Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện phát âm trong môn Tiếng Anh Lớp 3 trường THLX Chánh Công
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện phát âm trong môn Tiếng Anh Lớp 3 trường THLX Chánh Công", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_luyen_phat_am_trong_m.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện phát âm trong môn Tiếng Anh Lớp 3 trường THLX Chánh Công
- 3 xứ thì họ lại khơng hiểu hoặc hiểu nhầm những gì chúng ta đang nĩi. Câu trả lời chính là do ngữ âm trong tiếng Anh. Ngữ âm trong tiếng Anh cĩ thể hiểu bao gồm các yếu tố: phát âm, trọng âm, nhịp điệu và ngữ điệu. Theo nghiên cứu về ngữ âm cho thấy để quá trình giao tiếp thành cơng nhất thì cần đạt 4 tiêu chí: Phát âm tốt; Tốc độ tự nhiên; nhịp điệu tự nhiên; và ngữ điệu tự nhiên. Đạt được 4 tiêu chí chuẩn này là tham vọng của tất cả những người học tiếng Anh. Tuy nhiên điều này nằm ngồi khả năng của người Việt Nam. Mặc dù chúng ta khơng thể nĩi tiếng Anh như người bản ngữ nhưng chúng ta cĩ thể luyện tập để nĩi được một tiếng Anh chấp nhận được: phát âm rõ ràng nghĩa là khi chúng ta phát âm người nghe hiểu và phân biệt được với các âm khác. 2. Cơ sở thực tiễn Việc tổ chức dạy học tiếng Anh ở bậc tiểu học nhằm đáp ứng nhu cầu được học ngoại ngữ của học sinh tiểu học phù hợp với yêu cầu phát triển của giáo dục. Mặt khác, giúp học sinh cĩ được lượng kiến thức tiếng Anh nhất định để cĩ thể học tốt tiếng Anh khi lên cấp 2. Tuy nhiên, nơi tơi đang cơng tác giảng dạy thuộc vùng đặc biệt khĩ khăn, học sinh ở đây đa số là con em vùng dân tộc thiểu số, tiếng Anh là ngơn ngữ thứ 3 đối với các em, phát âm tiếng Việt cịn mắc nhiều lỗi sai. Nên việc dạy và học chắc sẽ gặp một số khĩ khăn và thuận lợi lúc ban đầu như sau: 2.1 Thuận lợi: - Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì học ngoại ngữ ở lứa tuổi càng sớm thì hiệu quả càng cao. Vì vậy, lứa tuổi học sinh tiểu học là đối tượng cĩ lợi thế khi học tiếng Anh đặc biệt là ngữ âm. Đặc biệt đối với học sinh lớp 3, lứa tuổi lần đầu tiên được học mơn Tiếng Anh nên các em chưa bị ảnh hưởng bởi cách đọc sai từ những lớp trước như học sinh trung học cơ sở. Bởi vậy việc tiếp thu âm mới và phát âm chuẩn trở nên dễ dàng hơn. - Cĩ được sự quan tâm của Ban giám hiệu. Nhà trường mua sắm đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho mơn học như: máy chiếu, bảng thơng minh, loa, tranh ảnh,.... - Học sinh đang dần cĩ cái nhìn tích cực hơn với mơn học này và đa số các em rất ham thích học. - Biên chế giáo viên đảm bảo theo nhu cầu phát triển của mỗi nhà trường; đồng thời giáo viên được đào tạo theo chuẩn, cĩ sự nhiệt tình, năng lực và cĩ tích luỹ được kinh nghiệm. 2.2 Khĩ khăn: - Khi mới bắt đầu dạy tiếng Anh trong trường tiểu học liên xã Chánh Cơng, tơi thấy đa số các em ngại nĩi tiếng Anh, ngại phát âm, khơng tập trung trong quá trình học ngữ âm, cũng như quá khĩ khăn trong việc phát âm một từ hay cụm từ đơn giản. Hơn thế nữa, ở nơi đây các em khơng được tiếp xúc với người bản xứ nên cũng gây ít nhiều hạn chế trong việc phản ứng với tiếng Anh, các em
