Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ trong Trường Mầm non

docx 33 trang Chăm Nguyễn 14/10/2025 250
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ trong Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_c.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ trong Trường Mầm.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ trong Trường Mầm non

  1. 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng khoa học cơ sở trường mầm non Yên Sơn Tôi là tác giả: Nguyễn Thị Tho Tỉ lệ (%) đóng Bộ phận, đơn vị góp vào việc tạo Trình độ công tác, ( hoặc) Chức ra sáng kiến ( Stt Họ và tên chuyên số CCCD/Hộ danh ghi rõ đối với môn chiếu và địa chỉ từng đồng tác liên hệ giả, nếu có) 100% cán bộ, giáo viên, nhân Cao Trường MN Yên viên, Y tế, kế đẳngkỹ Nhân Sơn - Huyện Quốc toán tại trường 1 Nguyễn Thị Tho thuật chế viên nuôi Oai - Thành phố mầm non Yên biến món dưỡng Hà Nội Sơn – Huyện ăn Quốc Oai – TP Hà Nội Đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non” Đã áp dụng/áp dụng thử từ ngày 10/09/2023 tại Trường mầm non Yên Sơn – Huyện Quốc Oai – Thành phố Hà Nội. Hiệu quả chính: Sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non” đã được triển khai thử nghiệm tại Trường Mầm non Yên Sơn từ ngày 10/9/2023 và bước đầu mang lại những kết quả tích cực, thiết thực. Các biện pháp cải tiến quy trình chế biến đã giúp đảm bảo tốt hơn giá trị dinh dưỡng trong mỗi món ăn, đồng thời giữ được hương vị tự nhiên và màu sắc hấp dẫn, phù hợp với độ tuổi mầm non. Việc áp dụng kỹ thuật chế biến linh hoạt, lựa chọn thực phẩm theo mùa, phù hợp thể trạng và khẩu vị của trẻ đã giúp cải thiện rõ rệt tình trạng biếng ăn, kén ăn, góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trong nhà trường. Ngoài ra, sáng kiến cũng giúp nâng cao ý thức, kỹ năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên nhà bếp trong việc chế biến thực phẩm an toàn, khoa học và sáng tạo hơn. Từ đó, tạo ra những bữa ăn phong phú, đa dạng, đáp ứng
  2. 3 yêu cầu nuôi dưỡng trẻ theo hướng ngày càng chất lượng và chuyên nghiệp hơn. Sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh trong công tác nuôi dưỡng trẻ cũng được tăng cường, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Tho Những người tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu: Bộ phận, đơn vị công tác, ( Hoặc) Stt Họ và tên Nội dung công việc hỗ trợ CCCN/Hộ chiếu và địa chỉ liên hệ Phó hiệu trưởng phụ trách nuôi Chỉ đạo 1 Nguyễn Thị Kim Anh dưỡng -Trường Mầm non Yên Sơn Nghiên cứu đề tài và thực Nhân viên nuôi dưỡng-Trường 2 Nguyễn Thị Tho hiện nhiệm vụ chăm sóc Mầm non Yên Sơn nuôi dưỡng Nhân viên nuôi dưỡng-Trường Thực hiện nhiệm vụ chăm 3 Đào Thị Liên Mầm non Yên Sơn sóc nuôi dưỡng 4 Phạm Thị Huệ Nhân viên nuôi dưỡng-Trường Thực hiện nhiệm vụ chăm Mầm non Yên Sơn sóc nuôi dưỡng 5 Nguyễn Thị Thanh Trang Nhân viên nuôi dưỡng-Trường Thực hiện nhiệm vụ chăm Mầm non Yên Sơn sóc nuôi dưỡng 6 Nguyễn Thị Thanh Hà Nhân viên nuôi dưỡng-Trường Thực hiện nhiệm vụ chăm Mầm non Yên Sơn sóc nuôi dưỡng 7 Đinh Thị Nguyệt Nhân viên nuôi dưỡng-Trường Thực hiện nhiệm vụ chăm Mầm non Yên Sơn sóc nuôi dưỡng 8 Ngô Thị Xuân Nhân viên nuôi dưỡng-Trường Thực hiện nhiệm vụ chăm Mầm non Yên Sơn sóc nuôi dưỡng 9 Nguyễn Thị Thu Nhân viên nuôi dưỡng-Trường Thực hiện nhiệm vụ chăm Mầm non Yên Sơn sóc nuôi dưỡng Xây dựng thực đơn, kết hợp 10 Nguyễn Thị Hiền Kế toán-Trường Mầm non Yên Sơn giao nhận thực phẩm, tính khẩu phần ăn Giám sát môi trường, an 11 Nguyễn Toàn Thắng Y tế-Trường Mầm non Yên Sơn toàn thực phẩm 13 Lớp A1 34 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 14 Lớp A2 35 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 15 Lớp A3 26 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 16 Lớp A4 28 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 17 Lớp A5 18 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 18 Lớp B1 28 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 19 Lớp B2 28 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 20 Lớp B3 31 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 21 Lớp B4 30 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 22 Lớp B5 10 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 23 Lớp C1 33 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 24 Lớp C2 28 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú
  3. 4 25 Lớp C3 20 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 26 Lớp C4 18 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 27 Lớp C5 12 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 28 Lớp D1 26 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 29 Lớp D3 27 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 30 Lớp D5 10 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú 31 Lớp E1 24 trẻ-Trường Mầm non Yên Sơn Ăn bán trú Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. HIỆU TRƢỞNG Phượng Sơn, ngày 30 tháng 03 năm 2025 ( Ký và ghi rõ họ tên) Ngƣời yêu cầu công nhận ( Ký và ghi rõ họ tên) Phùng Thị Xuân Hoa Nguyễn Thị Tho
  4. 5 1. Đặt vấn đề 1.1. Tên đề tài, sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non” 1.2. Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết: Cấp học mầm non là một cấp học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp học có nhiệm vụ thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi, nếu được chăm sóc nuôi dưỡng - giáo dục tốt trẻ sớm phát triển về thể chất một cách đúng hướng và mạnh mẽ thì đứa trẻ sẽ phát triển một cách khoẻ mạnh. Đây là giai đoạn rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển 5 lĩnh vực: Phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mỹ, phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội, hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Luật bảo vệ chăm sóc cho trẻ cũng đã nêu rõ: “Sức khoẻ trẻ em hôm nay là sự phồn vinh cho xã hội mai sau”. Mục tiêu của cấp học giáo dục nói chung cấp mầm non nói riêng, công tác chăm sóc nuôi dưỡng chiếm một vị trí rất quan trọng, giúp trẻ phát triển toàn diện, hài hòa, cân đối, ngoài ra còn giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những nét đầu tiên của nhân cách con người. Để đạt được mục tiêu giúp trẻ phát triển toàn diện thì việc kết hợp hài hòa giữa công tác chăm sóc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc giáo dục là một việc làm rất cần thiết, ở giai đoạn này cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý để trẻ phát triển khỏe mạnh. Trong khi đó chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn hợp lý góp phần không nhỏ cho sự phát triển cơ thể hài hoà, cân đối. Ngày nay với sự phát triển chung của xã hội, mỗi gia đình đều có cuộc sống đầy đủ sung túc hơn, chính vì vậy trẻ em được hưởng sự chăm sóc đặc biệt của gia đình và toàn xã hội. Trẻ em được ví như mầm cây non nớt rất cần được sự chăm sóc và cung cấp đầy đủ dưỡng chất để sinh trưởng và phát triển. Chính vì vậy, chất lượng bữa ăn hàng ngày là nguồn cung cấp chính các nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, bữa ăn đủ chất, đủ lượng sẽ giúp cơ thể trẻ phát triển tốt cả về thể chất và trí tuệ. Do dinh dưỡng là nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống con người nói chung và đặc biệt đối với trẻ em mầm non nói riêng. Cho nên, việc cung cấp các chế độ dinh dưỡng cho trẻ ra sao, cách chế biến như thế nào cho hợp lý và khoa học giúp trẻ vừa ăn ngon miệng vừa phát triển mạnh mẽ về thể chất, đó là nhiệm vụ rất lớn lao của một nhân viên trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng: - Thứ nhất: Tuyệt đối đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Thứ hai: Đồ dùng chế biến phải gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, vệ sinh.
