Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục Lớp 4

docx 24 trang Chăm Nguyễn 03/12/2025 290
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_d.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục Lớp 4.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục Lớp 4

  1. 3 Trang bị cho học sinh một số hiểu biết cơ bản trong họat động thể dục thể thao, giaó dục cho các em ý thức tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, để nâng cao sức khỏe cho bản thân, phục vụ cho học tập và cho cuộc sống hàng ngày. Rèn luyện cho các em tính đoàn kết, tinh thần kỷ luật, lòng dũng cảm để từ đó góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, hính thành nhân cách con người mới trong xã hội hiện nay. Taọ hứng thú cho học sinh tập luyện vầ học tập môn thể dục đạt hiêu quả cao. Tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phong trào rèn luyện và tập luyện thể dục thể thao theo tấm gương đạo đức HỒ CHÍ MINH, góp phần nâng cao sức khỏe, sức đề kháng của cơ thể, phòng trống các bệnh cảm cúm, ho...cho học sinh trong nhà trường. 3. Đối tượng nghiên cứu. - Học sinh khối 4 - Trường tiểu thị trấn Tân An - Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục lớp 4. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Nghiên cứu 8 động tác của bài thể dục phát triển chung lớp 4. - Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục lớp 4. - Nghiên cứu các phương pháp tập luyện, trò chơi, thi đua để tạo hứng thú cho học sinh tập luyện đạt kết quả tốt nhất. 5. Phương pháp nghiên cứu. Để thực hiện được đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp trực quan - Phương pháp dùng lời nói - Phương pháp điều tra - Phương pháp thực hành
  2. 4 - Phương pháp sửa chữa động tác sai - Phương pháp trò chơi - Phương pháp thi đua - Phương pháp thống kê toán học
  3. 5 PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG 1. Một số vấn đề có liên quan. Như chúng ta đã biết trong bài "Sức khoẻ và thể thao" ngày 27/3/1946 đăng trên báo "Cứu quốc" có đoạn viết "Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới. Việc gì cũng cần phải có sức khoẻ mới làm được, mới thành công. Mỗi người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân khoẻ mạnh tức là cả nước mạnh khoẻ. Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước. Việc đó không tốn kém khó khăn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày ngủ dậy tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ như vậy là sức khoẻ". Vậy nên giáo dục thể chất đã được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có ghi: "Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học". Điều này xuất phát từ ý nghĩa to lớn của giáo dục thể chất trong nhà trường. Giáo dục thể chất được hiểu : " Qúa trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người". Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó và có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm. Giáo dục thể chất được chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác và giáo dục tố chất thể lực. Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mĩ dục và giáo dục lao động. Mục đích của giáo dục thể chất trong nhà trường tiểu học nhằm góp phần bảo vệ sức khoẻ, cung cấp những kiến thức cơ bản về phát triển cơ thể, môi trường, đồng thời hình thành ở người học những nhân cách sống của con người lao động mới trong thời đại mới. Giáo dục thể chất với nhiệm vụ "Phát triển toàn diện các tố chất thể lực và trên cơ sở phát triển các năng lực thể chất, hình thành hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỷ năng, kỷ xảo quan trọng trong cuộc
  4. 6 sống". Không những thế, giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ là một mặt của giáo dục tiến bộ, là nhu cầu tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển của một xã hội văn minh nói chung và của công việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc nói riêng. Phân môn thể dục còn mang lại cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tươi, lành mạnh và tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt giáo dục khác. Đối với học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ, hệ xương chưa phát triển đầy đủ. Hệ hô hấp ở độ tuổi này có đường hô hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động chưa được tốt, sự tập trung chú ý chưa bền vững, dễ bị phân tán, tính hưng phấn chưa cao, trí tưởng tưởng đang phát triển song còn tương đối nghèo nàn, ít có tổ chức, tư duy logic chưa cao. Vậy nên làm thế nào để khi dạy bài thể dục phát triển chung cho học sinh lớp 4 thực sự thu hút được sự tập trung cao độ, tích cực tập luyện có hiểu quả, ... là vấn đề đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư suy nghĩ, nghiên cứu. 2. Thực trạng. 2.1. Thực trạng của vấn đề. a. Thuận lợi. Phương tiện luyện tập trong giờ thể dục tương đối đầy đủ. Nhà trường đã quan tâm đầu tư về trang thiết bị dụng cụ, tranh, ảnh để phục vụ cho công tác giảng dạy môn thể dục. Đa số học sinh trong trường là người địa phương nên thuận lợi cho việc giao tiếp và truyền đạt kiến thức. Trường học nhận được sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo, cán bộ ngành tạo điều kiện để trường nâng cao chất lượng giảng dạy, số lượng học sinh trong lớp đảm bảo. Giáo viên được tập huấn hướng dẫn cách xây dựng và thiết kế bài học theo hướng phân chia hoạt động cụ thể, rõ ràng, có chỉ dẫn phương pháp giảng dạy từng chủ đề, động tác. Được sự đồng tình và giúp đỡ, động viên của đồng nghiệp, của Ban giám hiệu nhà trường.