- 4 gặp rất nhiều khĩ khăn khi phát âm cũng như phân biệt các âm gần giống nhau khi nghe giáo viên nĩi. - Bên cạnh đĩ, một số em học hành khơng nghiêm túc, chỉ học qua loa, rụt rè, thiếu hào hứng trong học tập, cĩ thĩi quen chờ thầy cơ hướng dẫn rồi chép bài. Các em đọc được từ, câu hay cụm từ nhưng chưa chính xác và lưu lốt. Hơn thế nữa một số gia đình thiếu quan tâm đến việc học tập của con cái. Do cơng việc làm ăn bận rộn nên phụ huynh khơng cĩ thời gian để nhắc nhở, xem xét việc học của các em lúc ở nhà. Đến khi giáo viên yêu cầu thực hiện bài học ở trên lớp các em sẽ khơng thành cơng. Và để cĩ biện pháp, phương pháp dạy học sinh cách phát âm tốt, khắc phục sai sĩt tơi đã tiến hành khảo sát năng lực phát âm của các em lớp 3 từ đầu năm học 2020 - 2021 và thu được kết quả như sau: Tổng Phát âm chuẩn Phát âm chưa chuẩn Phát âm sai Lớp số HS SL % SL % SL % 3A 38 3 7,9 20 52,6 15 39,5 3B 39 5 12,8 25 64,1 9 23,1 Từ thực tế trên bản thân tơi thiết nghĩ cĩ một phương pháp giúp học sinh của mình học ngữ âm nhanh và dễ dàng hơn là vơ cùng cần thiết, nên tơi đã học hỏi, sưu tầm và sáng tạo ra phương pháp dạy ngữ âm tiếng Anh cho học sinh tiểu học. III. Các biện pháp nghiên cứu 1. Vận dụng phương pháp dạy mới vào giảng dạy Trước đây, ở một số tiết dạy giáo viên ít tập trung nghiên cứu việc đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp đối tượng học sinh nên học sinh chưa hứng thú trong học tập, giáo viên cịn bám vào tài liệu hướng dẫn giảng dạy và coi nĩ như người bạn đồng hành mỗi khi lên lớp, là chỗ dựa vững chắc cho mỗi giờ dạy. Sách nĩi gì thì người giáo viên thực hiện các bài giảng trên lớp một cách rập khuơn máy mĩc như vậy. Vì thế mà tiết dạy diễn ra đơn điệu, khơ khan, thiếu tính thực tiễn, chưa thuyết phục, dẫn đến học sinh cịn mơ hồ chưa thực sự phát âm đúng và chính xác, học sinh chưa tích cực tham gia học tập. Vì vậy, một giờ học ngữ âm sẽ thực sự hiệu quả, sơi nổi nếu giáo viên thực hiện theo quy trình dạy rõ ràng, cụ thể lồng ghép vào các hoạt động trị chơi, tranh ảnh gợi sự hứng thú, tị mị sẽ làm cho các âm tiết trở nên dễ dàng tiếp nhận đối với học sinh. Nếu thực hiện tốt việc giảng dạy sẽ khiến một tiết ngữ âm vốn khơ khan sẽ trở nên nhẹ nhàng và thỏa mái. Các đối tượng học sinh nắm được những kiến thức cơ bản mà giáo viên truyền đạt và thực hành một cách sáng tạo khơng rập khuơn, máy mĩc như trước. Như tơi nĩi ở khĩ khăn, đa số học sinh ở đây khơng tiếp xúc được với người bản xứ, nên việc phát âm sai là điều dễ hiểu, học sinh học ai thì quen với giọng điệu và cách phát âm của người đĩ, nên khi nghe một người lạ hay một giáo viên khác phát âm sẽ cảm thấy ngập ngừng và khĩ hiểu. Vì vậy, hầu hết ở
- 5 các tiết học ngữ âm hay các tiết học khác tơi đều cho học sinh nghe máy đọc trước hai đến ba lần trước khi giáo viên đọc, việc này sẽ giúp học sinh làm quen với nhiều giọng đọc khơng bị lúng túng và linh hoạt trả lời các câu hỏi, nĩi chuyện khi nghe một giọng khác ngồi giáo viên dạy. 1.1. Cách luyện đọc từ chứa âm đang học - Giáo viên giới thiệu, bật máy từ cĩ chứa âm đang học, học sinh lắng nghe. Ví dụ: Dạy âm /ɔ:/ giáo viên đọc: draw - Giáo viên hướng mặt về phía học sinh đọc âm (ví dụ: /ɔ:/) một vài lần cốt để học sinh cĩ thể nghe rõ và quan sát được cử động miệng, mơi, răng, lưỡi của giáo viên khi phát âm này. - Giáo viên đọc một vài từ cĩ chứa âm đang học, học sinh đọc theo. Ví dụ: law/ saw/ paw - Giáo viên viết các từ lên bảng. - Giáo viên treo tranh và miêu tả cách phát âm (vị trí của lưỡi, mơi, răng ). Giáo viên treo sơ đồ biểu thị vị trí của lưỡi, mơi, răng khi phát âm và giảng giải cụ thể sao cho học sinh hiểu. - Yêu cầu học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, (ví dụ: law, saw, paw) sau đĩ gọi từng nhĩm nhắc lại. Cuối cùng giáo viên gọi một số học sinh nhắc lại. - Theo đúng tiến trình trên, giáo viên giới thiệu âm thứ hai. Ví dụ: Giáo viên thực hiện theo quy trình trên giới thiệu, treo tranh và hướng dẫn cách phát âm /ɑ:/ (Unit 12 lesson 2, Tiếng Anh 3) - Sau đĩ cho học sinh so sánh đối chiếu sự khác nhau khi phát âm thứ hai với âm thứ nhất.
