Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn Lớp 3

doc 17 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 800
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_d.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn Lớp 3

  1. phần giải toán có lời văn nhằm nâng cao trình độ nhận thức, góp phần nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển Giáo dục trong giai đoạn hiện nay của ngành và của nhà trường. Từ những lí do thực tế trên, tôi mạnh dạn chọn đi sâu nghiên cứu đề tài kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn lớp 3”. 1.2 Điểm mới của đề tài. Đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn lớp 3” là một đề tài đã được rất nhiều tài liệu nói đến nhưng riêng ở Trường TH tôi đang công tác thì đến nay chưa có giáo viên nào nghiên cứu để viết thành đề tài kinh nghiệm. Bởi vậy, tôi đã mạnh dạn chọn trình bày đề tài nghiên cứu này. Điểm mới trong đề tài là tôi đã thực hiện vận dụng điểm mới của mô hình lớp học VNEN về đổi mới phương pháp dạy học thông qua việc thay đổi không gian lớp học, xây dựng nhóm học tập thân thiện, tạo cơ hội cho học sinh có sự trao đổi, tự tìm tòi và lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sáng tạo trên cơ sở giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, điều hành. 1.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài. Vì điều kiện thời gian và sự phân công công tác nên phạm vi của đề tài chỉ nghiên cứu trong lớp học tôi đang chủ nhiệm (lớp 3D). 2. PHẦN NỘI DUNG 2.1. Thực trạng của chất lượng giải toán có lời văn lớp 3D. Qua khảo sát vào đầu năm học, ở lớp 3 với giai đoạn này các em đang tiếp nối kiến thức đã học từ lớp 1, lớp 2. Các bài tập thực hành là các bài toán đơn chỉ có một lời giải, một phép tính và đáp số.Với các dạng toán giải: Bài toán về nhiều hơn; bài toán về ít hơn. Tuy vậy, cũng đề toán dùng từ “nhiều hơn” nhưng phải thực hiện phép tính trừ; với đề toán dùng từ “ít hơn” lại thực hiện bằng phép tính cộng. Đối với các dạng toán như vậy các em nắm chưa thành thạo, tìm phép tính chưa phù hợp với lời giải, thiếu chính xác. Sang cuối đợt một, các em bắt đầu làm quen với các dạng toán hợp. Đây là dạng toán có hai phép tính trở lên, câu hỏi của bài toán thường là phần gợi ý của lời giải thứ hai còn lời giải thứ nhất đòi hỏi các em phải tư duy để tìm. Vì vậy nếu lời giải thứ nhất sai dẫn 3
  2. đến cả bài giải đều sai. Tôi tiếp tục khảo sát chất lượng môn toán với 23 học sinh của lớp 3D, qua một số đề toán với kiến thức tổng hợp. Kết quả điểm của bài kiểm tra đều đạt theo yêu cầu song điều làm tôi băn khoăn, lo lắng là phần bài tập giải toán có lời văn tỉ lệ các học sinh làm được bài rất thấp. Trong các tiết học Toán trên lớp đến phần “ giải toán có lời văn” đa số các em đều hoạt động cá nhân nên kĩ năng phân tích đề còn hạn chế, nhiều em còn lúng túng trong việc tìm vấn đề bài toán cho biết gì và yêu cầu cần giải quyết gì để tìm các bước giải.Vì vậy mà khiến các em luôn né tránh mỗi khi đến phần học và làm bài tập giải toán. Giáo viên giảng dạy cũng đã đổi mới phương pháp nhưng hiệu quả đem lại chưa cao. Bên cạnh đó, nhận thức một số phụ huynh còn hạn chế, chưa quan tâm đến việc học tập của con cái, giao phó tất cả cho giáo viên. Trình độ học vấn của đa số phụ huynh về phần giải toán chưa cao nên gặp khó khăn trong việc dạy con học ở nhà, nhất là môn toán nói chung và kĩ năng giải toán có lời văn nói riêng. Sau đó, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng giải toán có lời văn của lớp cụ thể là: Qua thực tế khảo sát, kết quả điều tra: Chất Tóm tắt bài toán Phân tích bài