Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn Sinh học Khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn Sinh học Khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_long_ghep_giao_duc_ky.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn Sinh học Khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Kỹ năng sống được xem như một hành trang trong cuộc sống của mỗi người, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh. Chính vì vậy việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là việc làm không mới vì từ xa xưa cha ông ta đã đúc kết “ Tiên học lễ, hậu học văn” nhưng do sức ép lớn vể chương trình: về điểm số, hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau nó đã bị xem nhẹ. Đứng trước thực tế xã hội ở những năm gần đây Bộ GD - ĐT đã nhận thấy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là việc làm cấp bách ở mọi bậc học đặc biệt là với học sinh THCS lứa tuổi này. Các em cần tìm tòi, học hỏi cái mới, điều lạ không phân biệt nó là tốt hay xấu. Đã phát triển tình yêu nam, nữ dẫn đến các quan hệ không đúng mực trong quan hệ khác giới. Tuổi học trò là lứa tuổi vô tư, hồn nhiên trong sáng, chưa phải âu lo, buồn phiền về những vấn đề phức tạp của cuộc sống thường ngày là quãng đời đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người. Phải chăng đó chính là những dấu mốc khiến người ta dựa vào đó mà dệt nên tương lai muôn màu muôn vẻ. Song, đó chỉ là những lý thuyết đơn thuần và chỉ đúng với những em học sinh thực sự biết trân trọng tuổi học trò của mình theo đúng nghĩa của nó. Trên thực tế hiện nay, các em trong độ tuổi tươi đẹp này phải gánh chịu những hậu quả khôn lường như: Bạo hành trẻ em, bạo lực học đường, xâm hại tình dục... Đó là những sai lầm trong cuộc sống, những trải nghiệm mà ở lúa tuổi các em chưa nên chạm tới. Những hậu quả đó làm các em mất đi vẻ ngây thơ, trong sáng, tinh thần suy kiệt thậm chí có trường hợp các em không dám nói lên sự thật mà âm thầm dấu kín trong lòng và có những trường hợp các em phải tìm đến cái chết. Vậy, chúng ta đang nói đến vấn đề gì ở đây? Đó chính là sự thiếu hiểu biết về kiến thức giới tính dẫn đến nạn mang thai ở tuổi vị thành niên, nạn nạo phá thai ở tuổi còn đang đi học đặc biệt là ở nước ta hiện nay. Đây là một vấn đề vô cùng nan giải mà tất cả mọi người cùng đang cố gắng tìm cách khắc phục. Theo Vụ trưởng Vụ các vấn đề xã hội cho rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn Trường THCS Phạm Hồng Thái 1 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. tới tỉ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới trong đó giáo dục giới tính còn nhiều hạn chế. Nhiều mô hình tập huấn cho trẻ vị thành niên về các biện pháp tránh thai hiện nay cho thấy, chúng ta giới thiệu còn rất khiêm tốn, chưa đáp ứng được nhu cầu trong vấn đề giáo dục, tuyên truyền về giới tính, tình dục an toàn... tới trẻ vị thành niên. Tại Việt Nam, 19% số học sinh từng bị quấy rối tình dục, 10% số học sinh từng bị bạo lực tình dục, trong đó có 81% là trẻ em gái, 17% số học sinh từng bị cưỡng hôn, 20% số học sinh từng bị đụng chạm không mong muốn. Tổn thương về thể xác, tinh thần, mất niềm tin vào cuộc sống, thậm chí báo động về tình trạng nạo, phá thai trong lứa tuổi