- 6 Ví dụ: giáo viên giải thích sự khác biệt về vị trí lưỡi, mơi, răng khi phát âm hai âm /ɔ:/ và /ɑ:/ - Học sinh chia thành các nhĩm, nhắc lại hai âm (isolated sounds) theo giáo viên hoặc theo băng. Với cách dạy này sẽ giúp cho học sinh ngay từ lúc bắt đầu học sẽ phát âm chuẩn hơn, rõ ràng hơn đối với từng âm học sinh sẽ biết được mơi, răng lưỡi sẽ đặt ở vị trí nào khi đọc lên 1.2. Phương pháp thực hành từ và cụm từ chứa từ đang học: Trong phần này học sinh nên được thực hành phát âm mới theo thứ tự từ từ (isolated words) đến cụm từ (short phrases) đến câu (sentences) và đến đoạn hội thoại (dialogue). - Giáo viên mở máy cho học sinh nghe các cặp từ để nhận diện âm mà máy đọc là âm nào. Sau đĩ lần lượt cả lớp nhắc lại các cặp từ, rồi nhắc lại theo nhĩm và cuối cùng nhắc lại cá nhân. - Học sinh nhìn, nghe và nhắc lại theo băng một đoạn hội thoại ngắn trong đĩ cĩ nhiều từ chứa âm đang học hoặc theo giáo viên. Các bài hội thoại này thường đã cĩ trong sách giáo khoa. Cho thực hành theo cá nhân sau đĩ sẽ theo cặp. - Học sinh trình bày lại đoạn hội thoại theo cặp (sau khi đã đọc thành thạo nếu cịn thời gian học sinh cĩ thể thêm một vài từ cĩ chứa âm đang học vào đoạn hội thoại nhưng các từ đĩ phải phù hợp nghĩa với bài). - Trong quá trình học sinh thực hành, Giáo viên theo dõi và sửa chữa kịp thời nếu học sinh mắc lỗi. Ví dụ: Khi dạy 2 âm /eʊ/ và /ɒ/ giáo viên đọc các cặp từ: go/ got; no/ not; close/ lot Học sinh lắng nghe và đọc lại theo giáo viên. - Học sinh thực hành đọc các cụm từ cĩ chứa âm đang học. Ví dụ: go home /a hot holliday/ lots of ropes - Học sinh thực hành đọc các câu (trong câu cĩ nhiều từ chứa âm đang học). Ví dụ: Well, it’s hot. It hasn’t got many farms./ How do you go to your hometown? 1.3. Củng cố lại các từ hay cụm từ đã học thơng qua các trị chơi: Sau khi giáo viên truyền tải hết nội dung một bài ngữ âm cho học sinh, thì giáo viên cung cấp cho học sinh trị chơi hoặc các hoạt động để cũng cố lại kiến thức. Một số trị chơi đơn giản nhưng hiệu quả và dễ thực hiện như: - Silent Sounds: Ví du: khi dạy hai âm /e/ và /ỉ/, giáo viên viết lên bảng: Giáo viên hướng mặt về phía học sinh, phát âm nhưng khơng thành tiếng. Học sinh quan sát cử động miệng của giáo viên (cử động của lưỡi, mơi, răng )
- 7 và đốn giáo viên đang nĩi âm gì và chỉ vào âm đĩ trên bảng. Sau đĩ giáo viên chia học sinh thành các nhĩm từ 2 đến 3 người cùng chơi như trên. - Bingo: Đây là một trị chơi đơn giản nhưng rất dễ gây hứng thú cho học sinh. Cĩ nhiều cách tiến hành trị chơi này. Sau đây tơi xin đưa ra một ví dụ. Khi dạy âm /i:/ và /I/, giáo viên cho học sinh tự kẻ bảng gồm 12 -> 14 ơ, học sinh lựa chọn và tự điền vào tất cả các ơ nhưng con số từ 13 đến 99 sao cho hết tất cả các ơ. Giáo viên (hoặc một học sinh trong lớp) đọc lần lượt các số, học sinh lắng nghe và quan sát nếu số nghe được cĩ trong bảng của mình thì gạch số đĩ. Người nghe và gạch được hết các ơ của mình đầu tiên thì nĩi to: Bingo. Giáo viên kiểm tra độ chính xác và tuyên bố người đĩ chiến thắng. - Same or Different: Giáo viên viết phiên âm quốc tế lên bảng (ví dụ: /I/) Giáo viên nĩi một chuỗi các âm tương tự với âm trên bảng (/i:/,/e/,/ỉ/). Học sinh lắng nghe và cho