toán Giải bài toán Lớp lượng Số lượng % Số lượng % Số lượng % Giỏi 2 8.7 2 8,7 2 8,7 Khá 8 34,8 6 26,1 6 26,1 3D T.bình 7 30,4 10 43,5 10 43,5 Chưa 6 26,1 5 21,7 5 21,7 đạt Nhìn vào bảng thống kê kết quả khảo sát cho thấy: Tỉ lệ học sinh nắm và giải được bài toán còn thấp, tỉ lệ học sinh phân tích bài toán và chưa giải đúng còn nhiều. Trong quá trình dạy học trên lớp tôi nhận thấy những hạn chế của học sinh trong qua trình học và làm bài là: Ngôn ngữ toán học còn hạn chế. Khả năng nhận dạng các dạng toán của học sinh còn lúng túng, chưa tìm đúng lời giải thứ nhất, dẫn tới làm sai bài. Chưa chịu khó học tập, chưa mạnh dạn nêu ra những thắc mắc với thầy cô giáo. Luôn có thái độ che dấu những điều chưa biết của mình. Ý thức học tập chưa cao, tinh thần trao đổi với bạn bè, thầy cô còn hạn chế. 4
  3. Xuất phát từ thực trạng đó, là một giáo viên đứng lớp tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và tìm một số biện pháp nhằm “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi dạy giải toán có lời văn lớp 3”. 2.2. Các biện pháp. 2.2.1. Biện pháp 1: Xây dựng nhóm học tập thân thiện. Hình thức tổ chức dạy học này có ý nghĩa và tác dụng tích cực. Tất cả học sinh đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫn nhau, giải quyết được những vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học. Tạo thái độ học tập tích cực, đặc biệt bước đầu giúp các em làm quen với phong cách làm việc hợp tác, đề xuất với giáo viên những vấn đề vướng mắc cần giải đáp. Giáo viên lập các nhóm học tập dựa vào năng lực học của từng học sinh, sao cho mỗi nhóm đều có học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu tham gia số lượng từ 4 - 6 em. Hình thức hoạt động: Lần đầu giáo viên tổ chức, hướng dẫn các em cách thức sinh hoạt, cách thức phân tích bài toán, cách thức kiểm tra các thành viên trong nhóm để nhóm tự kiểm tra, thảo luận, giúp nhau trong việc giải toán như: phân tích bài toán; tìm Các bước giải; lựa chọn phép tính phù hợp; sửa chữa sai sót cho nhau trong quá trình giải toán. Giáo viên“Tập huấn” cho trưởng nhóm về cách điều khiển các hoạt động của nhóm (như một giáo viên). Nhóm trưởng biết cách phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm sao cho các bạn đều được tham gia, đều phải thể hiện. Biết thay đổi linh hoạt vai trò của các thành viên trong nhóm: là thư kí; là đại diện báo cáo kết quả. Biết động viên khích lệ bạn còn chưa thực nhanh tay, nhanh mắt trong nhóm, tạo tính mạnh dạn cho các em. Ví dụ: Cho bài toán “Một cửa hàng buổi sáng bán được 62 kg gạo, buổi sáng bán được nhiều hơn buổi chiều là 18 kg gạo. Hỏi cả hai buổi cửa hàng đó bán được bao nhiêu ki-lô-gam gạo?”. Bạn trưởng nhóm điều khiển nhóm mình như giáo viên đã hướng dẫn. + Cho các bạn đọc đề toán, nêu dự kiện của bài toán: bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?. + Tóm tắt bài toán: các bạn tự trao đổi để tìm xem tóm tắt bằng hình thức nào cho phù hợp( sơ đồ hay ngôn ngữ...) 5
  4. + Thảo luận lập kế hoạch giải, cuối cùng là thống nhất cách thực hiện quá trình giải. Các thành viên trong nhóm tự đưa ra câu hỏi và trả lời cho thích hợp. Như vậy, tất cả các bạn trong nhóm đều phải thực hiện tất cả các bước theo trình tự. Từ đó nhắc nhở các bạn trong bài toán đã có dùng từ “nhiều hơn” nhưng không phải hễ cứ thấy “nhiều hơn” là làm tính cộng, tránh quan niệm sai lầm đó. Tiếp theo bạn nhóm trưởng yêu cầu các bạn tự giải bài vào vở. Huy động kết quả ở trong nhóm bằng việc lần lượt các bạn đọc bài giải của mình để cả nhóm đối chiếu, các bạn khác được nhiều lần kiểm tra lại câu lời giải, phép tính