thanh thiếu niên là những vấn đề đáng lo ngại. Cũng theo thống kê trong những năm gần đây của Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy, tỷ lệ nạo phá thai vị thành niên tại Việt Nam không ngừng gia tăng. Mỗi năm cả nước có khoảng 1, 2 triệu đến 1, 6 triệu ca nạo phá thai; trong đó 20% là ở lứa tuổi vị thành niên và khoảng 15% đến 20% số ca nạo phá thai là của thanh niên chưa lập gia đình, số thanh niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng. Chính vì thế mà Việt Nam nằm trong số 1 trong 5 nước có tỉ lệ phá thai cao nhất thế giới. Các chuyên gia cho rằng, thực tế này phản ánh tình trạng nhiều bạn trẻ thiếu kiến thức cơ bản về tình dục, sức khỏe sinh sản dẫn đến những hệ lụy khôn lường về tâm lý, thể chất và dẫn đến nguy cơ vô sinh. Trường Phạm Hồng Thái là một trường đóng trên địa bàn vùng khó khăn, số lượng học sinh người đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 70% tổng số học sinh toàn trường, sự nhận thức còn hạn chế, bố mẹ ít có thời gian quan tâm tới tâm sinh lý của con cái. Hơn nữa với người đồng bào nhiều thế hệ sống chung trong một gia đình nên mọi sinh hoạt không đảm bảo riêng biệt, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều em bị cưỡng bức từ chính những người thân trong gia đình. Nhiều trường hợp dẫn đến có thai khi phát hiện thì quá lớn nên phải bỏ học giữa chừng. Vì các em chưa được tập huấn về giới tính, sinh sản và các biện pháp phòng tránh thai... Trường THCS Phạm Hồng Thái 2 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. Do đó, vấn đề quan trọng nhất là việc tuyên truyền, trang bị kiến thức về giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe tuổi dậy thì để trẻ vị thành niên mà đặc biệt là các em nữ nhận thức đúng vấn đề này, thậm chí phải giúp các em hiểu và phân biệt được tình bạn, tình yêu, hôn nhân biết cách tự bảo vệ mình nhằm xây dựng một tình bạn vô tư trong sáng, một kỷ niệm thiêng liêng đúng nghĩa khi ngồi trên ghế nhà trường. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục kỹ năng sống đặc biệt là kiến thức giới tính cho học sinh trung học cơ sở, ngay trong quá trình giảng dạy bộ môn sinh học nhất là chương trình sinh học lớp 8, 9 nên tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài: “Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn Sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông '' 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài: * Mục tiêu: Nhằm chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hiểu biết về giới tính ở học sinh trung học cơ sở và từ đó đề ra các biện pháp để trang bị vốn kiến thức giúp các em phòng tránh những vấn đề tiêu cực về giới tính và dám đấu tranh về quyền lợi của mình. * Nhiệm vụ: - Nêu ra một số nguyên nhân khiến các em học sinh THCS thiếu hiểu biết về giáo dục giới tính và ngại chia sẻ các vấn đề tế nhị. - Cung cấp một số kiến thức cơ bản về cấu tạo cũng như sinh lý hoạt động của cơ thể khi bước vào lứa tuổi dậy thì qua quá trình học tập ở bộ môn Sinh học 8. - Chỉ rõ những phương pháp trang bị kiến thức về giới tính cụ thể cho học sinh. - Xây dựng thói quen chia sẻ những vướng mắc trong cuộc sống thực tiễn của học sinh. 3. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh trung học cơ sở, đặc biệt là các khối lớp 8, 9 Trường THCS Phạm Trường THCS Phạm Hồng Thái 3 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. Hồng Thái, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Học sinh, phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn của trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông '' 5. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện thành công đề tài này, bản thân tôi đã thực hiện những biện pháp cụ thể sau: - Phương pháp quan sát. - Phương pháp trò chuyện với từng đối tượng học sinh. - Phương pháp tổ chức thảo luận các vấn đề về giới tính giữa học sinh với nhau. - Phương pháp phỏng vấn phụ huynh học sinh. - Phương pháp dùng phiếu điều tra học sinh. - Phương pháp thăm dò ý kiến giáo viên. - Phương pháp tổng kết, đánh giá kết quả các biện pháp thực hiện. Trường THCS Phạm Hồng Thái 4 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận: Từ xưa đến nay, giới tính vẫn luôn luôn là một vấn đề nhạy cảm và phức tạp, nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống chúng ta. Tuy nhiên, vấn đề này lại chưa được chú trọng bởi do rất nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là sự e ngại, lảng tránh của tất cả mọi người, đặc biệt là người Á Đông như Việt Nam. Sự hiểu biết về giới tính đa phần là do bản thân mỗi người tự tìm tòi theo kiểu “Một mình mình biết” còn đối với trẻ con thì tuyệt đối “không” vì “chưa đến tuổi” hoặc sợ nói đến con trẻ sẽ bắt chước... Mặc dù tuổi dậy thì ở trẻ em Việt Nam hiện nay đã bắt đầu sớm hơn do xã hội phát triển, dinh dưỡng vật chất đầy đủ, phương tiện thông tin mở rộng hơn. Ở giai đoạn này, các em thường có nhu cầu tìm hiểu, học hỏi về đời sống riêng tư, bắt đầu có những rung động về tình cảm khác giới, tính tò mò và mong muốn được giải đáp tò mò nhiều hơn, đây là thời điểm mà người lớn chúng ta cần quan tâm đến các em nhiều nhất, cũng là thời điểm rất thích hợp để giáo dục giới tính cho các em. Thế nhưng, không thể phủ nhận rằng chúng ta vẫn chưa thực sự nghiêm túc trong cách nhìn nhận về vấn đề giới tính, ở gia đình, khi các em muốn bày tỏ tâm tư tình cảm thì lại bị cha mẹ trách mắng vì cho rằng đó là chuyện của người lớn. Trong chương trình học thì lại đề cập quá ít cụ thể là chỉ ở gần cuối chương trình sách giáo khoa sinh học lớp 8 mới có chương “Sinh sản” với một vài bài mang tính chất minh họa đại khái. Bản thân giáo viên bộ môn khi dạy chương này cũng còn e ngại, chưa thực sự nhiệt tình và ngay chính bản thân học sinh cũng không “mặn mà” tiếp nhận. Với quan niệm tránh né như vậy bỗng chốc trở thành điều “cấm kỵ” hay sự “vô duyên” khi đề cập đến. Phải chăng chúng ta đang đi ngược lại trong cách nhìn nhận về giới tính. Cũng chính thói quen cố hữu này mà hiện nay tình trạng học sinh thiếu hiểu biết về giới tính, yêu sớm và bước qua giới hạn đang đứng ở con số đáng báo động tại Việt Nam. Vấn đề cấp bách ở đây là cần có những phương pháp để đưa giáo dục giới tính vào sự hiểu biết của bản thân mỗi người để có cái nhìn thật sự nghiêm túc Trường THCS Phạm Hồng Thái 5 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. nhằm giúp cho tất cả mọi người xung quanh trao đổi với nhau một cách thẳng thắn và thoải mái đặc biệt là lứa tuổi học sinh THCS. Một số kiến thức