Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện đọc cho học sinh Lớp 1

docx 17 trang Chăm Nguyễn 26/02/2026 90
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện đọc cho học sinh Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_luyen_doc_cho_hoc_sin.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện đọc cho học sinh Lớp 1

  1. 2. 1.Nhiệm vụ: Phân môn tập đọc giải quyết vấn đề dạy cho trẻ biết chữ để đọc tiếng đúng , giúp các em có vốn ngôn ngữ phong phú đa dạng. Có như vậy các em sẽ có đủ điều kiện để học tốt các môn học khác và để sử dụng trong giao tiếp. Hơn thế nữa học tốt môn Tập đọc còn giúp học sinh có vốn ngôn ngữ chuẩn mực để tiếp thu tri thức khoa học và tự nhiên xã hội. Tạo tiền đề cho các em bước vào lĩnh vực khoa học một cách chắc chắn. 3. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp luyện đọc cho học sinh lớp 1. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Sáng kiến được thực hiện tại lớp 1C trường Tiểu học Đông Quang năm học 2021-2022. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau : - Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa. - Phương pháp thu nhận tài liệu; - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế; - Phương pháp trực quan, - Dạy thực nghiệm; - Trao đổi, toạ đàm với đồng nghiệp. - Phương pháp đàm thoại. - Phương pháp quan sát. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận: Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào các hoạt động của cơ quan thị giác. Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau là việc sử dụng bộ mã gồm 2 phương diện. Một mặt đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ- âm để phát một cách trung thành những dòng văn tự ghi âm lại lời nói. Thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm , sử dụng bộ mã chữ- nghĩa tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì cần học. Đọc bao gồm những yếu tố tiếp nhận bằng mắt hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc (miệng đọc, mắt nhìn, tai nghe). Càng ngày những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn . Có các mức độ đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Ở mức độ đọc thầm, việc phát lại các thông tin thành âm thanh ngôn ngữ vẫn được thực hiện trong trí não người đọc. Vì thế người bên ngoài không thể nghe được các âm thanh này. Cơ chế trên cho ta thấy có thể dạy cho học sinh từ việc luyện đọc thành tiếng thành thạo chuyển sang dần tập đọc lẩm nhẩm và đọc thầm. 3
  2. Đọc để hiểu nội dung văn bản: Mục đích cuối cùng của việc đọc là để thông hiểu nội dung văn bản. Có nhiều cấp độ tạo nên sự thông hiểu toàn bộ nội dung văn bản: sự hiểu nghĩa của từ ngữ, nghĩa của câu, của đoạn và của toàn văn bản. Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp đòi hỏi quá trình luyện tập lâu dài. Kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi của kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các em. Nó thể hiện kết quả nhận biết các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được một bài văn ngắn, một bài thơ ngắn vv Học sinh đã nhận được mặt chữ, biết ghép vần, ghép tiếng, ghép từ, đọc câu còn yêu cầu các em phải đọc đúng, đọc chuẩn, đọc chính xác. Vì nếu các em phát âm chuẩn đọc đúng các em sẽ viết đúng, bài chính tả sai ít lỗi, và các em sẽ hiểu được ý của tiếng, từ, câu , bài mà các em viết. 2. Thực trạng * Thuận lợi + Giáo viên: - Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để giáo viên giảng dạy. Thư viện cung cấp đầy đủ SGK, SGV cũng như tài liệu để giáo viên tham khảo. Thiết bị có ti vi,máy tính phục vụ giáo án điện tử. - Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn. Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho học sinh tiểu học v v cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy. - Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy. - Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt về học tập cũng như hạnh kiểm. + Học sinh: - Ở độ 6-7 tuổi của học sinh lớp 1.Các em đa số còn rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng vv . - Đa phần phụ huynh trong lớp đã chuẩn bị đủ máy, mạng phụ vụ cho các con học zoom - Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ huynh có ý thức trách nhiệm không khoán trắng cho nhà trường cho giáo viên, và cùng với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, máy tính, điện thoại có kế nối mạng thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện 4
  3. tốt cho con em mình vào lớp học zoom , đến lớp học trực tiếp cũng như học tập ở nhà. *Khó khăn - Do đặc trưng vùng miền nên các em chủ yếu phát âm sai l / n ; r/d ; ch/tr - Đa số phụ huynh là làm nông nghiệp chưa quan tâm đúng mức đến việc học học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để kèm cặp con em mình học bài, đọc bài ở nhà. Thời gian đầu một số học sinh còn chưa có máy để học, mạng còn yếu một số em không có phụ huynh ngồi học cùng nên rất khó cho học sinh tiếp thu kiến thức mới. * Mặt mạnh, mặt yếu : Các phương pháp và giải pháp dạy học mới làm phát triển tư duy cho học sinh tiểu học các em tự mình đã vươn lên chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động. Bên cạnh đó vẫn còn một số em tư duy còn hạn chế, chưa nắm bắt nhanh nhạy nội dung * Các nguyên nhân, các yếu tố tác động chủ yếu là. - Giáo viên chưa nắm bắt được các phương pháp giảng dạy phù hợp với học từng đối tượng học sinh. - Ở giai đoạn 6-7 tuổi, khả năng tập trung chú ý của các em chưa cao, tư duy cụ thể là chủ yếu. Ý thức về không gian chưa đầy đủ, các em chỉ quan tâm tới tổng thể mà chưa thực sự chú ý tới quy trình, vẫn có sự nhầm lẫn về vị trí các chữ cái. - Những hiểu biết về Tiếng Việt và năng lực sử dụng lời nói của học sinh lớp 1 không đồng đều. - Học sinh trong lớp chủ yếu là con em cuộc sống gia đình còn gặp nhiều khó khăn, cha mẹ chưa có ý thức về việc phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ nên không tạo điều kiện cho con cái học tập . - Học sinh chưa có thời gian bồi dưỡng đọc ở nhà . - Trình độ dân trí thấp, học sinh chủ yếu được học tập trên lớp, Từ những nguyên nhân trên dẫn đến việc học rèn đọc của học sinh còn hạn chế học sinh đọc còn sai, chưa đúng . Vì vậy tôi đã nghiên cứu tìm tòi và đưa ra một số biện pháp nhằm giúp học sinh đạt kết quả tốt hơn trong việc rèn đọc. Cụ thể đầu năm tôi tiến hành khảo sát như sau: TSHS Đọc ngọng Đọc sai p/âm Đọc sai dấu Đọc đúng Đọc diễn 32 TS % TS % TS % TS % cảm TS % Khảo sát 5 15,6 7 21,9 3 9,3 17 53, 2 0 0 đầu năm 3. Giải pháp,biện pháp 3.1. Mục tiêu của giải pháp ,biện pháp - Rèn kỹ năng và năng lực đọc cho học sinh. 5