  5. 6 - Thứ ba: Thực phẩm phải đảm bảo tươi ngon, không dập nát, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. - Thứ tư: Khi chế biến cần thường xuyên cải tiến, nâng cao chất lượng bữa ăn, thay đổi thực đơn theo mùa, đảm bảo tỷ lệ các chất phù hợp với khẩu vị của trẻ, giúp trẻ ăn ngon, ăn hết xuất. Tuy nhiên, thực tế ở trường mầm non tôi công tác, khi chế biến món ăn cho trẻ tôi nhận thấy số trẻ ăn đông, số tiền trên một xuất ăn còn chưa cao so với thực tế giá cả thị trường. Một phần là do xuất phát của phụ huynh học sinh, vì đại đa số phụ huynh là thuần nông nên mức thu nhập còn thấp, kinh tế còn hạn hẹp. Bên cạnh đó, một số trẻ chưa thực sự có hứng thú khi ăn với những món ăn từ nhà bếp. Do vậy muốn bữa ăn của trẻ đầy đủ dinh dưỡng, nhân viên nuôi dưỡng cần chú trọng quan tâm đến chất lượng và giá cả thị trường, tích cực tham mưu nhà trường xây dựng thực đơn phù hợp với chế độ ăn của trẻ, thường xuyên chế biến, cải tiến các món ăn hàng ngày. Để khắc phục tình trạng trên và căn cứ vào tình hình thực tế tại ngôi trường nơi công tác, nhằm đảm bảo cho bữa ăn của trẻ vừa đủ về lượng, vừa đủ về chất và phù hợp với kinh tế, giá cả thị trường. Tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài. “Một số biện pháp nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non” làm đề tài nghiên cứu cho mình. 1.3. Phạm vi và đối tƣợng áp dụng nghiên cứu: Nhân viên nuôi dưỡng - Học sinh trường Mầm non Yên Sơn - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội. 1.4. Mục đích nghiên cứu: - Giúp nhân viên nuôi dưỡng nắm vững kiến thức, cách chế biến, cải tiến, nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn. - Giúp nhân viên nâng cao chất lượng bữa ăn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong khi chế biến. - Xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa và giá cả thị trường. - Giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, thừa cân và béo phì. 2. Giải quyết vấn đề 2.1. Thực trạng vấn đề: Năm học 2024-2025 tôi được phân công công tác tại tổ nuôi dưỡng điểm trường Quảng Yên. Nhiệm vụ chính là thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Qua một năm thực hiện đề tài tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn sau: Thuận lợi: - Trong quá trình công tác và làm việc tại nhà trường được sự quan tâm của
  6. 7 Cán bộ quản lý nhà trường, được sự giúp đỡ của đồng nghiệp. - Nhà trường có đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho trẻ ăn bán trú. - Nhà trường có quy mô rộng rãi thoáng mát, môi trường xanh, sạch, đẹp. - Có vườn rau sạch cung cấp một phần rau sạch cho bếp ăn. - Được sự quan tâm của Cán bộ quản lý, nhà trường cử nhân viên tham dự các lớp tập huấn, chuyên đề nuôi dưỡng, nâng cao kỹ thuật chế biến các món ăn cho trẻ. - Đồng chí hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng, đồng chí kế toán bếp ăn và tôi cùng với sự góp ý của các chị em trong tổ đã nuôi cùng nhau xây dựng thực đơn, theo tuần và theo mùa hợp lý. - Có sự đoàn kết giữa Cán bộ giáo viên nhân viên trong toàn trường. - Cơ sở vật chất đồ dùng đồng bộ, chị em trong tổ bếp nhiệt tình, yêu nghề, tận tụy với nghề. - Cơ sở bếp một chiều, đảm bảo đúng quy định. - Bản thân tôi là người nhiệt tình, tâm huyết, luôn học hỏi, có năng lực trong công tác, có trình độ đạt