cần thiết về giới tính đối với lứa tuổi dậy thì theo nội dung sgk lớp 8 - Ví dụ: Thông qua bài 58 TUYẾN SINH DỤC Tuổi dậy thì bắt đầu từ 10 – 13 tuổi ở cả nam và nữ, trong qua trình này, biểu hiện trước tiên là những biến đổi cơ thể và tâm sinh lý ở các em, cụ thể là: * Biến đổi cơ thể: Theo kiến thức sinh học sách giáo khoa lớp 8 thì: - Đối với nam: Dưới tác dụng của hoocmon testosterone làm cơ thể có biểu hiện: + Lớn nhanh, vai rộng, ngực nở. + Cơ quan sinh dục to ra + Có các đặc tính sinh dục phụ như: mọc ria mép, mọc lông nách, lông mu, vỡ tiếng; tuyến mồ hôi, tuyến nhờn phát triển, xuất hiện trứng cá... + Xuất tinh lần đầu (dấu hiệu quan trọng nhất) - Đối với nữ: Dưới tác dụng của hoocmon Ơstrôgen làm cơ thể có biểu hiện: + Lớn nhanh, da mịn, thay đổi giọng nói, vú phát triển, mọc lông nách, mọc lông mu, hông nở rộng, mông đùi phát triển, bộ phận sinh dục phát triển, tuyến mồ hôi, tuyến nhờn phát triển, xuất hiện mụn trứng cá và bắt đầu hành kinh. Với những biến đổi cơ thể như vậy chứng tỏ các em đã có khả năng sinh sản. * Biến đổi tâm sinh lý: Theo báo điện tử “Phunutoday” nói về những thay đổi về mặt tâm lý khi trẻ dậy thì: Ngay từ thời mẫu giáo, trẻ đã biết phân biệt bạn trai và bạn gái. Thậm chí trẻ còn biết trêu đùa, ghép đôi bạn trai này với một bạn gái khác. Nhưng đó chỉ là sự phân biệt mang tính bản năng cũng như sự bắt chước người lớn. Khi chơi đùa hoặc thậm chí nằm ngủ với nhau, các bé hoàn toàn không có suy nghĩ hay cảm nhận gì cả. Lúc này, tâm sinh lý của bé trai và bé gái là như nhau, không có sự khác biệt. Từ 6 - 10 tuổi, trẻ đã có sự phân biệt rõ hơn về giới. Bé gái khi chơi cùng bạn trai sẽ nảy sinh cảm giác xấu hổ, bất an. Tuy nhiên, những cảm xúc bị thu hút hay hấp dẫn của hai phái vẫn chưa hình thành. Sau 10 tuổi trẻ Trường THCS Phạm Hồng Thái 6 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. đã có nhận thức mơ hồ về giới tính cũng như sự hấp dẫn giới tính, bắt đầu thấy tò mò và thích thú đối với sự khác biệt và mối quan hệ giữa hai giới. Từ 14 – 15 tuổi trở đi, sự gia tăng nhanh chóng của các hoocmôn sinh dục cùng với nhận thức rõ hơn về giới tính đã thôi thúc trẻ nảy sinh tình cảm với bạn khác giới. Ở lứa tuổi này, đặc điểm sinh học của hai giới đã có sự khác biệt rõ nét. Trẻ trai đã có đủ đường nét của người đàn ông trưởng thành, có râu, lông chân, lông nách, thân hình cao lớn, vai rộng và cơ bắp. Trẻ gái đã mềm mại hơn, ngực và mông to lên tạo thành những đường cong quyến rũ. Lúc này, trẻ đã bắt đầu hình thành khái niệm “thích”, “yêu”, “kết”, “cặp đôi”. Đặc biệt, cảm xúc của trẻ lúc này cực kỳ nhạy bén. Chỉ cần một bạn trai học giỏi, một bạn gái có mái tóc dài, một anh chàng đi xe đẹp là trẻ đã có thể rung động và dễ dàng đánh đồng những rung động đầu đời của mình thành tình yêu. Tuy nhiên, vì cảm xúc và nhận thức chưa chín chắn, chưa ổn định nên tình cảm rất dễ thay đổi, hôm nay thích bạn này nhưng ngày mai có thể lại chuyển sang mến thương một bạn khác. 2. Thực trạng vấn đề: * Thuận lợi: Ở góc độ khách quan mà nói thì học sinh là lứa tuổi rất nhạy cảm với các vấn đề xảy ra xung quanh bản thân mình, các em dễ xúc động trước nhiều hiện tượng khác nhau đặc biệt là vấn đề cảm xúc. Đây là lứa tuổi nhiều mộng mơ, thường hay tự