Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng Giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 1 dân tộc thiểu số
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng Giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 1 dân tộc thiểu số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_g.doc
Bìa.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng Giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 1 dân tộc thiểu số
- 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu - Mục tiêu: + Áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn. + Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán nói chung và dạy giải toán có lời văn nói riêng. - Nhiệm vụ: Nghiên cứu dạy giải toán có lời văn nhằm giúp học sinh: + Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn. + Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng hoặc một phép tính trừ. + Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán và khả năng diễn đạt đúng. 3. Đối tượng nghiên cứu, Biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chương trình lớp 1 ở Tiểu học. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Một số biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chương trình toán 1. 5 . Phương pháp nghiên cứu. Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: - Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạy học của lớp 1C - khối I- Trường Tiểu học Ea Bông. - Đánh giá quá trình dạy toán. Loại bài giải toán có lời văn từ những năm gần đây. - Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh. - Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới cơ bản về phương pháp dạy học. Những phương pháp dạy học kích thích sự tìm tòi, sự tư duy của học sinh. Mục tiêu giáo dục của Đảng đã chỉ rõ: “ Đào tạo có chất lượng tốt những người lao động mới có ý thức và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hoá phổ thông và hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ, có sức khoẻ tốt ”. Muốn đạt được mục tiêu này thì dạy và học Toán trong trường phổ thông là một khâu quan trọng của quá trình dạy học. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói về vị trí vai trò của bộ môn Toán: “ Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổi bật. Nó có tác dụng lớn đối với kỹ thuật, với sản xuất và chiến đấu. Nó là một 3
- môn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo. Hội nghị Ban Chấp hành trung ương khoá VIII lần thứ 2 đã chỉ rõ: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học”. Trong luật Giáo dục, Khoản 2, điều 24 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đổi mới cách thực hiện phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới cách thực hiện phương pháp dạy học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệ học trò - chủ nhân tương lai của đất nước. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo. Nó tạo ra sự hiện đại hoá của quá trình này. Đổi mới phương pháp dạy học thực chất không phải là sự thay thế các phương pháp dạy học cũ bằng một loạt các phương pháp dạy học mới. Về mặt bản chất, đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học chính là làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Mặt khác môn toán thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học theo đặc trưng và khả năng của môn Toán, cụ thể là chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng toán học cơ bản cần thiết cho việc học tập hoặc bước vào cuộc sống lao động. Đối với môn Toán lớp Một, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học. Môn Toán mở đường cho các em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học. Rồi mai đây, các em lớn lên, nhiều em trở thành vĩ nhân, trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống, trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập viết 1, 2, 3 học các phép tính cộng, trừ Các em không quên được vì đó là kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa, những con số, những phép tính ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời. Đối với mạch kiến thức : “Giải toán có lời văn”, là một trong năm mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán 4
