tranh ảnh trong các bài giảng điện tử, phần mềm liveworksheet mẫu vật, Biện pháp thực hiện: 9
  9. Bảng điện tử: + Tôi dùng bảng điện tử để viết các bài tập chép, các bài tập chính tả cần luyện tập trong tiết học, khi lên lớp, tôi không phải viết trên bảng nhóm, dành thêm được thời gian gợi mở, hướng dẫn học sinh làm bài tập, uốn nắn những sai sót, giúp cho việc tiến hành giờ học thuận lợi, hiệu quả. + Tôi dùng bảng điện tử và phần mềm liveworksheet tổ chức cho các nhóm học sinh thi làm đúng, làm nhanh các bài tập trước lớp. Trong quá trình các nhóm thực hiện có thể bộc lộ những thiếu sót, đó là dịp thuận lợi để tôi phát hiện, nhận xét, uốn nắn kịp thời những sai sót đó. Bảng con: + Tôi cho học sinh sử dụng bảng con để luyện tập viết từ khó trước khi viết bài vào vở. Bên cạnh đó, học sinh dùng để điền âm, vần, dấu thanh, viết từ chứa tiếng có vần đã cho trong các bài tập chính tả. Tranh ảnh, mẫu vật: + Hệ thống từ ngữ để học sinh luyện viết chính tả khá phong phú, đa dạng nhằm cung cấp, củng cố, mở rộng vốn từ cho học sinh. Để giúp các em hiểu và viết đúng một số từ ngữ đề cập đến những sự vật, sự việc, hiện tượng xa lạ với vốn sống, vốn hiểu biết, vốn từ ngữ của các em. - Vì vậy đồ dùng dạy học trực quan là một vấn đề hết sức quan trọng, mắt thấy tai nghe, tay ghi chép... thì học sinh sẽ hiểu bài và ghi nhớ được lâu. - Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo phần soạn bài, đặc biệt là hệ thống câu hỏi, câu hỏi gợi ý nhằm khắc sâu kiến thức, các lỗi chính tả học sinh dễ mắc phải giúp học sinh ghi nhớ để viết sao cho đúng - Cuộc cách mạng 4.0 (kỷ nguyên vạn vật kết nối Internet), với sự phát triển mạnh mẽ của ngành Công nghệ thông tin thì đồ dùng dạy học không thể thiếu đối với một giáo viên trong tương lai là chiếc máy Laptop có kết nối Internet và Tivi dùng để trình chiếu các bài học PowerPoint. + Với cuộc cách mạng 4.0 vạn vật kết nối Internet, thông tin bùng nổ, vì vậy quá trình trao truyền tri thức, kinh nghiệm giữa con người với con người cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp. Sự ra đời và phát triển của các thiết bị thông minh khiến con người được tận hưởng những tiện ích của kỷ nguyên Internet giúp cho việc tiếp nhận tri thức nhanh chóng hơn, rút ngắn khoảng cách. Khi đó, vai trò của người thầy trong quá trình trao truyền tri thức, kinh nghiệm cho học sinh hết sức quan trọng. 10
  10. + Trong thời đại mới, giáo dục hướng tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân. Do vậy, người thầy là người dẫn dắt, chỉ hướng, truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để họ có thể phát triển hơn, hoàn thiện hơn. + Người giáo viên trong thời đại 4.0 cần quan tâm đặc biệt tới đối tượng người học. Nhiệm vụ của người thầy là tạo môi trường học tập, tạo điều kiện để họ có cơ hội học tập theo phương pháp tích cực và sáng tạo. Chỉ có như vậy mới tạo ra được những con người năng động và sáng tạo. Hơn bao giờ hết, nghề dạy học với danh xưng “là nghề sáng tạo bậc nhất trong những nghề sáng tạo... vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo” lại càng thể hiện rõ nhất trong thời điểm hiện nay. Và đây cũng là một điều kiện để giáo viên áp dụng Công nghệ thông tin vào dạy học trực tuyến bằng các ứng dụng hỗ trợ cho việc dạy học trực tuyến như: Google Meet, Google Form, Azota, Quizizz, Kahoot, 3. Biện pháp 3: Tích cực luyện phát âm cho đúng chuẩn trên cơ sở đó viết đúng chính tả. - Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, đồng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm “phát âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy”. Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn - Do đặc điểm phát âm của vùng miền làm cho người ta dễ nói sao viết vậy. Đây là nguyên nhân lớn dẫn đến viết sai chính tả nằm ở yếu tố này. Vì thế, điều quan trọng để sửa sai chính tả trước hết phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc đúng, phát âm đúng. - Nguyên tắc ngữ âm học trong chính tả dẫn đến hệ quả là: muốn viết đúng chính tả thì cần phát âm đúng, cần khắc phục và sửa chữa những cách phát âm cá nhân hay do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương (khác với chuẩn ngữ âm) đây là biện pháp có cơ sở lí thuyết, có sự hợp lí, nhưng thực hiện trong thực tế thì gặp nhiều khó khăn. Vì con người luôn luôn sống ở môi trường ngôn ngữ xung quanh, không dễ gì không chịu ảnh hưởng khi nói năng, khi giao tiếp. Hơn nữa, thay đổi một giọng nói chung của một vùng miền là cả một vấn đề không phải chỉ liên quan đến thói quen, ý chí, mà có liên quan đến cả lĩnh vực tình cảm, đạo đức. - Tuy nhiên, đây vẫn là một biện pháp tích cực để rèn luyện chính tả và sửa lỗi chính tả và việc rèn luyện đó đạt được hai mục đích: chính âm và chính tả. Hơn nữa ngày nay giao lưu trong xã hội được mở rộng, các phương tiện thông tin 11
  11. đại chúng (ti vi, Internet) có tác dụng hỗ trợ cho việc rèn luyện về phát âm. Nếu luyện phát âm tốt thì đó vẫn là cơ sở để viết đúng chính tả. - Để khắc phục được lỗi chính tả do phát âm sai, trước hết giáo viên phải tự rèn luyện nói viết theo chuẩn tiếng phổ thông. Việc đọc đúng, rõ ràng, mạch lạc, đọc hay, đọc chuẩn của giáo viên là quan trọng nhất. Đồng thời giúp học sinh nhận diện, phân biệt được cách đọc đúng giữa các âm, vần, dấu thanh còn lẫn lộn để các em viết đúng với loại bài chính tả nghe đọc. Rèn cho học sinh phát âm đúng qua các tiết Tập đọc ở phần luyện đọc và ở phần chính tả trong luyện viết đúng. Trên cơ sở phân tích về mặt ngữ âm học để hình thành cho học sinh ý thức đọc đúng với loại bài chính tả nhớ viết. - Ví dụ: Khi viết tiếng “khuy” hoặc “khuya” học sinh dễ viết sai chính tả chủ yếu về phần vần. Do đó, giáo viên cần phân tích cấu tạo vần rồi cho học sinh phát hiện ra sự khác nhau giữa hai chữ. Học sinh phát âm (phần vần): u-y-uy và u-ya- uya để nhận diện sự khác nhau giữa nguyên âm y và nguyên âm đôi ya và sẽ viết đúng chính tả. 4. Biện pháp 4: Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh. - Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ. - Ví dụ: Khi viết tiếng “bảng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “bản”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này: bảng = b + ang + thanh hỏi. bản = b + an + thanh hỏi. - So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “bảng” có âm cuối là “ng”, tiếng “bản” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai. Hoặc Khi viết tiếng “tuyến” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “tiến”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này: tuyến = t + uyên + thanh sắc (tiền tuyến là ranh giới chiến đấu giữa hai lực lượng quân đội trong chiến tranh). tiến = t + iên+ thanh sắc (tiến lên). 5. Biện pháp 5: Phân biệt bằng nghĩa từ: - Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu... nhưng trong tiết Chính tả cũng là một biện pháp 12