và kết quả, khuyến khích các bạn có cách giải hay hơn ( lời giải khác), sau đó báo cáo với giáo viên về kết quả sinh hoạt nhóm, đề xuất ý kiến cần thiết. Việc học nhóm đã giúp các em tự tin hơn bởi vì : “Học thầy không tày học bạn”. Qua học nhóm đã giúp các em không bị gò bó, nâng cao kỹ năng giải toán hơn - tạo cho các em có niềmvui trong học toán. Ích lợi của biện pháp này là giáo viên đỡ tốn thời gian mà vẫn phát hiện những mặt hạn chế của học sinh để kịp thời uốn nắn, sữa chữa cho các em. Học sinh gắn bó với nhau hơn, mạnh dạn trong giao tiếp, hình thành thói quen và kỹ năng phân tích, kỹ năng giải toán, điều quan trọng là tạo cơ hội để các em tự nói lên những suy nghĩ của mình tạo tính tích cực, mạnh dạn cho các em, từ đó các em có niềm say mê, hứng thú khi học toán hơn. 2.2.2. Biện pháp 2: Xây dựng môi trường, không gian lớp học. Xây dựng phòng học và tổ chức không gian lớp học mang tính thẫm mĩ, sư phạm, các em sẽ tự giác tích cực hơn khi được sống trong môi trường thân thiện. Học sinh tiểu học với tâm lý lứa tuổi hiếu động, thích sự thay đổi nên thường có cảm giác bị áp lực học tập trong một môi trường: Thầy giảng trò nghe; thầy đọc trò chép. Trong những năm học gần đây, tất cả các trường đang thi đua xây dựng mô hình : “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Hình thành môi trường bạn hữu thân thiện, học sinh biết giúp đỡ nhau, yêu quý trường lớp, giữ gìn môi trường xanh-sạch-đẹp. Lớp học là nơi các em học tập cũng là nơi các em tự do thể hiện sự sáng tạo của mình qua việc sắp xếp các dụng cụ học tập, sản phẩm do chính bàn tay các em cũng như cha mẹ hay thầy, cô giáo tạo ra. Từ đó giúp các em hào hứng hơn trong mỗi hoạt động học đường. Các em sẽ tự giác và tích cực học tập hơn 6
  5. khi được sống trong môi trường thân thiện. Đổi mới không gian lớp học, xây dựng không gian lớp học thân thiện bằng cách xây dựng các góc học tập, góc thư viện, góc môi trường, góc hỗ trợ các hoạt động giáo dục.......phù hợp với khoảng không gian lớp học, thuận tiện trong sử dụng. Đối với môn toán, góc học tập là nơi trưng bày trang thiết bị đồ dùng dạy học, các sản phẩm học tập của học sinh. Trong góc đó là những đồ vật, thiết bị gần gũi với các em như êke, compa, những mô hình, những vật thật và cả những thiết bị, đồ dùng do các em tự làm... Chính những đồ vật đó đã giúp học sinh lĩnh hội được những kiến thức trừu tượng trong hoạt động học tập. Khi nhìn những đồ dùng học tập đó, học sinh thấy tái hiện lại quá trình sử dụng đồ dùng học tập, thấy chúng trở nên thân thiện thú vị hơn vì đấy chính là những đồ vật đã đồng hành trong việc giúp các em học tập. Thay đổi không gian lớp học ở đây còn thể hiện ở việc thay đổi tư thế ngồi học. Lớp học bây giờ được thay thế bằng các nhóm học tập. Bàn ghế được sắp xếp theo hình chữ U, các nhóm hoặc các học sinh trong nhóm được ngồi đối diện nhau để thuận tiện trong việc học nhóm, tạo hứng khởi cho các em trong học tập. Vị trí ngồi trong nhóm cũng được thay đổi thường xuyên theo từng tiết học, buổi học. Không gian này có thể thay đổi từng tuần tùy theo đặc trưng của từng môn học và để đảm bảo cho học sinh được thay đổi vị trí, tránh trường hợp ngồi lệch so với bảng trong thời gian dài. 2.2.3. Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp dạy học. Trong dạy học “Không có phương pháp nào là vạn năng” song người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp thích hợp cho từng tiết học giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động, sáng tạo tạo nên tiết học sinh động, giải quyết được vấn đề một cách hợp lý, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Có thể cùng một bài toán nhưng có thầy dạy thì học sinh dễ hiểu, nắm được mạch bài, nhưng có thầy dạy thì học sinh hiểu rất ít, đó chính là khác nhau giữa phương pháp dạy học giữa hai người thầy. Để nâng cao hiệu quả dạy học, người thầy phải tìm tòi, lựa chọn phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh mình. Thông thường khi hướng dẫn học sinh giải một bài toán giáo viên cho học sinh đọc đề, phân tích bài toán và gợi ý cách giải, sau đó cho học sinh giải bài vào vở. 7