- cấp tiểu học. Thông qua giải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng. Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác. 2. Thực trạng 2.1. Thuận lợi và khó khăn a. Thuận lợi Toán có lời văn có những thuận lợi nhất định: Những bài toán có lời văn là những bài toán lấy từ thực tế cuộc sống. Nội dung bài toán được thông qua những câu văn nói về những quan hệ tương quan và phụ thuộc, có liên quan đến sự việc xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời văn là: phải biết lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và nêu ra cách giải thích hợp để từ đó tìm được phép tính đúng và có đáp số đúng của bài toán. Bên cạnh đó cái khó từ phía học sinh là: ít em chịu khó đọc kỹ đề, phần lớn các em chưa biết dựa vào dữ kiện bài toán để phân tích và suy ngẫm hoặc phân tích không đúng hướng, không lôgic. b. Khó khăn Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học Ea Bông, kể từ khi về trường tới nay tôi luôn được phân công dạy học sinh dân tộc thiểu số. Vì vậy, qua thời gian giảng dạy tôi nhận thấy các em phát âm đa số là số là thiếu dấu, viết sai lỗi chính tả. Đặc biệt học sinh lớp Một và hầu hết giáo viên đều phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp Một. Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết để trả lời. Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. Giáo viên phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này. 2.2. Những thành công và hạn chế a. Những thành công Trong những năm học qua, đã có một vài đồng nghiệp cũng trăn trở về các biện pháp “giải toán có lời văn” và bên cạnh đó nhà trường đã tổ chức các cuộc thi và giao lưu giữa các lớp trong tổ khối nhằm phát hiện học sinh năng khiếu môn Toán và đạt kết quả như sau. Kết quả điều tra năm học 2013 – 2014 5
- HS viết sĩ HS viết đúng HS viết HS giải đúng Lớp đúng câu TT số phép tính đúng đáp số cả 3 bước lời giải 1 1A 20 8 40% 10 50% 10 50% 8 40% 2 1B 26 12 46,2% 18 69,2% 14 53,8% 12 46,2% 3 1C 22 10 38,5% 13 49,9% 19 73,1% 10 38,5% Kết quả điều tra năm học 2014 - 2015 HS viết sĩ HS viết đúng HS viết HS giải đúng Lớp đúng câu TT số phép tính đúng đáp số cả 3 bước lời giải 1 1A 14 10 71.4% 12 85,7% 12 85,7% 10 71,4% 2 1B 20 15 75% 17 85% 17 85% 15 75% 3 1C 20 14 70% 16 80% 16 80% 14 70% Qua cuộc khảo sát trong bài kiểm tra của học sinh cho thấy chất lượng giải toán có lời văn được nâng lên rõ rệt. Lỗi của học sinh trong bài khảo sát Tỷ lệ Giỏi 9,10 đạt 29/54 trình bày còn bẩn. Khá 7,8 đạt 39/54 em trình bày còn bẩn, câu lời giải chưa chuẩn. Trung bình 5,6 đạt 45/54 em chỉ làm đúng phép tính và đáp số, sai tên đơn vị, sai câu lời giải. Yếu dưới 5 đạt 9 em không biết làm bài. Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn, kết quả của bài toán đúng. Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn Toán nói chung và “Giải toán cơ lời văn” nói riêng. Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế. b. Những hạn chế Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một dân tộc thiểu số. Bởi vì đối với lớp Một vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay nói chung là học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lí giải là tại sao các em lại có được phép tính đúng như vậy. Thực tế hiện nay cho thấy các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn. Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán và giải toán một cách máy móc rập khuôn, bắt chước. 6
- Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp, một số học sinh chưa biết cách đặt câu lời giải phù hợp hoặc không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn đến không làm được bài. Về giáo viên: Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, ngại tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trong việc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn khó hiểu. Về đồ dùng dạy học: Tư duy của học sinh lớp Một là tư duy cụ thể, để học sinh học tốt “giải toán có lời văn” trong quá trình giảng dạy rất cần đồ dùng thiết bị dạy học để minh họa. Trong những năm qua, các trường Tiểu học đã được cung cấp khá nhiều trang thiết bị về đồ dùng dạy học đồng bộ để dạy cho cả cấp học để dạy theo lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số lượng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu dạy “giải toán có lời văn”. Về cha mẹ học sinh: Một số phụ huynh chỉ quan tâm dấu hiệu bên ngoài của việc học tập đó là chỉ cần biết tính toán là được. Bên cạnh đó phần đa hoàn cảnh gia đình các em còn khó khăn do đó cha mẹ hầu như chỉ chăm lo làm kinh tế mà chưa thực sự quan tâm tới việc học tập và giúp đỡ các em tháo gỡ kịp thời những khúc mắc, khó khăn trong học tập khiến các em bỡ ngỡ khi làm bài, đặc biệt là giải toán có lời văn dẫn đến sự chán nản, thiếu tự tin, từ đó tạo nên những lỗ hổng kiến thức trong học tập của các em. Bên cạnh những thành công mà đồng nghiệp tôi đã thực hiện được thì không ít mặt hạn chế và tồn tại cần được khắc phục. Chính vì vậy tôi đã xây dựng sáng kiến riêng cho bản thân mình nhằm sử dụng các biện pháp để nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn”. 2.3. Những mặt mạnh, mặt yếu a. Mặt mạnh Khi thực hiện đề tài này được sự ủng hộ và động viên của Lãnh đạo nhà trường, cha mẹ học sinh và đa số giáo viên trong tổ khối I nhằm mang đến cho cả giáo viên và học sinh kết quả cao nhất. b. Mặt yếu Thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế. Tài liệu phục vụ cho đề tài chưa đáp ứng được yêu cầu đạt ra. 2.4. Nguyên nhân, các yếu tố tác động + Nguyên nhân từ phía HS: Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một. Bởi vì học sinh lớp Một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay nói chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời 7
- hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy. Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học. + Nguyên nhân từ phía giáo viên: Về giáo viên: Vẫn còn một số giáo viên chuyển đổi phương pháp giảng dạy còn lúng túng, chưa phát huy được tích cực chủ động của học sinh, phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tư duy vào lề lối dạy học hàng ngày. Một số giáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy theo phương pháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là “thầy truyền thụ, trò tiếp nhận ghi nhớ”. + Những sai lầm và khó khăn thường gặp của giáo viên và học sinh khi dạy và học tuyến kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp Một: Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp Một là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp giảng dạy hiệu quả, đôi khi giáo viên giảng cho học sinh lớp Một đã diễn đạt như với các lớp trên làm học sinh khó hiểu và không thể tiếp thu được kiến thức trong việc giải các bài toán có lời văn. Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy tuyến kiến thức: “Giải toán có lời văn” ở lớp Một còn thiếu linh hoạt. Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư phạm để nêu vấn đề. Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các nhóm cũng như các đối tượng học sinh trong quá trình học. Khả năng kiên trì của học sinh lớp Một trong quá trình học nói chung cũng như học “Giải toán có lời văn” nói riêng còn chưa cao. 2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra Vấn đề nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” ở lớp Một hiện nay là một vấn đề nan giải mà đa số giáo viên và nhà trường quan tâm. Để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn phải có kế hoạch cụ thể cho đội ngũ giáo viên thông qua việc nâng cao trình độ chuyên môn và tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực, sáng tạo của học sinh nhiệm vụ đặt ra chúng ta phải đưa ra phương pháp dạy hiệu quả nhất. Một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” ở lớp Một là việc tăng cường động viên các em học sinh luyện tập thực hành giải toán có lời văn mọi lúc mọi nơi. Kiên trì, bền bỉ là yếu tố góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Để nâng cao chất lượng giảng dạy thì việc Tăng cường sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh càng không thể thiếu trong mỗi bài dạy, tiết dạy học toán. Thường xuyên đánh giá để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời đây là yếu tố vô cùng quan trọng góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giải 8
- toán có lời văn nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Việc thường xuyên đánh giá nhằm phát huy năng lực của từng học sinh, và kịp thời động viện khích lệ tinh thần học tập của các em. Đồng thời việc kết hợp giữa Gia đình – Nhà trường- Xã hội cũng là vấn đề lớn để nâng cao chất lượng giảng dạy. 3. Giải pháp, biện pháp. 3.1. Mục tiêu của giải pháp: Chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh lớp Một trong hai năm qua đã có những chuyển biến đi lên đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đạt được mức chất lượng tối thiểu theo quy định của trường, ngành Giáo dục đề ra. Để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh lớp Một trường Tiểu học Ea Bông trong giai đoạn hiện nay nhằm đạt chất lượng tối thiểu, mục tiêu chính của tôi như sau: 3.2. Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp - Nắm bắt nội dung chương trình Để dạy tốt môn Toán lớp Một nói chung, “Giải bài toán có lời văn” nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa. Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểu học, và đặc biệt là toán lớp Một thì ai mà chả dạy được. Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy nghĩ tương tự như vậy. Qua dự giờ một số đồng chí giáo viên tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức cũ có liên quan giáo viên nắm không thật chắc. Người ta thường nói “Biết 10 dạy 1” chứ không thể “Biết 1 dạy 1” vì kết quả thu được sẽ không còn là 1 nữa. - Dạy “Giải toán có lời văn” ở lớp Một theo từng mức độ. Mức độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽ - viết phép tính. Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp. Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ. Ban đầu để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáo khoa ghi sẵn các số và kết quả : Ví dụ: Bài 5 trang 46 a) 1 2 = 3 Chỉ yêu cầu học sinh viết dấu cộng vào ô trống để có : 1 + 2 = 3 9