  4. -Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức đời sống cho học sinh. - Giáo dục thẩm mĩ - tình cảm - phát triển tư duy cho học sinh. - Học sinh học môn Tiếng Việt có kết quả cao trong đó có phân môn Học vần. - Học sinh đọc tốt còn giúp các em học tốt các môn khác. Để tiến hành làm đề tài này, tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa phân môn học vần lớp 1 để tìm hiểu nội dung, cấu trúc của chương trình. Tìm hiểu việc dạy và học của các em có hệ thống nội dung bài học Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên của môn Tiếng Việt trong đó có phân môn học vần lớp 1. Nghiên cứu rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy để rút ra những điều cần thực hiện. Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến môn Tiếng Việt nhất là phân môn Học vần . 3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp - Ở giai đoạn 6-7 tuổi, khả năng tập trung chú ý của học sinh chưa cao, tư duy cụ thể là chủ yếu, khả năng tổng hợp khái quát mới ở mức đơn giản.Vì thế, trẻ thường lẫn các đối tượng có hình dạng hay cách phát âm các âm, tiếng, từ na ná giống nhau, chưa biết phân biệt đâu là đúng, là sai. Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, các em chủ yếu học và chơi. Đây là hai hoạt động đan xen nhau. Trẻ em nặng tính hồn nhiên, ngây thơ trong sáng. Các em dễ tin và nghe lời thầy cô, tin vào khả năng học tập của chính bản thân các em, tin vào những điều nhà trường, gia đình, xã hội đã dạy dỗ các em nên người. Ở lứa tuổi này tâm lý của các em là thích được khen hơn chê, cho nên khi các em đọc bài tốt, đạt điểm cao, được thầy cô khen, bạn bè quý mến các em rất thích. Vì vậy người giáo viên Tiểu học phải nắm bắt được tâm sinh lý học sinh Tiểu học. Do đó khi nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1 qua môn học vần là rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em. 3.2. 1.Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa: Qua việc nghiên cứu một số tài liệu Sư phạm tôi đã rút ra một số điểm đáng lưu ý như sau: - Do nhận thức của trẻ thiên về trực quan. Vì vây, giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” trong các phương pháp dạy Tập đọc có phương pháp trực quan và phương pháp luyện tập là hết sức quan trọng. Phương tiện trực quan có thể là vật thật, tranh vẽ, mô hình , bộ chữ thực hành Tiếng Việt , cũng có thể là giọng đọc mẫu của giáo viên.Một hình thức sinh động và có hiệu quả. Giáo viên phải đọc đúng thể loại, đúng ngữ điệu, biểu hiện tình cảm qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ. Bên cạnh đó còn hình thức trực quan thứ hai là ghi các tiếng khó, câu khó, đoạn khó đọc vào bảng phụ để học sinh tri giác cụ thể hơn. Giáo viên cần chép rõ ràng và hướng dẫn tỉ mỉ. Đó chính là các hình thức trực quan rất cần thiết cho việc rèn đọc. Các em có đọc đúng thì mới có thể viết được đúng.Ở phương pháp luyện tập sẽ có các quá trình luyện tập là: đọc đúng âm, tiếng, câu; biết ngắt nghỉ đúng chỗ khi đọc. Giọng đọc phải thể hiện qua bài văn hay bài thơ và thể hiện cảm xúc qua nội dung bài đọc. Đọc sai chỗ ngắt giọng phản ánh một cách hiểu sai nghĩa hoặc ít ra một cách đọc không để ý đến nghĩa. 6