biết liệu các âm trên giống hay khác với âm trên bảng. - One or Two (or three): Giáo viên viết lên bảng hai (hoặc ba) phiên âm quốc tế (ví dụ: 1 /I/, 2 /i:/, 3 /e/ sau đĩ lần lượt đọc các từ: fifteen/ fifty/ bit/ beat/ eat/ it/ man/ men) để học sinh nghe và nĩi “one” (1), “two” (2) hay “three” (3). - Correct or incorrect: Giáo viên viết một hay một chuỗi các từ lên bảng và phát âm một số từ trên đúng và một số từ sai. Học sinh lắng nghe và nĩi “correct” (đúng) hay “incorrect” (sai). - Word Elicitation: Viết phiên âm quốc tế lên bảng và yêu cầu học sinh liệt kê từ mà âm đĩ đứng đầu, từ mà âm đĩ đứng giữa, và từ mà âm đĩ đứng cuối. - Minimal Pairs: Viết phiên âm quốc tế lên bảng và cho học sinh thoải mái liệt kê các cặp từ gần giống nhau. Ví dụ: /I/ /i:/ Fifty Fifteen It eat Bin bean Ill eel .. - Missing words: Giáo viên đọc một câu hoặc một cụm từ ngắn trong đĩ cĩ một từ để trống. Học sinh lắng nghe và đốn từ để điền vào chỗ trống, miễn sao
- 8 từ đĩ phải chứa âm đang học. Ví dụ: Thực hành âm /3:/ a) A boy and a (girl) b) First, second and .... (third) c) A pigeon is a kind of . (bird) Sentences Construction: Giáo viên viết lên bảng hai nhĩm các từ cĩ chứa âm đang học và yêu cầu học sinh đặt câu cĩ sử dụng ít nhất hai từ trong hai nhĩm đĩ. Ví dụ: Thực hành âm /ɔ:/ và /ỉ/ (SGK Tiếng Anh lớp 3 tập 1, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam) Unit 8 – Lesson 2 Nhĩm 1: tall/small/fall/volleyball/talk. Nhĩm 2: bad/bag/dad/Saturday/family. - Picture identification: Giáo viên cĩ thể vẽ hoặc treo một bức tranh cĩ hai sự vật lên bảng,chẳng hạn khi dạy hai âm /i:/ và /I/ giáo viên giới treo bức tranh. Sau đĩ giáo viên nĩi “point to the ship” (Hãy chỉ vào chiếc thuyền) hay “point to the sheep” (Hãy chỉ vào con cừu), học sinh lắng nghe và thực hiện. Giáo viên chỉ vào từ ship và sheep cho học sinh phát âm chính xác. Sau đĩ giáo viên xĩa từ và chỉ vào bức tranh cho học sinh phát âm đúng. Chú ý: Đối với những âm đơi, phương pháp dạy cũng tương tự, nhưng giáo viên nên phân chia nĩ thành hai âm đơn cho học sinh thực hành. Sau đĩ kết hợp hai âm đơn lại thành một âm đơi. Ví dụ: Khi dạy âm: /br/ brick /b/ bid, big, bill -> /r/ ring, rich, rid -> /br/ brick, bring, bridge 2. Tăng cường cơng tác phối hợp với phụ huynh: Bên cạnh với việc học ở trường, để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, thì phụ huynh chúng ta cần tạo cho các em một mơi trường lành mạnh và quản lí thời gian học tập của các em chặt chẽ hơn, thường xuyên quan tâm, nhắc nhở đơn đốc và em học và làm bài tập ở nhà. Cần
- 9 tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hố hoạt động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiến thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đĩ, thì các em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình. Hơn nữa thời gian học ở trường rất ít, cho nên đa phần thời gian cịn lại ở gia đình các em phải tổ chức cho được hoạt động học tập của mình. Làm được điều đĩ, thì chắc chắn hoạt động dạy và học sẽ ngày càng hồn thiện hơn. Cho nên ngay từ đầu năm học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh xây dựng hoạt động học tập ở nhà. a) Chuẩn bị từ vựng. b) Học thuộc lịng