chuẩn. - Đồng nghiệp có nhiều năm kinh nghệm, có thành tích cao và đã được công nhận là nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp Thành Phố. Khó khăn: Ngoài những thuận lợi trên nhà trường còn gặp một số khó khăn sau: - Thực đơn một số ngày còn chưa phong phú. - Nhân viên nuôi dưỡng chưa được biên chế, mức lương còn thấp. - Sự phối hợp dây chuyền chưa được nhịp nhàng. - Bên cạnh đó còn một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng theo khoa học của con mình ở gia đình. - Nhà trường có 03 điểm trường và 02 bếp ăn mỗi điểm trường cách nhau từ 1- 2 km nên khó khăn cho nhân viên vận chuyển thực phẩm. - Cơ sở vật chất tuy đã được quan tâm, song còn nhiều hạn chế, so với yêu cầu hiện nay như: Nồi ninh cháo, bếp từ...vv. - Phần đông trẻ đến trường là con em của người dân lao động, nên kiến thức về dinh dưỡng còn hạn chế. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài: Tổng số trẻ ăn bán trú tại trường được khảo sát đầu năm với 480 trẻ như sau Nội dung đánh giá Số lượng đầu năm Tỷ lệ % Số trẻ ăn bán trú 431/480 89,9% Số trẻ suy dinh dưỡng cân nặng 13/480 2,7%
  7. 8 Số trẻ suy dinh dưỡng thấp còi 20/480 4,1% Số trẻ béo phì 10/480 2,0% Số trẻ hứng thú ăn ngon, hết xuất 361/480 75,2% Khả năng cảm nhận hương vị màu sắc hấp dẫn của các món ăn quen 370/480 77,0% thuộc mà trẻ yêu thích . Xuất phát từ một số biện pháp trên, tôi đưa ra một số biện pháp sau: 2.2. Các biện pháp đã tiến hành: Biện pháp 1: Tự học tập rèn luyện nâng cao hiểu biết và kỹ năng chế biến thực phẩm Ngay từ đầu năm học, 100% nhân viên tổ nuôi đã được nhà trường triển khai tập huấn chuyên đề cách xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn do nhà trường tổ chức. Bản thân tôi không ngừng tìm tòi học hỏi đồng nghiệp, tham gia tập huấn chuyên đề và trên mọi kênh thông tin có liên quan đến vấn đề về suy dinh dưỡng, cách chế biến các món ăn qua các hội thi dành cho nhân viên nuôi dưỡng do Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT, nhà trường tổ chức, thực hiện tốt các phong trào nhà trường phát động hoặc các hội thi nhân ngày lễ như ngày 20-11, ngày 8-3, 20/10...vv. Đặc biệt, bản thân tôi học hỏi rất nhiều tại Hội thi “Nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp Thành Phố” do huyện Quốc Oai đăng cai tại trường mầm non Thị trấn A. (Hình ảnh Hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp Thành phố) Để nâng cao hiểu biết, kỹ năng thực hành tôi học tập các bạn đồng nghiệp ở các bếp ăn tập thể trường điểm như trường mầm non Ngọc Mỹ A. Qua đợt kiến tập tại đây bản thân tôi đã được trực tiếp nghe nhiều ý kiến đóng góp của các cấp lãnh đạo, các bạn bè đồng nghiệp nên bản thân càng thêm vững vàng hơn về nghiệp vụ nấu ăn. (Hình ảnh kiến tập tại trường mầm non Ngọc Mỹ A) Ngoài ra bản thân tôi tự học hỏi qua các kênh qua sách báo, tài liệu, trang internet, youtobe như “Khám phá Ẩm thực truyền thống Việt Nam, Việt Nam miền ngon. Nhu cầu dinh dưỡng cần cho mỗi mỗi độ tuổi ở trẻ Mầm non của viện dinh dưỡng Việt Nam, In ternet nói về dinh dưỡng”. Tận dụng thời gian các buổi tối theo dõi trên kênh truyền hình giới thiệu cách chế biến món ngon mỗi ngày, cũng như tìm hiểu thêm trên mạng. Nắm bắt được điều đó là một nhân viên nuôi dưỡng tôi luôn có gắng học hỏi, tham khảo tài liệu, sách báo để trau dồi thêm kỹ năng, kiến thức trong việc chế biến món ăn