thêu dệt những mong muốn thầm kín của bản thân nhưng lại luôn để trong lòng ít ai biết được. Thời điểm này cũng là lúc các em đặc biệt quan tâm về tình cảm của mình, tò mò về tất cả những biến đổi cơ thể và suy nghĩ của bản thân, luôn mong muốn được giải đáp tất cả các thắc mắc liên quan đến tâm sinh liý nên đây là một điều kiện thuận lợi để chúng ta trang bị cho các em những kiến thức về giới tính. Mặt khác, trí tuệ trẻ vẫn nằm trong sự ngây thơ, bản năng nên rất dễ để hình thành thái độ, hành vi tích cực khi được người lớn tận tình dạy bảo. Thời điểm này, nếu cha mẹ luôn gần gũi, trò chuyện và trao đổi một cách nghiêm túc về vấn đề giới tính thì trẻ có thể dễ dàng mở lòng để nói hết những Trường THCS Phạm Hồng Thái 7 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. suy nghĩ, tâm tư của bản thân, sự gợi mở cũng như tạo niềm tin từ cha mẹ là đặc biệt quan trọng bởi nó sẽ giúp trẻ yên tâm tin tưởng trao đổi với phụ huynh mình thay vì tìm nguồn giải đáp từ bạn bè hay phương tiện truyền thông khác. Trong phạm vi nhà trường, qua quá trình học tập, nguồn thông tin chính thống trong sách giáo khoa cũng là những định hướng cơ bản giúp các em nhận thức về giới tính kèm theo những kinh nghiệm giáo dục từ các giáo viên chủ nhiệm cũng như giáo viên giảng dạy bộ môn sẽ là điều kiện vô cùng thuận lợi để hình thành thái độ, hành vi đúng đắn cho các em về vấn đề giới tính. * Khó khăn: Vấn đề giới tính hiện nay vẫn là chủ đề vô cùng nhạy cảm mà quan niệm mỗi người về nó lại rất khác nhau, đặc biệt ngay cả những người trưởng thành còn rất e ngại khi bày tỏ với nhau những hiểu biết của mình về vấn đề này chưa kể đến việc họ có thể trao đổi cởi mở hơn với lứa tuổi mới lớn đặc biệt là con em của họ. Chính vì thế mà thông thường người lớn chúng ta hay né tránh hoặc trả lời không rõ ràng về những điều mà các em tò mò muốn biết thậm chí còn trách mắng, cấm kị các em tìm hiểu và lẽ tự nhiên là khi thắc mắc chưa được giải tỏa thì trẻ sẽ tự đi tìm nguồn thông tin khác (sách báo, tranh ảnh, bạn bè). Dần dần, các em sẽ trở nên khép kín và có thể phạm sai lầm một cách đáng tiếc. Ngay cả giai đoạn hiện nay mà nói thì vấn đề giáo dục giới tính vẫn còn có những ý kiến rất khác nhau, có những ý kiến cho rằng việc hình thành những kiến thức về giới tính cho trẻ càng sớm càng tốt song cũng có những ý kiến lại cho rằng vấn đề này chưa nên đề cập đến. Vì thế, sự tác động của giáo dục giới tính vẫn còn mang tính chất nửa vời, chưa dứt khoát, triệt để dẫn đến kiến thức giới tính trang bị cho học sinh THCS vẫn còn gói gọn trong chương trình môn Sinh học lớp 8 ở cuối học kì II. Ở các môn học khác cũng có đề cập đến nhưng cũng chỉ dừng ở mức minh họa cho một số chủ đề. Tính thiết thực của môn giáo dục giới tính vẫn chưa được nhìn nhận đúng mức thậm chí ngay cả các giáo viên về giáo dục giới tính cũng tỏ ra không mấy nhiệt tình trong việc tìm hiểu và giải đáp các thắc mắc từ học sinh của mình. Điều này khiến các em có phần mất tự tin do vốn kiến thức còn khiếm khuyết mà các kiến thức này lại có liên quan mật Trường THCS Phạm Hồng Thái 8 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. thiết tới việc ngăn chặn tình trạng tiêu cực về thái độ, hành vi vì thiếu hiểu biết vấn đề giới tính. Thời kỳ của công nghệ 4. 