từ vựng. IV. Kết quả Sau một năm học 2020 – 2021 áp dụng phương pháp này để dạy ngữ âm cho học sinh, tơi thấy rằng khả năng phát âm tiếng anh của các em đã cĩ tiến bộ rõ rệt. Một số em trước đây rất ngại phát âm giờ đã mạnh dạn hơn, sơi nổi trong các phần thực hành và trị chơi. Thêm vào đĩ, các em đã cĩ ý thức hơn khi phát âm sao cho tốt nhất cĩ thể. Tiếp tục khảo sát năng lực phát âm của các em để theo dõi tơi đã thu được kết quả như sau: Tổng Phát âm chuẩn Phát âm chưa chuẩn Phát âm sai Lớp số HS SL % SL % SL % 3A 38 15 39,4 18 47,5 5 13,1 3B 39 19 48,8 17 43,5 3 7,7 - Trong quá trình thực hiện phương pháp này cũng cĩ rất nhiều bài học để lại cho tơi. Mới đầu một số học sinh đã quen với cách học cũ nên rất bỡ ngỡ. Khi trình chiếu và giảng giải các sơ đồ về cử động của lưỡi, răng, mơi của một số âm khĩ và khơng cĩ trong tiếng Việt, nhiều học sinh khơng thể làm theo được, dẫn đến các em lại phát âm càng sai hơn. Nếu giáo viên cũng nản chí và chấp nhận cách đọc sai thì kết quả sẽ thất bại. Với phương pháp này tơi xem đối tượng học sinh trung bình và yếu là đối tượng được quan tâm hàng đầu. Sử dụng những hoạt động mang tính tập thể để kích thích các em phát huy điểm mạnh của mình. Từ đĩ giúp các em dần quen với phương pháp mới. - Trên đây là những phương pháp mà tơi đã áp dụng một năm qua khi dạy ngữ âm cho học sinh tiểu học. Tuy nhiên mỗi đơn vị bài học cĩ những nội dung khác nhau, việc áp dụng phương pháp này cũng cần phải linh động và sáng tạo để đem lại hiệu quả cao, tránh gây nhàm chán cho học sinh. Ví dụ: Cĩ một số âm trong tiếng Anh cũng phát âm giống với tiếng Việt như: /b/, /p/, /n/, /m/, /l/ khi dạy những âm này giáo viên khơng cần thiết dành nhiều thời gian để giảng giải cách phát âm, nên cho học sinh nghe qua băng đĩa người bản ngữ phát những âm này để học sinh quen. Sau đĩ dành thời gian cho
- 10 phần Production nhiều hơn. - Các hoạt động trong phần Production nên được thiết kế ngắn gọn, hấp dẫn, phù hợp với lứa tuổi và trình độ của từng đối tượng học sinh. VI. Kết luận: Như vậy chúng ta thấy rằng việc phát triển ngữ âm tiếng Anh cho học sinh tiểu học là một vấn đề khơng hề đơn giản. Nĩ địi hỏi người giáo viên phải cĩ phương pháp giảng dạy sáng tạo nhưng dễ hiểu, dễ tiếp nhận đối với học sinh. Qua một năm được đưa vào áp dụng, tơi nhận thấy rằng phương pháp dạy ngữ âm này đã mang đến rất nhiều tác dụng. Trước hết, tạo được niềm yêu thích và hưng phấn cho học sinh trong giờ học ngữ âm, giúp các em khơng cịn cảm thấy khĩ khăn khi phát âm tiếng Anh. Từ đĩ chất lượng học tập ngữ âm của học sinh đã tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ học sinh phát âm chuẩn tăng lên đáng kể so với đầu năm học. Bên cạnh đĩ, với bản thân tơi việc nghiên cứu phương pháp dạy ngữ âm cho học sinh đã gĩp phần nâng cao trình độ và năng lực sư phạm của mình, đồng thời gĩp phần đổi mới phương pháp giảng dạy ngữ âm nĩi riêng và bộ mơn tiếng Anh nĩi chung. Trong điều kiện học sinh vùng miền núi, cơ sở vật chất dạy học cịn thiếu thốn, cơ hội được tiếp xúc với người bản ngữ là rất khĩ thì những thành cơng ban đầu tơi thu được là một điều rất hạnh phúc với bản thân tơi. Phương pháp này cĩ thể áp dụng cho các bài dạy