  8. 9 giàu dinh dưỡng, nâng cao chất lượng chế biến món ăn và cách phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ một cách hiệu quả. Tích cực trao đổi, thảo luận thực đơn, cách chế biến món ăn, cách cải thiện món ăn, cách bài trí món ăn, cách sử dụng thực phẩm giàu dinh dưỡng, tăng đậm độ năng lượng của bữa ăn với đồng nghiệp trong các buổi sinh hoạt chuyên môn. Tăng cường tham mưu với nhà trường thay đổi thực đơn, lựa chọn đa dạng nguồn thực phẩm đưa vào chế biến món ăn cho trẻ, giúp trẻ có cảm quan tốt, ăn ngon miệng, hết xuất, thực phẩm giàu dinh dưỡng nhằm giúp trẻ phát triển cơ thể hài hoà, cân đối để mạnh dạn, tự tin tham gia vào các hoạt động trên lớp. Chính vì vậy, việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức về kỹ năng chế biến thực phẩm là một việc làm rất quan trọng. Nếu hiểu biết chưa sâu thì việc sử dụng kết hợp giữa các chất sẽ không đảm bảo về lượng và chất, cách bài trí thiếu tính thẩm mỹ, cảm quan trẻ sẽ không tốt, việc trẻ tiếp nhận các món ăn không hào hứng, trẻ chán ăn và không còn cảm giác thèm ăn. Do đó, là một nhân viên nuôi dưỡng rất cần học hỏi, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về cách chế biến, kỹ thuật chế biến món ăn, giúp cho việc chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường đạt kết quả cao. Bằng các hình thức tự học tập rèn luyện trên tôi đã tự tin hơn khi thực hiện nhiệm vụ của mình, kết quả sau một năm tự học tập, bồi dưỡng tôi đã nắm bắt được rất nhiều cách chế biến, kỹ thuật chế biến phục vụ công tác nuôi dưỡng trong nhà trường. Biện pháp 2: Đảm bảo an toàn thực phẩm trong khâu giao nhận, sơ chế, chế biến thực phẩm * Đảm bảo an toàn thực phẩm trong khâu giao nhận thực phẩm: Thực hiện Công văn số 382/GD&ĐT ngày 05/09/2025 của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quốc Oai về việc hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên môn Giáo dục mầm non năm học 2024-2025. Trường mầm non Yên Sơn đã ký hợp đồng với công ty thực phẩm Hoàng Anh có uy tín đảm bảo về chất lượng và số lượng. Trong hợp đồng nhà trường đã nêu rõ yêu cầu chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý, thời gian giao nhận phải đảm bảo đúng quy định. Chất lượng thực phẩm từ khâu vận chuyển đến khâu giao nhận phải đảm bảo kịp thời. Giao nhận thực phẩm phải có đủ các thành phần (Ban lãnh đạo nhà trường, nhân viên y tế, kế toán, giáo viên,cô nuôi, người cung ứng thực phẩm). Nhà trường đã giám sát chặt chẽ khâu giao nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến món ăn qua camera tại các bếp ăn. (Hình ảnh giao nhận thực phẩm)
  9. 10 Do vậy việc lựa chọn thực phẩm tươi ngon là khâu quyết định đến chất lượng của bữa ăn có đảm bảo vệ sinh, phù hợp với trẻ, trẻ ăn có ngon miệng không điều đó phụ thuộc vào quá trình chúng ta lựa chọn thực phẳm như thế nào để giúp trẻ ăn ngon miệng và hết xuất của mình. Sau đây là một số bí quyết của tôi trong việc lựa chọn nhận thực phẩm hàng ngày cho trẻ tại trường: Thịt: Nên chọn thịt tươi, có nguồn gốc rõ ràng, được cung cấp từ các cơ sở đạt chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Thịt có màu sắc tự nhiên, không có mùi lạ, bề mặt không nhớt. Đối với trẻ nhỏ, ưu tiên loại thịt mềm, dễ tiêu như thịt gà, thịt nạc heo, hạn chế nội tạng