Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp hướng dẫn dạy giải bài toán có lời văn cho học sinh Lớp 2
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp hướng dẫn dạy giải bài toán có lời văn cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_huong_dan_day_giai_ba.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp hướng dẫn dạy giải bài toán có lời văn cho học sinh Lớp 2
- 3 phép tính không đúng dẫn đến kết quả sai. Số liệu khảo sát học sinh lớp 2B trước khi thực hiện đề tài sau đây cho thấy rõ điều đó” Mức đạt Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Sĩ số ND HS Số bài Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ Đánh giá Học sinh hiểu đề bài 34 6 20,4% 18 52,9% 10 26,7 % HS tóm tắt bài toán 34 5 14,8% 17 50% 12 35,2 % HS trình bày bài giảng 34 7 20,6% 18 52,9% 9 26,5% Để khắc phục những hạn chế và tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh. Tôi đã tiến hành một số biện pháp sau: 4. Các biện pháp thực hiện 4.1. Điều tra, phân loại đối tượng học sinh trong lớp Do tình hình dịch bệnh covid kéo dài các con phải học trực tuyến ngay buổi học đầu tiên Mặc dù dạy học online nhưng tôi vẫn rất chú ý đến việc nắm kiến thức của các con nhất là môn Toán. Qua điều tra đầu năm bằng việc cho các con làm bài kiểm tra, tôi đã chấm bài các con qua việc các con gửi bài trên zalo. Mặt khác qua các tiết dạy dạng bài này, tôi phân loại những em còn yếu về loại toán điển hình nào để tôi kịp thời kèm cặp các em. Lớp tôi có một số em giải toán còn yếu. Các em thường sợ làm dạng toán này. Các em không biết cách giải, hay trả lời sai, làm tính không đúng. Tôi luôn quan tâm động viên các em học sinh để các em chăm học, tích cực làm bài, các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, phán đoán tìm cách giải đúng. Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viên cho các em suy nghĩ tìm ra cách giải. Tôi thường xuyên gọi học sinh lên bảng, kiểm tra bài làm của em trên lớp, chấm chữa cùng với học sinh để củng cố kiến thức. Tuyên dương khen thưởng kịp thời bằng nhận xét khen ngợi nếu các em có cố gắng (mặc dù chưa đạt yêu cầu) để các em phấn khởi học tập, xoá đi ấn tượng sợ giải toán. Ngoài ra, tôi yêu cầu các em làm lại bài toán này ở nhà để các em yếu kém nắm vững cách giải. Lần sau gặp loại bài như thế là làm được ngay. Tôi còn yêu cầu phụ huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con học ở nhà giúp các em làm đầy đủ bài tập cô giao. Ngoài ra tôi còn giao cho những em giỏi toán ở lớp mỗi em giỏi giúp một em kém lập thành đôi bạn cùng tiến bằng cách: Giờ truy bài kiểm tra bài làm của bạn. Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương pháp giải toán.
- 4 4.2. Giảng bài mới kết hợp củng cố, vận dụng kiến thức đã học: Giảng bài mới trong tiết học Toán hết sức quan trọng. Học sinh có vận dụng luyện tập giải Toán đúng hay sai là ở chỗ này. Do vậy, trong khi dạy, tôi luôn bảo đảm truyền thụ đủ nội dung kiến thức của bài học bằng cách: - Chuẩn bị bài hết sức chu đáo, cẩn thận. Soạn bài theo đúng công văn 2345 của Bộ giáo dục trước một tuần để có thêm thời gian nghiên cứu, nắm chắc yêu cầu cần đạt của bài học. - Khi soạn bài, tôi luôn tìm hướng giảng bài mới một cách dễ hiểu nhất đối với trò mà vẫn phát huy được tư duy của trò, lấy "học sinh làm trung tâm". Không những soạn Kế hoạch bài dạy mà tôi còn rất trú trọng đến việc làm bài giảng điện tử Powerpoint trình chiếu với những hình ảnh phong phú, clip sinh động giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất. Vì vậy, kết hợp với khâu chuẩn bị bài của học sinh, trong mỗi tiết dạy bài mới, tôi cung cấp đủ nội dung bài, đồng thời khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức đã học