0 là một trong những thành công lớn của thời đại, song nó cũng chính là con dao hai lưỡi đối với những cá nhân thiếu hiểu biết, bởi không ít các trang mạng xã hội với các kênh thông tin có tác động rất xấu. Kích thích sự tò mò của các em Đó chính là một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sai lệch trong ý thức, hành vi của trẻ khiến chúng rơi vào bế tắc. Một hiện thực tương đối khó khăn nữa đó là phụ huynh nhất là người đồng bào đa phần là dân lao động, các bậc phụ huynh thường làm kinh tế (ở luôn trong rẫy), có gia đình cha mẹ ở hầu như cả tháng mới về nhà một lần. Chính vì vậy mà việc quản lý con em mình có phần thiếu chặt chẽ. Hơn nữa, qua tham khảo một số ý kiến của phụ huynh về vấn đề giáo dục giới tính của gia đình đối với các em thì thật bất ngờ do đa phần phụ huynh đều lắc đầu “chưa đề cập đến”, nói ra có những phụ huynh còn tỏ ra khó chịu và cho rằng “Nhìn nó chẳng biết gì đâu, nói sớm để làm gì?”. Đây có thể nói là “mối đe dọa” rất lớn nếu các em tò mò tự nghiên cứu giới tính trên mạng internet. * Thành công: Khi tiến hành một số biện pháp như: Trò chuyện với học sinh, phỏng vấn phụ huynh, phương pháp thảo luận giữa các học sinh về vấn đề giới tính nhằm rút ra kết quả nhận thức của học sinh, bản thân tôi thấy được rằng, tất cả các học sinh đều rất thích nghe nói về giáo dục giới tính, nhu cầu tìm hiểu về vấn đề này là rất cao mặc dù ban đầu các em thật sự còn e ngại. Tuy nhiên, khi được khơi gợi và dẫn dắt đúng tâm lý, các em sẵn sàng bày tỏ quan điểm về cách nhìn nhận, tâm tư, tình cảm thậm chí ngay cả những vấn đề nhạy cảm nhất về giới tính cũng được bộc lộ hết. Như vậy, điều này có ý nghĩa gì? Chẳng phải là rất dễ dàng khi người lớn biết quan tâm hơn đến các em một chút, chịu lắng nghe một chút và nhìn nhận nghiêm túc một chút với thái độ chân thành sẽ khiến chúng ta dễ dàng quản lý các em hơn hay sao? Chúng ta vẫn cho rằng các em còn quá ít tuổi để tìm hiểu về vấn đề này nhưng thực tế thì chúng lại hiểu vấn đề đến mức kinh ngạc mà nếu không chịu Trường THCS Phạm Hồng Thái 9 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. khó khai thác, người lớn chúng ta sẽ không bao giờ biết được. Một khi người lớn đã biết khai thác được những diễn biến trong lòng các em thì coi như đã là sự thành công một nửa bởi phần còn lại là sự định hướng đúng đắn cho thái độ và hành vi của các em mà thôi. * Hạn chế: Kiến thức về giáo dục giới tính còn hạn chế nhiều ở mỗi người do tâm lý truyền thống đôi khi không giải thích hết được những tò mò mà trẻ dậy thì muốn biết. Lượng kiến thức về giới tính trong chương trình dạy học còn quá ít, thậm chí chưa có ở một số khối lớp mặc dù lứa tuổi của học sinh đã có thể lĩnh hội và tiếp thu. Có thể thấy rằng, gia đình chính là cái nôi đầu tiên trong việc hình thành nhân cách của các em, một gia đình có nền tảng giáo dục vững chắc sẽ là động lực chính tạo đà cho các em phát triển và khi vào nhà trường, giáo dục tại đây sẽ tiếp nối giáo dục gia đình để trang bị thêm cho các em những kiến thức cơ bản nhằm giúp các em bước vào xã hội một cách đầy tự tin và toàn diện. Giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã hội nếu được phối hợp nhịp nhàng và thống nhất sẽ là những yếu tố vô cùng quan trọng dẫn đến thành công trong việc trang bị kiến thức và hình thành thói quen cho học sinh, chính vì vậy chỉ cần một yếu tố trong ba yếu tố trên bị “lệch pha” thì sẽ làm cho quá trình giáo dục đặc biệt là giáo dục giới tính gặp rất nhiều khó khăn. Việc trang bị cho học sinh những kiến thức về giới tính để các em có được những kỹ năng cơ bản phòng tránh các vấn đề tiêu cực trong lứa tuổi dậy thì. Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng có sự đầu tư “công phu, tỉ mỉ” hoặc nếu có thì lại “hơi” đơn điệu, gò bó. Nguyên nhân cũng do quỹ thời gian hạn hẹp, tài liệu hỗ trợ chưa phong phú, việc lồng ghép kiến thức giới tính cho phù hợp môn học phải cần tới tính sáng tạo và logic thậm chí còn phải có óc hài hước. Điều này thực sự phải là một quá trình chứ không thể tiến hành trong chốc lát, thế nên đó cũng không phải là vấn đề dễ dàng cho tất cả các giáo viên giảng dạy. Nói vậy không có nghĩa là chúng ta không làm được mà chỉ cần giáo viên đầu tư hơn một chút, nhiệt tình hơn một chút thì nhất định chúng ta sẽ thành công. Về phía phụ Trường THCS Phạm Hồng Thái 10 GV: Trịnh Thị Hiền
- Một số biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn sinh học khối 8, 9 tại trường THCS Phạm Hồng Thái, xã Eapô, huyện Cư jút, tỉnh Đăk Nông. huynh, bước đầu khi được đề nghị phối hợp giáo dục giới tính cho chính con em mình vẫn còn tỏ ra chưa đồng tình nhưng cũng không chống đối gay gắt vì trên thực tế họ cũng còn phân vân “chưa biết làm sao cho phải” nhưng khi được phân tích về nhiều mặt thì cũng thấy sự chuyển biến hơn trong tư tưởng. Đây cũng là dấu hiệu chứng tỏ tính khả quan trong việc giải quyết vấn đề đã đặt ra. Như vậy, từ những điểm thuận lợi đã đề cập, ta có thể dựa vào đó để phát huy tác dụng của đề tài còn mặt khó khăn thì cần đòi hỏi cả một hệ thống: Gia đình, nhà trường, xã hội cùng chung tay thực hiện. Dù có những mặt tồn tại và hạn chế nhất định, bản thân vẫn tin tưởng có thể áp dụng được những biện pháp giáo dục trên một cách thành công và hiệu quả cao nếu ta tiến hành từng bước, đồng bộ và hợp lý. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp: a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp: Trang bị kiến thức về giới tính cho học sinh nhằm giúp các em hiểu và phòng tránh những vấn đề tiêu cực về giới tính (yêu sớm, mang thai ngoài ý muốn, suy sụp tinh thần ). Cung cấp những biện pháp để giúp giáo viên lồng ghép kiến thức giới tính trong quá trình giáo dục. Định hướng cho phụ huynh phương pháp phối hợp với nhà trường để hoàn thiện nội dung giáo dục giới tính. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp: * Giải pháp thứ nhất: Đối với giáo viên Giáo viên cần tích cực trau dồi kiến thức đặc biệt là sự am hiểu về giới tính qua các kênh thông tin khác nhau, cần biết rõ tầm quan trọng trong việc định hướng cho học sinh nhận thức về giới tính. Giáo viên chủ nhiệm cần tăng cường việc đề cập về vấn đề giới tính thông qua các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, sinh hoạt cuối tuần với nghiệp vụ thật khéo léo tự nhiên, tránh gượng ép và mang tính qua loa. Ví như trong buổi sinh hoạt, giáo viên sẽ xem xét những vi phạm trong tuần của học sinh trong đó có Trường THCS Phạm Hồng Thái 11 GV: Trịnh Thị Hiền