  6. Để học sinh chủ động trong việc tìm cách giải bài toán, giáo viên cho học sinh đọc đề toán sau đó giao việc cho học sinh thảo luận theo nhóm để phân tích bài toán, tìm cách giải bài toán và trình bày ý kiến trước lớp, giáo viên cho các nhóm bổ sung và thống nhất cách giải. Ví dụ: Khi hướng dẫn giải bài toán: “Thùng thứ nhất đựng 18l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6l dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?”. Giáo viên cho học sinh đọc kĩ đề bài, giao nhiệm vụ cho các nhóm thảo luận phân tích bài toán, học sinh trình bày ý kiến phân tích của nhóm theo hình thức đàm thoại: - Bài toán cho biết gì? (thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn 6 lít dầu). - Bài toán hỏi gì? (cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu). - Các nhóm tự thảo luận tách bài toán đã cho thành hai bài toán đơn bằng cách: + Đặt câu hỏi phụ để lập bài toán đơn thứ nhất rồi chọn phép tính và thực hiện phép tính đó. + Sau đó lập bài toán đơn thứ hai bằng cách sử dụng kết quả của phép tính ở bài toán đơn thứ nhất rồi chọn phép tính và thực hiện phép tính đó. Dựa vào phân tích bài toán như trên học sinh tiếp tục trình bày cách giải bài toán: Bài giải: Thùng thứ hai đựng được : 18 + 6 = 24 ( l). Cả hai thùng đựng được : 18 + 24 = 42 ( l). Đáp số: 42l dầu. Sau khi học sinh trình bày, giáo viên cho các nhóm nhận xét cách trình bày lời giải trong mỗi phép tính để chọn lời văn chính xác cho mỗi phép tính của bài giải. 8
  7. Giáo viên có thể cho học sinh trình bày nhiều lời giải khác và chú ý lời văn trong mỗi cách nêu lời giải để hình thành kỹ năng diễn đạt các bài toán có lời văn. Đối với những bài toán khó giáo viên cần giành thời gian nhiều hơn hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ bài toán. Gợi mở để học sinh hiểu đề bài và gợi ý cho học sinh khá giỏi làm không nên bắt buộc học sinh yếu làm. Để giúp học sinh học tốt nâng cao chất lượng giải toán có lời văn, giáo viên không nên tự xem vốn kiến thức của mình là thoả mãn, giáo viên phải phát huy vai trò tự học, tự rèn học những phương pháp giải toán, thường xuyên giải bài toán khó, đọc tạp chí tiểu học, các chuyên đề bồi dưỡng học sinh lớp 3 nhằm trang bị cho mình những kiến thức toán học bổ ích. Tham gia các lớp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của người giáo viên trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình tổ chức điều khiển quá trình học tập của học sinh giáo viên đưa ra những câu hỏi liên quan đến nội dung bài học với nhiều loại câu hỏi khác nhau. Đó là những câu hỏi về hiện tượng, sự kiện, câu hỏi đòi hỏi nhớ lại, đòi hỏi nhận thức cao hơn và biết sắp xếp chúng từ dễ đến khó đặc biệt là trong các tiết luyện tập thực hành. Ví dụ: Khi hướng dẫn giải bài toán “Một hình vuông có chu vi 2m 4dm. Hỏi hình vuông đó có diện tích bằng bao nhiêu xăng – ti – mét – vuông?” - Đề toán này nhằm nâng cao một bước năng lực của học sinh trong hoạt động giải toán. - Bằng hệ thống câu hỏi phát vấn dẫn dắt học sinh đến với đề toán. Bài toán cho biết gì? (Câu hỏi tìm dữ kiện). Bài toán yêu cầu ta phải làm gì? (Tìm ẩn số). Học sinh muốn giải bài toán này cần phải chuyển hai đơn vị đo về một đơn vị đo nhỏ hơn, giáo viên phải đặt câu hỏi: Hai đơn vị đo liền nhau hơn kém nhau bao nhiêu lần? (Đòi hỏi học sinh nhớ lại). 9