có liên quan thực hiện phương châm "ôn cũ, học mới". Với cách thực hiện như thế, học sinh sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng mà đầy đủ kiến thức, được củng cố kiến thức cũ có hệ thống, vận dụng giải Toán sẽ linh hoạt, không bị gò ép phụ thuộc, tạo cho học sinh có thói quen chủ động tích cực trong giải Toán. * Các hình thức tổ chức thực hiện: Thảo luận trong nhóm: Học sinh đọc kĩ đề bài, nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề toán, tìm ra cách giải. Các em khá giỏi trong nhóm đưa ra một số câu hỏi để các bạn yếu hơn được trả lời, được tham gia ý kiến tìm ra cách giải bài toán. Với cách làm này học sinh mạnh dạn, tự tin vào bản thân, dần dần ham thích giải toán, để thể hiện khả năng chính mình. Vai trò của người thầy rất quan trọng. Lời phát biểu của các em dù đúng hay sai, tôi cũng phải có lời động viên hợp lý. Nếu học sinh phát biểu sai, hoặc chưa đúng, tôi động viên "gần đúng rồi, em cần suy nghĩ thêm nữa, thì sẽ đúng hơn ..." giúp các em cố gắng suy nghĩ làm bằng được, chứ không nên nói "sai rồi, không đúng ..." làm mất hứng, ức chế học sinh làm học sinh tự ti, chán học. Bước này là bước quan trọng giúp học sinh không sợ giải toán, thích thi nhau làm để khẳng định mình, từ đó có kỹ năng giải toán vững chắc với lời giải thông thường. Ví dụ 1: Trên sân có 14 con gà, số vịt nhiều hơn số gà là 5 con. Hỏi trên sân có bao nhiêu con vịt? ( Bài 2 - Trang 51 - SGK Toán 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống) + Có học sinh giải như sau : Trên sân có số con vịt là : 14 + 5 = 19 (trên sân) Đáp số : 19 trên sân
- 5 Tôi hỏi : Đơn vị của bài toán là gì ? Học sinh trả lời : Đơn vị của bài toán là con. Tôi hỏi : Vậy trong bài giải con đã ghi đúng tên đơn vị của bài toán chưa? Con hãy nêu lại câu hỏi của bài toán? Lúc này học sinh sẽ nhận ra chỗ thiếu sót trong bài giải của mình và tự sửa lỗi sai đó. Ví dụ 2: Thùng thứ nhất đựng 25 lít dầu. Thùng thứ hai đựng 30 lít dầu. Hỏi thùng nào đựng nhiều dầu hơn và nhiều hơn bao nhiêu lít ? Có học sinh giải như sau : Số lít dầu thùng đựng nhiều hơn là : 30 - 25 = 5 ( l ) Đáp số : 5 l Tôi hỏi: Ta cần tìm điều gì ? Học sinh trả lời: Thùng nào đựng nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu lít ? Tôi lại hỏi tiếp: Câu trả lời này đã nói rõ điều đó chưa ? Còn thiếu ý nào ? Lúc này học sinh sẽ nhận ra trong câu trả lời này chưa nêu được thùng nào đựng nhiều hơn và phải bổ sung và chữa vào bài giải là : Thùng thứ hai đựng nhiều hơn và nhiều hơn là : 30 - 25 = 5 ( l ) Đáp số : 5 l Bên cạnh việc cung cấp đủ trọng tâm bài học, rèn cách luyện tập thành thạo, tôi còn luôn quan tâm tới việc mở rộng, nâng cao kiến thức từ chính những bài tập trong SGK, vở bài tập toán, vở luyện tập Toán. 4.3. Dạy học sinh nắm vững kiến thức sách giáo khoa và nâng cao kiến thức cho học sinh: Thông thường giáo viên chỉ chú ý tới việc học sinh làm đủ, làm đúng các bài tập trong SGK, vở bài tập theo quy định của tiết học, nên đôi khi gặp những trường hợp khác lạ là học sinh lúng túng vì quen giải theo khuôn mẫu, ít tư duy tìm tòi sáng tạo. Vì thế để học tốt giải toán 2, tôi luôn tìm cách mở rộng ngay sau một bài tập nào đó trong số bài luyện vào buổi chiều, tuy nhiên ở mức độ hợp với trình độ học sinh trong lớp, các đối tượng tiếp thu được. Khi học sinh làm đủ 100% số bài tập quy định chưa hẳn là đã thành thạo cách giải loại toán đó, nhất là học sinh trung bình, yếu. Vì vậy, tôi đã cố gắng đưa nội dung kiến thức vào bài tập thật phong phú, đa dạng dựa vào bài tập có sẵn, vẫn xoay quanh nội dung bài vừa học hoặc vừa luyện. Bài toán đưa ra các hình thức khác nhau, tôi khai thác được tư duy của học sinh. Các dạng toán có thể thực hiện được điều này như.