  5. - Thực tế học sinh lớp 1 luyện đọc đúng là nhiệm vụ trọng tâm bởi theo chương trình Tập đọc trong sách Tiếng Việt 1 chỉ có 11 tuần bao gồm cả nội dung ôn tập và thi. Bên cạnh đó học sinh vừa chuyển từ phần vần sang tập đọc thì mục tiêu chính là giúp các em nhận diện chữ để đọc đúng, đọc trôi chảy lưu loát, biết ngắt nghỉ hơi hợp lý, lưu ý cả cách đọc nhấn giọng. - Giáo trình “Rèn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt”. Muốn rèn cho các em có kỹ năng, phương pháp đọc tốt thì trước tiên giáo viên cần phát hiện những nguyên nhân dẫn đến đọc sai, từ đó áp dụng các cách thức, các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt trong quá trình áp dụng qua việc nghiên cứu để hướng dẫn học sinh. - Việc áp dụng ngữ điệu đọc phù hợp làm tiêu chuẩn tức là cách xác định chính xác tiết tấu của giọng đọc, nhịp điệu đọc, cường độ, độ cao, sắc thái giọng đọc, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ trong khi đọc để người nghe dễ hiểu, cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong bài văn, bài thơ. - Về tốc độ âm lượng đọc: Mỗi bài Tập đọc có tốc độ âm lượng đọc khác nhau. Như vậy người giáo viên cần phải nắm chắc các kỹ thuật trên để làm mẫu cho học sinh và hướng dẫn truyền thụ lại cho các em những kỹ thuật đó. Khi học sinh đã hoàn chỉnh các kỹ thuật trên cũng chính là đã đạt đỉnh cao của phương pháp rèn đọc cho học sinh Tiểu học. Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 1: Chương trình Tiếng Việt 1 chia thành 3 phần cơ bản. + Học vần: Chữ cái: Tuần 1 - Tuần 6 Vần : Tuần 7 - Tuầm 24 + Tập đọc: Tuần 27- Tuần 35. *Chương trình Tập đọc lớp 1 bao gồm cả phần nội dung kiến thức mới và nội dung kiến thức ôn tập là 13 tuần. Trong đó cũng được phân thành các chủ đề sau: + Chủ đề nhà trường : 4 tuần + Chủ đề gia đình : 4 tuần + Chủ đề thiên nhiên - Đất nước: 4 tuần Riêng tuần 35 dành cho phần ôn tập và kiểm tra. - Các bài Tập đọc được xếp theo chủ đề gần gũi, đan xen, kết hợp, phân bố rất hợp lý. - Nội dung là những bài văn, bài thơ, những câu chuyện ngắn, hay, hấp dẫn, gắn với cuộc sống sinh hoạt của các em. - Đặc biệt ở mỗi bài Tập đọc thường có tranh minh hoạ với màu sắc đẹp, hình ảnh sinh động phù hợp với nội dung từng bài. 3.2.2 Tìm hiểu thực tế - Hiểu học sinh. Để dạy và học tốt việc đầu tiên của người giáo viên chủ nhiệm đó là cập nhật nắm bắt các thông tin về học sinh mình.Làm được điều đó thì mỗi giáo viên có cách làm khác nhau.Là giáo viên chủ nhiệm ai cũng mong muốn học sinh mình học tốt, chăm ngoan.Muốn biết được cụ thể từng học sinh như thế nào, công việc đầu tiên của tôi đó là tìm hiểu thực thế từng học sinh. Công việc được thực hiện như sau: 7
  6. Thực trạng của học sinh: Tôi đã tiến hành điều tra học sinh lớp 1A5 tổng số là 27 em. - Phương thức điều tra 1: Bằng hình thức thăm dò điền vào dàn ý, vào ô trống mà em cho là đúng hoặc hình thức lựa chọn từ thích hợp để điền vào ô trống. Câu 1: Điền vào chỗ trống n hoặc ng. Xóm la ., cái bà .. Câu 2: Điền vào chỗ trống n hoặc l. ..iu o, iềm vui, eo trèo. Câu 3: Điền vào chỗ trống chanh hay tranh Quả ,bức .. Điều tra kết quả phương thức 1: Câu 1: 80% học sinh trả lời đúng. Câu 2: 60% học sinh trả lời đúng. Câu 3: 60% học sinh trả lời đúng. Từ kết quả điều tra phương thức trên tôi thấy học sinh đọc sai nhiều nhất là phụ âm l/n, s/x. Hai phụ âm này học sinh hay đọc sai, trong đó có một phần lỗi học sinh chưa chú ý và giáo viên đọc chưa chuẩn. Phương thức điều tra 2: Tôi tiến hành điều tra vào lớp giảng dạy và khảo sát cụ thể qua việc đọc của từng học sinh. Kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái các em đã học ở Mẫu Giáo và kết quả điều tra năm thu được như sau: Tình hình học sinh: lớp 1C sĩ số : 32 học sinh Kết quả khảo sát nhận diện chữ cái: • Học sinh không biết chữ cái nào : 5 em • Biết 6 – 10 chữ cái : 10 em • Nhận biết hết bảng chữ cái : 17 em Như vậy tỉ lệ học sinh nhận diện một cách chắc chắn chính xác bảng chữ cái còn thấp dẫn đến kết quả học tập còn chưa cao. Thông qua kết quả đó tôi phân loại học sinh theo nhóm đối tượng vào sổ nhật ký cá nhân để tiện việc theo dõi giúp đỡ từng học sinh. Đồng thời lập kế hoạch cá nhân để có biện pháp giúp đỡ các em với các biện pháp cụ thể trong từng tiết học, bài học. * Cách thức thực hiện Tập đọc là phân môn chủ yếu rèn cho học sinh kỹ năng đọc, từ mức độ nhận biết để đọc đúng, rõ ràng đến mức độ cao hơn là đọc lưu loát, biết ngắt nghỉ, lên - xuống giọng và thể hiện thái độ tình cảm qua bài Tập đọc, học sinh hiểu được nội dung của bài. Để đạt được mục đích ấy, trước hết người giáo viên phải có phương pháp rèn đọc đúng, có các hình thức rèn đọc cũng như tinh thần trách nhiệm đối với 8
  7. nghề trên cơ sở giúp học sinh nhận thức được việc rèn đọc trong trường Tiểu học. Từ đó áp dụng các phương pháp rèn đọc linh hoạt sẽ đem lại kết quả khả quan hơn. a. Phương pháp trực quan: Phương pháp này đòi hỏi học sinh được quan sát vật thật,tranh ảnh tự nhiên , hay việc làm mẫu của giáo viên như cho các em nghe cô phát âm mẫu, đánh vần mẫu, đọc mẫu . Ví dụ : Khi dạy học sinh học âm l , giáo viên phải phát âm mẫu và cho học sinh quan sát khuôn miêng để các em ‘’bắt chước ‘’ phát âm mới đúng được . - Các hình thức trực quan (Cách dạy): * Giọng đọc mẫu của giáo viên: Việc đọc mẫu của giáo viên giữ một vai trò quan trọng. Người thầy đầu tiên của việc đặt nền móng, trang bị cho học sinh về chuẩn ngôn ngữ của lời nói, nhất là khi dạy phần học vần. Đây là một hình thức trực quan sinh động và có hiệu quả đáng kể, có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện đọc. Do đó, muốn rèn đọc cho học sinh tôi luôn chuẩn bị trước các bài ở nhà để cho học sinh đọc đúng các thể loại, đúng ngữ điệu, tránh đọc đều đều mà cần phải biết biểu hiện tình cảm của mình qua cử chỉ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười khi đọc. * Luyện đọc âm: Khi cho học sinh đọc một âm, vần nào đó nếu học sinh không nhớ. Tôi cho học sinh nêu cấu tạo âm vần. Ví dụ: âm “ ch” học sinh nêu cách ghép âm ch, nếu học sinh vẫn chưa nhớ thì tôi có một gợi ý về đồ vật, một con vật, một việc làm có chứa âm “ch” học sinh sẽ nhớ và đọc được ngay. *Luyện đọc từ khó: Khi hướng dẫn học sinh phát âm tôi thường phân tích cho các em thấy sự khác biệt giữa cách phát âm đúng với cách phát âm sai mà học sinh thường mắc như các tiếng có phụ âm l/n, ch/tr, s/x. Điều này cần hướng dẫn tỉ mỉ và có trực quan cho các em thấy được sự khác nhau của nó để phân biệt rõ khi đọc phát âm cho đúng. Đặc biệt đối với học sinh yếu, tôi còn sử dụng các trực quan cụ thể để các em thấy được hệ thống cách phát âm như môi, răng, lưỡi (bộ máy phát âm) khi phát âm nó như thế nào. Cụ thể hơn, tôi làm mẫu trực tiếp để học sinh quan sát và luyện cách phát âm. Ngoài hình thức trên, tôi còn ghi các từ khó để luyện đọc bằng phấn màu lên bảng (bảng phụ) . Tôi dùng phấn màu ghi các phụ âm, vần khó, làm nổi bật các phụ âm, vần khó trong các từ luyện đọc để các em được nhìn (bằng mắt), được tập phát âm (bằng miệng), được nghe (bằng tai) và có thể được viết bằng tay vào bảng con. Có như vậy các em sẽ nhớ lâu và đọc đúng. Giáo viên đọc mẫu – Học sinh giỏi luyện đọc. Học sinh thường đọc sai phụ âm, sai vần luyện đọc. Học sinh yếu cần luyện nhiều và tôi yêu cầu học sinh phân tích các từ có tiếng, vần mà các em hay đọc sai để 9