  8. Muốn tính chu vi hình vuông ta làm thế nào? (Câu hỏi đòi hỏi học sinh suy luận). Giáo viên cần chọn những bài toán có nội dung thực tế để giúp học sinh nắm vững kiến thức và tăng cường khả năng vận dụng kiến thức cho học sinh. 2.2.4 Biện pháp 4: Dạy học theo hướng phân hóa. Trong một lớp học thường có tất cả 4 đối tương (giỏi, khá, trung bình, yếu) vì vậy đòi hỏi người giáo viên hết sức linh hoạt, sáng tạo để thiết kế bài dạy phù hợp với các đối tượng, tránh học sinh giỏi cảm thấy nhàm chán khi bài quá dễ, còn học sinh yếu lại thấy mệt mỏi, chán học khi bài quá khó, không thể làm được. Trong một tiết học chúng ta phải tạo cho tất cả các em hoạt động dù học sinh yếu hay giỏi bằng nhiều cách để lôi cuốn các em vào hoạt động học. Ví dụ: Khi hướng dẫn giải bài toán: Hình chữ nhật có chiều dài 12cm,chiều rộng 6cm. Hình vuông có cạnh là 9cm. a. Tính chu vi mỗi hình. So sánh chu vi hai hình đó. b. Tính diện tích mỗi hình. So sánh diện tích hai hình đó. Trước hết tôi cũng hướng dẫn các em phân tích bài toán theo các bước. Các nhóm đi vào thảo luận để tìm các bước giải. Phần giải bài toán tôi yêu cầu các em trung bình, yếu dựa vào các quy tắc để giải được ý thứ nhất của câu a và b, còn học sinh khá, giỏi giải bài toán hoàn chỉnh. Với cách giao việc như trên nhằm giúp tất cả học sinh đều có thời gian làm bài bằng nhau, học sinh khá, giỏi đủ thơi gian kèm cặp kiểm tra bạn yếu. Bên cạnh đó tôi còn tổ chức cho các em các phong trào thi đua học tập như: “ Xóa điểm yếu”; Phong trào “Đôi bạn cùng tiến”; Phong trào “ Hoa điểm mười”. hướng dẫn các em thực hiện phong trào “Đi truy về xào” để các em giúp nhau củng cố bài học. 2.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi kết quả học tập của học sinh. 10
  9. Bất kể hoạt động nào cũng cần kiểm tra đánh giá, đây là công việc cần thiết trong công tác giảng dạy của giáo viên. Các em ở lứa tuổi này còn ham chơi, nếu giáo viên không thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở thì các em sẽ lơ là trong học tập. Bởi vậy giáo viên cần kiểm tra để động viên khuyến khích kịp thời, tạo động lực học tập cho các em. Đồng thời rèn các em có tính siêng năng, biết phấn đấu vươn lên trong học tập, thấy được những thiếu sót của mình để sữa chữa, khắc phục. Ví dụ như ngoài những bài tập trong chương trình giáo viên có thể ra thêm một vài bài toán có nhiều cách giải yêu cầu các em tìm ra nhiều cách giải hay nhằm phát huy tính sáng tạo, tạo niềm say mê hứng thú thêm cho các em. Ví dụ: có bài toán “Một cửa hàng có 950kg gạo. Ngày thứ nhất bán 116kg gạo, ngày thứ hai bán gấp 3 lần ngày thứ nhất. Hỏi sau hai ngày bán, cửa hàng còn bao nhiêu ki-lô-gam gạo?”. Với bài toán như vậy giáo viên hướng dẫn các em hướng dẫn giải rồi yêu cầu các em tìm nhiều cách giải khác nhau. * Hướng dẫn các em: - Đọc kĩ bài toán: Đọc đề bài xem bài toán cho biết gì? hỏi gì? - Lập kế hoạch giải: + Tìm số ki-lô-gam gạo của ngày thứ hai. + Tìm số ki-lô-gam gạo của hai ngày bán. + Tìm số ki-lô-gam gạo còn lại sau hai ngày bán. - Sau khi hướng dẫn xong, yêu cầu các em về nhà giải bằng nhiều cách. Giáo viên kiểm tra kết quả sau. Cách giải 1: Bài giải Số ki-lô-gam gạo ngày thứ hai bán được: 116 x 3 = 348 (kg) Số ki-lô-gam gạo cả hai ngày bán được: 11