hoặc thịt nhiều mỡ. Cá: Cá là nguồn cung cấp chất đạm và acid béo omega-3 rất tốt cho sự phát triển trí não của trẻ. Nên chọn cá tươi, mắt trong, mang đỏ tươi, thịt chắc. Tránh dùng cá ươn hoặc cá đông lạnh không rõ nguồn gốc. Các loại cá ít xương như cá thu, cá hồi, cá basa thường phù hợp với trẻ mầm non hơn. Rau xanh: Cần chọn rau sạch, còn tươi, không dập nát, không có dấu hiệu sâu bệnh. Ưu tiên sử dụng rau theo mùa để đảm bảo độ tươi ngon và giá trị dinh dưỡng cao. Nhà trường cần hợp tác với các đơn vị cung cấp rau an toàn hoặc nông sản hữu cơ nhằm giảm thiểu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.Như chúng ta cũng đã biết quá trình lựa chọn thực phẩm cũng góp phần không nhỏ trong quá trình chế biến các món ăn ngon trong gia đình cũng như trong nhà trường. Nếu chúng ta lựa chọn những thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, không tươi ngon thì bữa ăn của chúng ta không mang lại giá trị dinh dưỡng cao. Để đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ, việc quan trọng nhất, đó là chúng ta phải lựa chọn làm sao những thực phẩm ngon và tốt nhất cho trẻ, không sử dụng những thực phẩm ôi thiu, kém chất lượng, có như thế cơ thể trẻ mới phát triển khỏe mạnh và cân đối. Vì vậy, nếu trong trường hợp giao nhận thực phẩm có vấn đề như thịt chưa đảm bảo độ tươi ngon, rau dập nát..vv, tôi trực tiếp báo cáo với cán bộ quản lý để có phương án xử lý kịp thời. - Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong khâu sơ chế và chế biến thực phẩm: Bên cạnh việc đảm bảo vệ sinh cho các loại thực phẩm thì vấn đề vệ sinh nhà bếp cũng rất là quan trọng trong khâu sơ chế, chế biến thực phẩm, vì vậy chúng ta nên thực hiện theo quy trình bếp một chiều và sắp xếp bếp một cách hợp lý, thường xuyên quét dọn bếp sạch sẽ ngăn nắp.
  10. 11 Thực hiện Nghị định số 15/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật an toàn thực phẩm.Nghị định số 115/2018/NĐ-CP của Chính Phủ quy định xử phạt, vi phạm hành chính về ATTP ngày 04/09/2018.Quyết định số 1246/QĐ- BYT của Bộ Y tế ngày 31/03/2017 về việc ban hành “Hướng dẫn thực hiện chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống”. Nhằm thực hiện tốt các Nghị định, công văn của cấp trên, ngay từ đầu năm học trường mầm non Yên Sơn đã xây dựng kế hoạch và thực hiện tốt việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong khâu chế biến thức ăn tại 02 bếp ăn của nhà trường. Để công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được tốt hơn, nhân viên nuôi dưỡng chúng tôi luôn thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy định của các cấp, các ngành đề ra. Vì vậy qua đợt kiểm tra định kỳ vệ sinh an toàn thực phẩm của Trung tâm y tế huyện Quốc Oai đoàn luôn luôn đánh giá cao về bếp ăn của nhà trường. Ngoài ra nhà trường còn phối hợp với trạm y tế xã thường xuyên kiểm tra bếp ăn, tủ lạnh lưu mẫu, nơi chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm. Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã phối kết hợp với trung tâm y tế huyện Quốc Oai tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho 100% nhân viên nuôi dưỡng để phòng tránh tốt các dịch bệnh và đảm bảo an toàn thực phẩm khi so chế, chế biến thức ăn cho trẻ. Nhà trường thường xuyên kiểm tra đột xuất nhân viên nuôi dưỡng từ khâu sơ chế đến qui trình chế biến thức ăn, cập nhật sổ sách, vệ sinh môi trường...vv. Trong khi chế biến thức ăn tôi nghiêm túc thực hiện tốt nội quy, quy định của nhà bếp, mặc trang phục trong khi nấu ăn: đeo tạp dề, đội mũ khi chế biến, đeo khẩu trang trước khi chia thức ăn và rửa tay bằng xà phòng tiệt trùng. Nơi chế biến thực phẩm tôi luôn thường xuyên giữ vệ sinh sạch sẽ, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ riêng cho thực phẩm sống và chín. Đặc biệt trong khi sơ chế và chế biến các món ăn cho trẻ tôi luôn thực hiện và chấp hành đúng theo quy trình một chiều để đảm bảo vệ sinh. Cọ rửa vệ sinh các dụng cụ chế biến thực phẩm hàng ngày sau khi sử dụng. Khơi thông cống rãnh để nước rác, nước gạo luôn được thoát. Rác thải để đúng nơi quy định, các loại rác thải được chuyển ra ngoài hàng ngày kịp thời. Nhận thức được điều đó, bản thân tôi luôn có ý thức gương mẫu về vấn đề vệ sinh dụng cụ chế biến hàng ngày như sau:
  11. 12 + Tất cả các dụng cụ như: Nồi, xoong, dao, thớt, khay inox đều được rửa sạch bằng xà phòng sau khi sử dụng và rửa sạch, tráng nước sôi trước khi dùng. + Có đầy đủ và để riêng dụng cụ chế biến thực phẩm sống - chín. + Tủ lạnh được vệ sinh hàng ngày và tổng vệ sinh 1lần/tuần đảm bảo không có mùi, không bị đóng đá, không có bụi bẩn, cặn thải. + Tham mưu cán bộ quản lý đầu tư 02 bộ lưu nghiệm thức ăn dùng luân chuyển, đảm bảo được sấy khô tiệt trùng trước khi lưu. Thức ăn được lưu nghiệm đảm bảo 24 tiếng. + Bát, thìa, xoong chia thức ăn của trẻ được rửa sạch, sấy khô 2 lần/ngày trước các bữa ăn. Những ngày mất điện các đồ dùng này được rửa sạch và tráng bằng nước sôi. + Rổ, khay đựng thực phẩm được cọ, rửa sạch sau khi dùng và phơi ngoài trời để tránh ẩm, mốc. + Lọ đựng gia vị bằng thủy tinh và được rửa sạch phơi khô vào chiều thứ 6 hàng tuần. + Tủ cơm ga, nồi nước đáy được tháo nước, cọ rửa sạch sẽ hàng ngày vào cuối giờ chiều. Và thay nước đáy mới vào đầu giờ sáng trước khi nấu cơm. + Cối xay thịt, máy say sinh tố hàng ngày được tráng nước sôi trước khi dùng và cọ rửa bằng nước rửa bát, và phơi nắng sau khi sử dụng. Ngoài ra tôi còn chú trọng công tác tổng vệ sinh hàng ngày, định kỳ theo tuần, hàng tháng, tổng vệ sinh xung quanh nhà bếp, vệ sinh dụng cụ nhà bếp, dụng cụ nơi sơ chế thực phẩm sống, khu chế biến thực phẩm, nơi chia cơm, nơi để thức ăn chín (Hình ảnh vệ sinh đồ dùng, dụng cụ nấu ăn, sơ chế, chế biến thực phẩm) Biện pháp 3: Cải tiến phương pháp và kỹ thuật chế biến món ăn ngon phù hợp với trẻ mầm non. Qua quá trình học tập và công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, đã giúp tôi hiểu hơn về tâm lý, sinh lý của các bé, tôi nhận thức sâu sắc về nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ giữ vai trò vô cùng quan trọng. Giúp cho cơ thể trẻ phát triển lớn lên khỏe mạnh. Vì vậy tôi không ngừng học tập nâng cao trình độ, đặc biệt là nâng cao kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng qua học hỏi trên các phương tiện thông tin như: Báo, đài, ti vi, mạng Internet Để hiểu rõ tâm lý, sở thích của trẻ tôi sáng tạo kết hợp nhiều loại thực phẩm để chế biến món ăn cho phù hợp, đồng thời cho trẻ làm quen với các loại thực phẩm, các món ăn được xây dựng theo thực đơn hàng ngày, hàng tuần và được áp dụng đạt hiệu quả cao trong quá trình chế biến giúp trẻ ăn ngon miệng,