  8. nắm bắt rõ hơn. Đa số học sinh đọc tốt, trừ một số trường hợp đặc biệt (các em bị dị tật về bộ máy phát âm) còn lại với cách rèn đọc trên các em đã đọc tốt. * Luyện đọc câu – đoạn – bài: Đối với học sinh lớp 1 , thực tế cho thấy các em thường đọc theo kiểu đọc vẹt, nhưng phần lớn chưa nhớ được mặt chữ. Khi giáo viên yêu cầu thì không đọc được. Để học sinh nhận và nhớ được mặt chữ đọc đúng và nhanh, khi học sinh đọc xong câu tôi cho học sinh phân tích một tiếng nào đó hoặc che đi một số chữ và yêu cầu học sinh đọc các chữ còn lại. Sau đó tôi cho học sinh đọc câu mới đã đảo trật tự nhưng vẫn giữ nguyên nội dung câu vừa học.Kết hợp với rèn phát âm đúng tiếng, từ có phụ âm, có vần học sinh hay phát âm sai; tôi còn rèn cho học sinh biết ngắt, nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy và đọc lưu loát (đây là yêu cầu trọng tâm của học sinh lớp 1). Bước sang phần đọc, đa số các em còn đọc chưa chuẩn, đọc còn ngắc ngứ, đọc từng âm, tiếng. Một số học sinh yếu còn phải dừng lại để đánh vần. Nhiều em chưa biết nghỉ hơi đúng lúc, đúng chỗ. Để khắc phục tình trạng này, tôi đã dành nhiều thời gian hơn cho việc luyện đọc. Tuy nhiên vẫn đảm bảo đủ nội dung trong một giờ Tập đọc. Dùng thời gian thích đáng cho việc luyện đọc (ở lớp và ở nhà). Khi học sinh đọc tôi theo dõi để nhắc nhở học sinh ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy. Đọc rõ từng cụm từ, câu, tránh đọc kéo dài giọng. Đối với học sinh yếu phần luyện đọc chưa đạt yêu cầu, các em dung bút chì đánh dấu vào sách giáo khoa, về nhà tự luyện đọc, tiết học sau tôi kiểm tra. Rèn kỹ năng đọc: đọc câu, đoạn hay cả bài, tôi luôn hướng dẫn các em rất tỉ mỉ. Trong các giờ Tập đọc, tôi thường chép sẵn các đoạn văn hay thơ cần lưu ý về cách đọc. Nếu là bài đọc thuộc long cũng cần phải chép ra bảng phụ để học sinh tri giác cụ thể, cần chép rõ rang mới có tác dụng trực quan tốt. Khi dạy học thuộc lòng, tôi chép bài lên bảng (bảng phụ) rồi luyện đọc cho các em bằng phương pháp xoá dần chỉ để lại từ điểm tựa. Phần này làm trực quan tốt thì các em học dễ nhớ và thuộc bài nhanh hơn so với phương pháp để học sinh đọc ở sách giáo khoa. * Dùng tranh ảnh, vật thật: Đây là phương pháp có tác dụng không khó trong việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh. Nhưng khi đã sử dụng tranh ảnh thì các bức tranh đó phải to, đẹp, rõ rang. Nếu không có điều kiện phóng to, tôi sử dụng tranh ảnh minh hoạ ngay ở trong sách giáo khoa. Tuỳ từng bài để ta có thể sử dụng trực quan cho phù hợp. Tôi yêu cầu học sinh khi đọc phải nhấn mạnh các từ chỉ màu, sắc, độ. Học sinh phải nhớ từ cần nhấn mạnh. Luyện đọc từ cần nhấn mạnh, ngay cả các em yếu cũng đọc được.Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có kỹ năng đọc và tiếp thu bài tốt, đọc diễn cảm bài. Giúp học sinh dễ hiểu bài hơn và gây hứng thú cho học sinh khi đọc, nhằm khắc sâu kỹ năng đọc và nắm nội dung bài của học sinh. Phương pháp này nhằm củng cố niềm tin vững chắc cho học sinh b. Phương pháp đàm thoại, vấn đáp. 10