  10. 116+ 348 = 464(kg) Sau hai ngày bán cửa hàng còn lại: 950 - 464 = 486(kg) Đáp số: 486 kg gạo Cách giải 2: Bài giải Ngày thứ hai bán được số ki-lô=gam gạo: 116 x 3 = 348 (kg) Sau hai ngày bán cửa hàng còn lại số ki-lô-gam gạo: 950 – ( 116 + 348 ) = 486 ( kg) Đáp số: 486 kg gạo Với bài toán trên, đối với những em tiếp thu nhanh thì có thể tìm ra nhiều cách giải, Nhưng đối với những em tiếp thu bài còn non, các em giải được bài toán quả là khó lắm rồi. Vì vậy giáo viên phải thường kiểm tra, theo dõi để hướng dẫn thêm cho các em, kịp thời động viên các em tiến bộ, gần gũi, yêu thương các em, tạo cho các em niềm tin để vươn lên trong học tập. Thường đối với những em tiếp thu chậm khi giải đúng được một bài toán các em rất phấn khởi, nếu các em được động viên kịp thời sẽ phấn khởi và tiến bộ rất nhanh. 2.2.6. Biện pháp 6: Xây dựng mối quan hệ thầy trò bền chặt. Tạo sự gắn kết, tin tưởng của học sinh đối với giáo viên. Tạo cho học sinh lòng kính trọng, say mê học tập. Để làm được vấn đề này giáo viên cần gương mẫu, xử sự công bằng yêu thương, tôn trọng với các em. Giáo viên chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp. Bằng những giờ dạy nhẹ nhàng, sinh động, hấp dẫn dễ lôi cuốn các em tích cực tham gia vào hoạt động học tập. Sẵn sàng chia sẽ những giải đáp, thắc mắc với các em. Xử lý các tình huống nảy sinh trong quá trình dạy học một cách hợp lý. Biết động viên khích lệ HS bằng những lời khen ngợi khi các em có sự tiến bộ dù là rất nhỏ để học sinh có được tự tin mà phấn đấu vươn lên. 12
  11. Giáo viên phải nắm chắc được mặt yếu, mặt mạnh của từng học sinh, tạo cho học sinh có điều kiện để giao lưu với bạn bè, với thầy cô. Khi học sinh bị hỏng kiến thức ở đâu giáo viên không nóng vội mà cần có kế hoạch ôn tập bổ sung ở đó. Tôi luôn thực hiện phương châm “Mưa dầm thấm lâu” đối với những đối tượng học sinh chậm tiến bộ. Cho nên không chỉ cho các em kết quả bài toán mà chủ yếu cho các em con đường để tìm ra kết quả - hay nói cách khác, dạy cách học, cách suy luận cho các em. Ví dụ: Cho bài toán: Để ốp thêm một mảng tường người ta dùng hết 9 viên gạch men, mỗi viên gạch hình vuông cạnh 10cm. Hỏi tính diện tích mảng tường được ốp thêm là bao nhiêu xăng-ti-mét vuông? * Từ ví dụ trên thầy - trò cùng thảo luận đưa ra một cách giải chung cho dạng toán tương tự như vậy. Đây là một dạng toán khó trong chương trình Toán 3. Đa số học sinh nắm bài non, hoặc yếu rất lúng túng. Vì vậy giáo viên phải dẫn dắt học sinh đi vào tìm từng bước giải một. Trong khi học sinh luyện tập, tôi luôn theo dõi sát sao và giúp đỡ kịp thời, chấm bài, chữa ngay tại lớp và khen ngợi động viên, đặc biệt là các em thiếu mạnh dạn. Một khi mối quan hệ bền chặt thì niềm tin học sinh sẽ được nâng cao, ý thức tự học sẽ ngày càng được củng cố, các em sẽ chăm học, trao đổi mạnh dạn với thầy cô giáo về bài tập mà mình chưa hiểu từ đó thầy mới biết mình cần làm gì để giúp các em giải toán tốt hơn. 2.2.7. Biện pháp 7: Công tác phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh học sinh. - Để nâng cao chất lượng, giáo viên chủ động gặp gỡ và trao đổi tình hình học tập của con em đến tận từng phụ huynh, giúp họ biết được tình hình học tập của con em mình để cùng hợp tác khắc phục. Có thể giới thiệu với phụ huynh phương pháp giáo dục, cách hướng dẫn các em cách học ở nhà, tránh tình trạng bắt các em học quá tải, hoặc xỉ mắng khi các em chưa làm được bài tập gây tổn thương tinh thần cho các em, làm các em thiếu tự tin trong học tập - Tế nhị với phụ huynh, tránh những lời chỉ trích con em họ. - Cuối học kì, cuối năm học cần có đánh giá tổng kết, thông báo kết quả tiến bộ của con em họ giúp học sinh cũng có nguồn động viên từ phía gia đình. 13