ngữ âm trong sách giáo khoa tiếng Anh lớp 3, lớp 4 lớp 5. Tuy nhiên do đặc thù từng tiết dạy cĩ những âm tiết khác nhau nên các giáo viên cần áp dụng một cách sáng tạo. Như đã đề cập ở trên, dạy ngữ âm khơng chỉ đơn thuần là dạy cách phát âm mà cịn phải dạy các phần rất quan trọng như: trọng âm, nhịp điệu và ngữ điệu. Trong thời gian tới tơi sẽ tiếp tục nghiên cứu, tìm tịi và học hỏi từ các tài liệu, tư liệu, từ bạn bè đồng nghiệp cũng như từ kinh nghiệm thực tế để cĩ phương pháp dạy trọng âm, ngữ điệu và nhịp điệu cho phù hợp với học sinh, đồng thời hồn thiện phương pháp dạy ngữ âm của mình. VI. Kiến nghị: Để đề tài thực sự đem lại kết quả, cá nhân tơi cĩ một vài kiến nghị, đề xuất sau: 1. Đối với phịng giáo dục và đào tạo huyện: - Để ứng dụng phương pháp mới này thật hiệu quả, tơi mạnh dạn kiến nghị phịng giáo dục và đào tạo tổ chức chuyên đề giới thiệu đề tài tới tất cả các bạn đồng nghiệp để trao đổi, học tập kinh nghiệm, rút ra được phương pháp dạy học ngữ âm tích cực cho bộ mơn tiếng Anh tiểu học. 2. Đối với nhà trường: - Ban giám hiệu nhà trường cùng bộ phận thiết bị cần bổ sung đầy đủ các trang thiết bị hỗ trợ cho việc dạy bộ mơn tiếng Anh như từ điển, sách báo, băng đĩa, máy cát sét, đèn chiếu v.v . ở các điểm trường thơn.
- 11 - Các giáo viên nên vận dụng một cách sáng tạo phương pháp này sao cho phù hợp với từng đơn vị bài học và từng đối tượng học sinh cụ thể. Tránh dạy một cách rập khuơn, gây nhàm chán cho học sinh. Trên đây là một số biện pháp luyện phát âm trong mơn tiếng Anh lớp 3 của trường Tiểu học liên xã Chánh Cơng tơi chia sẻ để bạn bè đồng nghiệp tham khảo. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn khơng thể tránh khỏi những thiếu sĩt, vì vậy rất mong được sự gĩp ý bổ sung của các đồng nghiệp để tơi đạt được thành cơng hơn trong sự nghiệp dạy học bộ mơn tiếng Anh. Phước Chánh, ngày 15 tháng 3 năm 2022 Người viết Trần Thị Kim Oanh
- 12 MỤC LỤC STT TRANG I. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 2 II. Nội dung nghiên cứu ... 2 1. Cơ sở lý luận ... 2 2. Cơ sở thực tiễn 3 2.1 Thuận lợi: .................................................................................. 3 2.2 Khĩ khăn: .. 3 III. Các biện pháp nghiên cứu ..4 1. Vận dụng phương pháp dạy mới vào giảng dạy: 4 1.1. Cách luyện đọc từ chứa âm đang học .. 5 1.2. Phương pháp thực hành từ và cụm từ chứa từ đang học: . 6 1.3. Củng cố lại các từ hay cụm từ đã học thơng qua các trị chơi:..6 2. Tăng cường cơng tác phối hợp với phụ huynh: .. 8 IV. Kết quả .. 9 VI. Kết luận: .. 10 VI. Kiến nghị: . 10 1. Đối với phịng giáo dục và đào tạo huyện: ... 10 2. Đối với nhà trường: . .. 10 Mục lục .......................................................................................................12 Tài liệu tham khảo ..................................................................................... 13 Phiếu nhận xét, đánh giá sáng kiến ............................................................14
- 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Teach English 2. Đổi mới phương pháp dạy học mơn tiếng Anh 3. Tài liệu hướng dẫn mơn Tiếng Anh 4. Sổ tay người dạy tiếng Anh 5. Chương trình tập huấn mơn tiếng Anh sở GD&ĐT