  9. Tôi đưa ra nhiều câu hỏi để học sinh trả lời nhằm phát hiện sự hiểu biết của các em hoặc để gợi mở giúp các em phát hiện cách đọc. VD: - Chữ này là chữ gì? ( chữ a, o,b,c, d .) Âm ch đứng trước, vần anh đứng sau, em đánh vần thế nào?( chờ- anh - chanh). Khi sử dụng phương pháp này, tôi thường dùng ngôn ngữ dễ nghe, nhẹ nhàng, tránh cáu gắt khi các em chậm nhớ, chậm hiểu.Hãy ôn tồn dẫn dắt học sinh từng bước một để dạy các em đọc từng chữ, từng tiếng, từng câu trong mỗi ngày. c. Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng học sinh. Trong tiết dạy tôi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh đọc chậm, đọc yếu để gọi các em thường xuyên đọc bài . Đối với học sinh giỏi – khá tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn.Còn đối với học sinh trung bình – yếu tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Cố lên, rồi các em sẽ đọc tốt như các bạn nếu các em cố gắng đọc bài nhều ở lớp cũng như ở nhà.” Trong tiết dạy tập đọc, sau khi cho cả lớp đọc xong, tôi mời các em đọc yếu, trung bình lên bàn giáo viên để cùng đọc bài với cô.Tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn. Cùng đọc bài với các em trong giờ ra chơi ( nhưng vẫn để cho các em có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi). Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em bằng những phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn màu, cây bút đẹp vv để các em thích thú và cố gắng hơn. d .Phương pháp học nhóm Ngay từ đầu năm học qua khảo sát , phân loại học sinh trong lớp tôi bố trí cho học sinh giỏi kèm học sinh yếu, em giỏi ngồi gần em yếu để giúp bạn học tập , yêu tiên những học sinh yếu được ngồi ở dãy bàn thứ nhất và thứ hai trong lớp . trong từng giờ học lúc nào tôi cũng gọi các em đọc bài nhiều hơn những bàn học sinh khác , gọi đọc theo nhóm đôi ( trong cùng bàn ) để học sinh yếu đọc theo học sinh giỏi ,và học sinh yếu cũng được luyện tập nhiều hơn . e. Phương pháp tổ chức các trò chơi Trong giờ học vần, tôi hay lồng ghép các trò chơi nhỏ để cả lớp cùng tham gia. Ví dụ: Trò chơi Đọc nhanh – Đọc đúng Giáo viên ghi một số từ vào các mảnh bìa và đưa ra cho học sinh đọc. Bạn nào đọc nhanh, đọc đúng 3 từ liên tiếp sẽ được cả lớp khen là giỏi và tôi thường hay chọn các học sinh trung bình, yếu để đọc nhiều hơn nhằm giúp các em cố gắng đọc để thi đua và tạo cho các em khả năng đọc nhanh, đọc đúng. Hay trò chơi Chỉ nhanh – Chỉ đùng Tôi gọi một nhóm 3 học sinh lên bảng 1 em (là học sinh khá, giỏi ) đọc cho hai học sinh yếu chỉ vào âm, vần , tiếng , từ do bạn đọc .Trò chơi này học sinh rất thích và lớp học cũng sôi nổi .(Từ tuần 29 đi học trực tiếp sau nghỉ dịch) g. Dạy thử nghiệm: Qua quá trình điều tra, nghiên cứu tìm ra những tồn tại cũng như nguyên nhân dẫn đến tồn tại. Đề ra những biện pháp rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1, tôi đã tiếnhành dạy thử nghiệm 2 tiết Tập đọc ở lớp 1 để chứng minh cho những biện pháp đề xuất của mình, tạo kết quả cho giờ học. 11