- b) Đến câu này nâng dần mức độ học sinh nhìn vào hình vẽ để hình dung số quả bóng và phải đặt được các số để thành phép tính và kết quả + = Kết quả đạt được là: 1 + 2 = 3 Và yêu cầu tăng dần, học sinh có thể nhìn từ một tranh vẽ bài 4 trang 77 diễn đạt theo 2 cách . Cách 1: Có 8 hộp thêm 1 hộp, tất cả là 9 hộp. 8 + 1 = 9 Cách 2: Có 1 hộp đưa vào chỗ 8 hộp, tất cả là 9 hộp. 1 + 8 = 9 Tương tự câu b : Có 7 bạn và 2 bạn đang đi tới. Tất cả là 9 bạn. Cách 1: 7 + 2 = 9 Cách 2: 2 + 7 = 9 10
- Giáo viên hướng dẫn để các em biết được hướng đi của hình mũi tên thì học sinh phải làm phép tính gì? Đến bài 3 trang 85 Học sinh quan sát và cần hiểu được: Lúc đầu trên cành có 10 quả. Sau đó rụng 2 quả . Còn lại trên cành 8 quả. 10 - 2 = 8 Ở đây giáo viên cần động viên các em diễn đạt trình bày miệng ghi đúng phép tính. Tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của học sinh. Khi dạy bài này cần hướng dẫn học sinh diễn đạt trình bày động viên các em viết được nhiều phép tính để tăng cường khả năng diễn đạt cho học sinh. Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt bằng lời: Bài 3 trang 87 B, Có : 10 quả bóng Cho : 3 quả bóng Còn :.... quả bóng? 10 - 3 = 7 Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán. Yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải. 11
- Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thể động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ một hình vẽ hay một tình huống sách giáo khoa. Mức độ 3: Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận với một đề bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện (tiết 81- bài toán có lời văn). Tư duy học sinh từ hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ, thành chữ viết. Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằng phép tính cộng là phù hợp với tư duy của học sinh. Cấu trúc một đề toán gồm 2 phần: phần cho biết và phần hỏi, phần cho biết gồm có 2 yếu tố. Mức độ 4: Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bài toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen.( Bài toán- trang 117) Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán, thông qua việc tóm tắt đề toán. Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên để giải bài toán có lời văn. Bài giải gồm 3 phần : câu lời giải, phép tính và đáp số. Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tóm tắt cần được luyện kỹ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác. Câu lời giải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diều kiện cho học sinh diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình. Quy ước viết đơn vị của phép tính trong bài giải học sinh cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải. Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thành thạo giải ài toán có lời văn bằng phép tính cộng. Giáo viên chỉ hướng dẫn cách làm tương tự, thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán. Ở lớp Một, học sinh chỉ giải toán về thêm, bớt với một phép tính cộng hoặc trừ, mọi học sinh bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể. GV dạy cho học sinh giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bước sau: + Đọc và tìm hiểu đề bài. +Tìm đường lối giải bài toán. + Trình bày bài giải + Kiểm tra lại bài giải. - Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán. Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng như " thêm, và, tất cả, ... " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất, còn lại, ..." (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ). Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài. Một số giáo viên còn gạch chân 12
- quá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tóm tắt. Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn. Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại " Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?" và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đây là cách rất tốt để giúp học sinh ngầm phân tích đề toán. Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi. Ví dụ : Bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi: + Em thấy dưới ao có mấy con vịt? (Dưới ao có 5 con vịt) + Trên bờ có mấy con vịt? (Trên bờ có 4 con vịt) + Trên bờ và dưới ao có tất cả mấy con vịt? (Có tất cả 9 con vịt) Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, ...) lên bảng từ để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán. Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán: Cách 1: Tóm tắt bằng lời: Ví dụ 1: Lan có : 3 quyển vở Vy có : 2 quyển vở Cả hai bạn có: ... quyển vở? Cách 2: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng: Ví dụ 2: Bài 2 trang 123 A 5 cm B 3 cm C 13