  5. 7 Giáo viên nhiệt tình trong công tác giảng dạy, luôn cố gắng tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu cũng như học hỏi qua các tiết dạy của đồng nghiệp để tìm ra biện pháp giáo dục tốt nhất nhằm đem lại hiệu quả cho tiết dạy. b. Khó khăn. Sân bãi phục vụ cho công tác dạy và học còn hạn chế. Các loại sách tham khảo phục vụ cho bộ môn thể dục ít nên còn ảnh hưởng nhiều đến công tác nghiên cứu, tìm tòi của giáo viên. Vẫn còn tồn tại trong số ít phụ huynh học sinh xem thể dục là môn phụ nên thiếu sự quan tâm, dạy bảo học sinh tập luyện ở nhà. 2.2. Nguyên nhân dẫn tới học sinh tập chưa tốt bài thể dục phát triển chung. Qua nhiều năm giảng dạy thể dục cũng như theo dõi qua các tiết dạy và làm khảo sát ở học sinh khối lớp 4, bản thân tôi thấy các em tập chưa tốt bài thể dục phát triển chung là do một số nguyên nhân như sau: Một bộ phận học sinh còn xem nhẹ môn học vì coi đây là môn phụ. Học sinh chưa hiểu rõ vị trí, tầm quan trong của việc tập luyện bài thể dục. Mất tập trung trong giờ học dẫn tới việc tập chưa đúng ở một số động tác. Sự phối hợp chưa nhịp nhàng giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh. Một số học sinh do tập thể dục không thường xuyên hoặc tập chưa đúng động tác nên gây ra sự mệt mỏi ở các cơ bắp từ đó không còn hứng thú với bài thể dục. Thiếu sự quan tâm, chỉ bảo của phụ huynh học sinh, từ đó học sinh chưa hình thành được thói quen tập thể dục hàng ngày. * Vậy học sinh tập chưa tốt bài thể dục phát triển chung có ảnh hưởng gì đến sức khoẻ, sự phát triển các tố chất cũng như việc dạy và học của giáo viên và học sinh? Theo tôi thấy, nếu học sinh tập chưa đúng bài thể dục phát triển chung sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiết dạy của giáo viên, lớp học từ đó sẽ mất trật tự do một số
  6. 8 học sinh không còn hứng thú với môn học. Học sinh tập không đúng bài thể dục phát triển chung còn ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể, gây nên sự uể oải về mặt tâm lí cũng như mặt thể chất. Từ đó học sinh không rèn luyện được thói quen tập thể dục hàng ngày. 3.Đề xuất các giải pháp. Đổi mới phương pháp dạy học là xu thế phát triển và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của giáo dục hiện nay. Để đổi mới phương pháp dạy học và tìm ra được những biện pháp dạy học tốt nhất thì đòi hỏi người giáo viên phải có sự nghiên cứu, tìm tòi, chuẩn bị bài cũng như các thiết bị, đồ dùng dạy học chu đáo, sân bãi tập luyện phù hợp trước khi lên lớp. Đối với phần bài thể dục phát triển chung, trước mỗi tiết dạy giáo viên phải tập sao cho thuần thục các động tác, mỗi giờ học giáo viên cần chủ động áp dụng các hình thức tích cực hoá học sinh bằng nhiều phương pháp và hình thức dạy học. Để đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động học tập theo hướng tích cực