  10. Tập đọc lớp 1- bài “ Chuyện trong vườn” Tập đọc Tiết 339 + 340: Chuyện trong vườn. I. Yêu cầu cần đạt: - Đọc trơn bài, phát âm đúng các tiếng. Biết nghỉ hơi sau các dấu câu.Hiểu các từ ngữ trong bài.Trả lời đúng các câu hỏi tìm hiểu bài đọc.Hiểu nội dung bài: Mai nhân hậu, yêu cây cỏ, hoa lá, thiên nhiên. - Phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác qua các hoạt động. - Có ý thức bảo vệ môi trường , yêu thiên nhiên , cỏ cây , hoa lá. II. Đồ dùng dạy học: - GV: Máy tính chiếu hình ảnh của bài học, giáo án điện tử. - HS: Vở BTTV. III. Các hoạt động dạy học chủ yếu: Hoạt động của thầy Hoạt động của trò TIẾT 1 1. Khởi động Kiểm tra bài cũ : Gọi HS đọc bài TĐ trước -2 HS đọc truyện Sơn ca, nai và ếch ?Vì sao ba bạn không đổi việc cho nhau - HS trả lời nữa? - HS nhận xét - GV nhận xét , đánh giá Giới thiệu bài: HS quan sát tranh minh - HS nghe hát bài : Hoa lá mùa xuân hoạ vườn hoa, hai bà cháu ôm nhau. Có chuyện gì xảy ra trong vườn? 2. Khám phá và luyện tập * Hoạt động 1: Luyện đọc. - GV đọc mẫu: - Luyện đọc từ ngữ: sáng sớm, tưới hoa, - Luyện đọc từ ngữ. cẩn thận, kẻo ngã, ngã sóng soài, ứa nhựa, chạy vội,... GV giải nghĩa: phủi (gạt nhẹ). - Luyện đọc câu. - Đọc từng câu (đọc liền 2 câu). - GV: Bài đọc có 14 câu. - Luyện đọc cá nhân , nhóm - GV chỉ từng câu (liền 2 câu ngắn) cho HS đọc vỡ. - HD chia đoạn - Thi đọc 3 đoạn (Từ đầu đến ... kẻo ngã - HD luyện đọc đoạn nhé! / Tiếp theo đến ... không sao ạ! / còn - Thi đọc đoạn. lại); thi đọc cả bài - Thi đọc cả bài. TIẾT 2 12
  11. * Hoạt động 2: Tìm hiểu bài đọc. - GV hỏi - HS trong lớp trả lời: + Thấy Mai ra vườn, bà nhắc Mai điều - 4 HS đọc 4 câu hỏi trong SGK. gì? - Bà nhắc Mai: Cháu đi cẩn thận kẻo ngã. + Vì sao Mai nghĩ là hoa đang khóc? - Vì Mai thấy cành hoa gãy đang ứa nhựa như nó đang khóc vì đau. + Em hãy giúp Mai nói lời xin lỗi cây - Hoa ơi, xin lỗi vì đã làm hoa đau nhé./... hoa? + Hãy chọn cho Mai một cái tên mà em - Cô bé giàu tình cảm. /.... thích? - GV: Qua câu chuyện, em hiểu điều gì - HS: Mai rất yêu hoa. / Mai có ý thức bảo về bạn Mai? vệ cây, hoa). - GV: Mai là cô bé nhân hậu; có tình yêu với cây cỏ, hoa lá, thiên nhiên. Các em hãy học tập Mai - có ý thức bảo vệ môi trường, yêu thương cỏ cây, hoa lá. * Hoạt động 3: Luyện đọc lại. - Cho 3HS luyện đọc theo vai - 3 HS đọc (làm mẫu) theo 3 vai: người dẫn chuyện, Mai, bà Mai. - GV khen những HS, tốp HS đọc đúng - 2 – 3 tốp thi đọc theo vai. vai; đọc biểu cảm. 3. Vận dụng trải nghiệm: - Nhận xét giờ học - Chia sẻ với bạn bè, người thân về câu chuyện. - Về nhà đọc và chuẩn bị bài sau 3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp Trong từng tiết dạy môn Tiếng việt, để giúp học sinh tích cực và ham học giáo viên cần sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện hỗ trợ tiết dạy như sau: - Sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu. - Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát tìm hiểu. - Sưu tầm thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên qua đến bài dạy. - Ứng dụng các hình ảnh bài giảng điện tử giảng dạy trong tiết học . Sử dụng thường xuyên bộ đồ dùng học Tiếng Việt của học sinh và giáo viên. - Đổi mới quá trình dạy học, phương pháp dạy học để đạt kết quả cao nhất. - Trong quá trình giảng dạy phải luôn nắm bắt, đút rút được những vướng mắc, khó khăn thực tế ở lớp mình dạy, để từ đó tìm ra hướng giải quyết tốt nhất. - Người giáo viên thực sự phải có lòng nhiệt tình, say mê với nghề nghiệp, với lương tâm trách nhiệm của người thầy giáo, cô giáo. - Sự giúp đỡ của các bậc phụ huynh trong việc rèn luyện cho các em ở nhà. 13