hoá, cũng như để đáp ứng các yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học thể dục ở trường Tiểu học trong giai đoạn hiện nay, tạo ra môi trường cung cấp cho xã hội những con người có sức khoẻ tốt, thể lực cường tráng, dẻo dai. Bản thân tôi rút ra một số bài học sau: - Cần sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, chú ý tập trung vào việc phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh. Thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học đặc trưng của môn học để giúp học sinh nhanh chóng lĩnh hội được kiến thức cơ bản. - Đối với những động tác khó, giáo viên phải hướng dẫn và làm mẫu từng cử động trước sau đó mới tiến hành hướng dẫn và làm mẫu toàn bộ động tác. - Phân bố thời gian tiết học hợp lý sao cho học sinh được thực hành tập luyện nhiều, chú ý đặc điểm cá biệt của học sinh, ưu tiên sử dụng chia tổ, nhóm nhỏ để tập luyện.
  7. 9 - Kết hợp với nội dung học tập với trò chơi ở mức hợp lý, thường xuyên áp dụng phương pháp trò chơi, thi đua, để kích thích sự hưng phấn tập luyện ở học sinh, góp phần giảm sự nhàm chán ở một số học sinh. - Khi hướng dẫn kỹ thuật động tác cần giải thích ngắn gọn, dễ hiểu, giáo viên làm mẫu phải chuẩn xác và chọn vị trí đứng làm mẫu thích hợp. - Cần khuyến khích sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các em, giờ học nên diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng. - Thực hiện tốt việc chuẩn bị bài dạy, phương tiện, đồ dùng dạy học một cách hợp lí. - Cần sử dụng băng đĩa nhạc có lời hô vào việc dạy học nhằm làm cho lớp học sinh động, giảm thời gian làm việc cho giáo viên, từ đó có điều kiện uốn nắn, sửa sai kịp thời. Qua một số năm giảng dạy phân môn thể dục ở trường tiểu học , để giúp học sinh tập tốt bài thể dục phát triển chung góp phần hoàn thành mục đích, nhiêm vụ của phân môn thể dục bản thân tôi đã áp dụng các biện pháp sau: 3.1. Giúp học sinh hiểu rõ vị trí, tầm quan trọng của việc tập luyện bài thể dục phát triển chung lớp 4. Trong chương trình thể dục lớp 4 gồm 70 bài dạy trong 35 tuần. Nội dung gồm 2 phần chính. Phần quy định gốm có: Đội hình đội ngũ, bài thể dục phát triển chung, bài tập rèn luyện tư thế và kỷ năng vận động cơ bản, trò chơi vận động. Phần tự chọn: đá cầu, ném bóng. Từ cách phân chia cụ thể thành các phần, vậy nên khi dạy đến phần nào thì người giáo viên cần cho học nắm và hiểu được vị trí, tầm quan trọng , sự cần thiết cần phải học các phần đó. Thế nên, khi dạy tới phần Bài thể dục phát triển chung, bản thân tôi dành một ít thời gian giải thích cho học sinh hiểu được sự cần thiết phải tập luyện bài thể dục này để làm gì? Lợi ích và tác dụng cụ thể của nó? Đó là nhờ tập luyện bài thể dục phát triển chung mà các em hình thành được nhân cách
  8. 10 chuẩn mực, nâng cao được các hoạt động của cơ thể, thúc đẩy sự phát triển những kĩ năng vận động cần thiết, củng cố các nhóm cơ, hình thành tư thế đúng đắn. Tập luyện thể dục thường xuyên, đúng phương pháp, khoa học sẽ làm cho cơ thể phát triển thể hiện ở sức nhanh, sức bền, độ đàn hồi và linh hoạt của cơ thể tăng lên. Bên cạnh đó, nếu tập thể dục thường xuyên sẽ là cho tim khoẻ lên, sự vận chuyển máu của hệ mạch dễ dàng hơn, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và thải cặn bã kịp thời hơn, cơ thể trở nên khoẻ cường tráng, ăn ngủ, học tập và lao động tốt hơn. Cũng nhờ tập luyện thể dục thường xuyên mà cơ xương tiếp thu được máu đầy đủ, các tế bào xương phát triển nhanh, xương dày lên, cứng và dáng đi khoẻ mạnh. Ví dụ: Giáo viên giải thích rõ cho học sinh khi tập động tác "vươn thở" thì sẽ tác động đến các cơ, phổi và lồng ngực nở ra, tăng độ đàn hồi, tăng lượng khí trao đổi trong nhịp thở. Từ đó hệ hô hấp hoạt động nhịp nhàng và khoẻ mạnh hơn. Động tác "tay" thì giúp hệ cơ của tay phát triển, xương dày lên, cứng và dẻo dai hơn. 3.2. Lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học hợp lý. Trong quá trình giảng dạy bài thể dục phát triển chung ở khối lớp 4, mỗi giáo viên ai cũng có những phương pháp giảng dạy hay những hình thức tổ chức tập luyện riêng cho học sinh trong tiết dạy của mình. Mục đích là để tiết học đạt được hiệu quả, chất lượng cao và học sinh học tốt được bài thể dục phát triển chung lớp 4. Như chúng ta đã biết, mỗi bài học người giáo viên không chỉ sử dụng một phương pháp và hình thức dạy học mà phải kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy. Do đó tuỳ theo từng bài dạy cụ thể mà người giáo viên lựa chọn ra những phương pháp và hình thức dạy học tối ưu nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất cho tiết dạy. Đối với phân môn thể dục cũng vậy, để giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức, nắm bắt nhanh kỹ thuật động tác thì ở từng bài dạy, từng động tác đòi hỏi người giáo viên phải tìm ra những phương pháp và hình thức dạy học tối ưu, đúng đặc
  9. 11 trưng của môn học nhằm gây được hứng thú tập luyện của học sinh, làm cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, sinh động, học sinh nắm vững được kiến thức của bài dạy. Ngoài ra giáo viên còn phải phối hợp tốt giữa phương pháp cũng như những hình thức tổ chức một cách hợp lí thì học sinh mới tiếp thu một cách dễ dàng và đạt hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy. Chẳng hạn: khi dạy động tác "Vươn thở" tôi sử dụng các phương pháp như: giải thích, trực quan, làm mẫu, thực hành. Hình thức: tập đồng loạt cả lớp. Học sinh tích cực tham gia tập luyện Còn khi dạy động tác "Thăng bằng" tôi sử dụng các phương pháp như: giải thích, trực quan, làm mẫu, thực hành, thi đua. Hình thức: tập cả lớp, cá nhân, nhóm và tổ. 3.3. Thực hiện "làm mẫu" chính xác.
  10. 12 Khi dạy động tác mới, làm mẫu là một trong những biện pháp rất cần thiết. Trước hết giáo viên nêu tên động tác, sau đó tiến hành làm mẫu. Khi làm mẫu, giáo viên phải thể hiện đúng yếu lĩnh của động tác và làm mẫu hoàn chỉnh động tác. Đối với những động tác khó, phức tạp, có sự phối hợp của nhiều bộ phận, giáo viên nên làm mẫu chậm từng nhịp hoặc có thể dừng lại ở những cử động khó để học sinh làm theo và giáo viên giám sát xem học sinh tập có đúng hay không. Ví dụ: Khi dạy động tác "Thăng bằng". Giáo viên tổ chức làm mẫu từng nhịp của động tác và cho học sinh cùng làm. Sau lần làm mẫu đầu giáo viên cho học sinh xem tranh minh hoạ. Khi xem tranh giáo viên chỉ cần nhấn mạnh những điểm cơ bản của động tác, giúp học sinh nắm chắc các cử động kỹ thuật. Tiếp đó giáo viên có thể làm mẫu một lần nữa nếu như thấy vẫn còn một số học sinh chưa thực sự nắm chắc kỹ thuật động tác. Đối với lần làm mẫu này giáo viên cũng thực hiện với một mức độ bình thường, đối với những cử động khó giáo viên có thể vừa làm vừa nhắc nhở sự chú ý tập trung của học sinh. Như tôi đã nêu ở trên, làm mẫu củng phải kết hợp với giải thích kỷ thuật động tác, đồng thời nhắc nhở học sinh quan sát những khâu chủ yếu. Khi giảng dạy phải trình bày một cách rõ ràng, nhấn mạnh những điểm then chốt của động tác để kích thích sự hứng thú của học sinh thực hiện bài tập. Khi giáo viên làm mẫu phải cho học sinh đứng xen kẻ nhau để sao cho tất cả các em đều quan sát được giáo viên làm mẫu động tác. Bên cạnh đó giáo viên cần sử dụng hình thức làm mẫu theo kiểu "soi gương" để vừa thực hiện vừa quan sát được sự tập trung của học sinh. Ví dụ: khi dạy học sinh thực hiện nhịp 1 của động tác "Chân": "Đá chân trái ra trước lên cao, đồng thời hai tay dang ngang bàn tay sấp" thì giáo viên làm ngược lại "Đá chân phải ra trước lên cao, đồng thời hai tay dang ngang bàn tay sấp". 3.4. Giải thích rõ kỹ thuật động tác.
  11. 13 Đối với phân môn thể dục cấp Tiểu học nói chung và bài thể dục phát triển chung lớp 4 nói riêng thì khi giảng dạy là không thể thiếu giải thích kỹ thuật động tác. Đây là phương pháp giúp học sinh có mục đích, hiểu và nắm được kỹ thuật từng nhịp cũng như toàn bộ động tác. Là cơ sở tạo điều kiện cho học sinh tiếp nhận bài tập một cách chính xác, nhanh nhất về mặt kỹ thuật, đồng thời giúp học sinh nhớ và khắc sâu để từ đó hình thành biểu tượng chung của động tác. Song song với việc giải thích kỹ thuật thì giáo viên cũng nên kết hợp với làm mẫu để giúp học sinh tiếp thu một cách nhanh và hiệu quả nhất. Ví dụ: Dạy động tác "Tay" trước hết giáo viên nêu tên động tác, sau đó giải thích cặn kẽ từng nhịp nhưng không quá dài dòng như: Nhịp 1: Khụy gối, lưng thẳng, đồng thời hai tay sang ngang rồi gập khủy tay, các ngón tay đặt lên hõm vai. Giáo viên vừa nói vừa làm mẫu. Các nhịp còn lại tôi cũng vừa giải thích kỹ thuật động tác vừa làm mẫu. Khi giải thích kỹ thuật động tác, giáo viên cần nói ngắn gọn, chính xác nhưng dễ hiểu, tránh giải thích dài dòng gây nên sự nhàm chán ở học sinh cũng như mất thời gian để học sinh thực hành luyện tập. Việc giải thích cần chú ý giúp học sinh nắm vững nét cơ bản kỹ thuật và nhấn mạnh yếu lĩnh của động tác đã học. Qua đó củng cố được kỷ thuật luyện tập, đánh giá được ý thức thực hiện bài tập của học sinh. Trong khi giải thích kỹ thuật động tác giáo viên phải chọn vị trí đứng sao cho hợp lí để lời nói của mình vừa được tất cả học sinh trong lớp nghe, giáo viên vừa quan sát được tất cả các em trong lớp. Tránh đứng quá gần hoặc quá xa, đứng lệch sang một bên.