- 6 * Dạng toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị - Giúp học sinh nhận ra những dấu hiệu cơ bản của từng dạng toán: + Dạng toán "nhiều hơn" dấu hiệu để nhận ra đó là các từ "chìa khóa" như: "nhiều hơn"; "cao hơn"; "dài hơn"; "nặng hơn"... + Dạng toán "ít hơn" dấu hiệu để nhận ra đó là các từ "chìa khóa" như : "ít hơn"; "thấp hơn"; "kém"; "nhẹ hơn" “ ngắn hơn” ... - Bên cạnh đó khi hướng dẫn học sinh làm các bài toán nâng cao giáo viên phải hướng dẫn học sinh hiểu được bản chất của bài toán, khắc sâu kiến thức về giải toán cho học sinh, tránh hiện tượng học sinh làm bài một cách máy móc theo mẫu (thấy "nhiều hơn" thì làm phép cộng, "ít hơn" thì làm phép trừ...). • Sau đây là các bài toán nâng cao tôi hướng dẫn học sinh: Bài toán 1 : Sợi dây màu xanh dài 35 cm, sợi dây màu xanh ngắn hơn sợ dây màu đỏ 20 cm. Hỏi sợi dây màu đỏ dài bao nhiêu xăng – ti – mét ? ( Sách tham khảo) + Để giải được bài này, tôi hướng dẫn học sinh phải hiểu rõ yêu cầu của bài toán. Đã biết sợi dây màu xanh dài 35 cm mà sợi dây màu xanh lại ngắn hơn sợi dây màu đỏ 20 cm. Lúc này học sinh sẽ hiểu là sợi dây màu đỏ dài hơn sợi dây màu xanh. Muốn tìm sợi dây màu đỏ dài bao nhiêu ta phải làm thế nào? (Tính cộng) + Học sinh phải tự phân tích đề toán và giải : Sợi dây màu đỏ dài là : 35 + 20 = 55 ( cm) Đáp số : 55 cm Với việc mở rộng kiến thức này, học sinh sẽ linh hoạt hơn khi giải toán không nhất thiết cứ nhiều hơn là phải làm tính cộng. Bài toán 2: Bao thứ nhất đựng được 25 kg gạo, như vậy bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 8 kg gạo.(Sách tham khảo) a) Tính số gạo của bao thứ hai. b) Cả hai bao đựng bao nhiêu ki –lô- gam gạo? • Giáo viên hướng dẫn học sinh giải từng phần của bài toán. a. Tính số gạo của bao thứ hai. Bài toán đã biết yếu tố gì ? (Số gạo của bao thứ nhất và biết bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 8 kg). Giáo viên giảng cho học sinh hiểu bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 8 kg nghĩa là bao thứ hai đựng nhiều hơn bao thứ nhất 8 kg.Vậy tìm số gạo của bao thứ hai ta phải làm như thế nào? - Học sinh nêu được cách làm như sau Bao thứ hai đựng số gạo là :
- 7 25 + 8 = 33( kg) Đáp số: 33 kg * Đối với học sinh khá, giỏi sẽ làm nhanh hơn, vì vậy tôi đã mở rộng bài tập này cho học sinh khá giỏi. Tuy nhiên cũng có thể có những học sinh trung bình giải quyết được, tôi rất khuyến khích. Như vậy, trong cùng một khoảng thời gian dù học sinh trung bình giải được phần này, vẫn còn một phần bài tập tiếp theo để học sinh khá, giỏi giải tiếp. Đối với học sinh giỏi tôi có thể nêu thêm: b. Cả hai bao đựng bao nhiêu ki –lô- gam gạo? - Giáo viên hỏi học sinh: Muốn tìm cả hai bao nặng bao nhiêu ta làm thế nào? - Học sinh nêu làm tính cộng lấy số gạo của bao thứ nhất cộng với số gạo của bao thứ hai. - Học sinh nêu được cách làm như sau: Cả hai bao đựng số gạo là : 25 + 33 = 58( kg ) Đáp số: 58 kg 4.4. Hướng dẫn học sinh cách trình bày bài giải. Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài, tóm tắt và tìm được cách giải thì việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải cũng rất quan trọng. - Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu được lời giải đúng, phép tính đúng, cách ghi tên đơn vị và đáp số đúng. - Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu câu trả lời cần ngắn gọn, chính xác và đúng nội dung câu hỏi của bài toán. Tìm phép tính gì? theo 3 bước: Bước 1: Viết câu lời giải - Bước 2: Viết phép tính - Bước 3: Viết đáp số. (Với bài toán đơn giải bằng 1 phép tính) Lời giải - Phép tính - Lời giải - Phép tính - Đáp số. (Với bài toán giải bằng 2 phép tính). Lưu ý học sinh - Viết phép tính: Phép tính phải viết theo hàng ngang, không được viết theo cột dọc. Không viết đơn vị kèm theo trong các phép tính mà chỉ viết đơn vị vào sau kết quả phép tính và đặt trong dấu ngoặc đơn. - Viết đáp số: Đáp số viết ở cuối bài giải, bài toán có bao nhiêu câu hỏi thì có bấy nhiêu đáp số, chỉ ghi 1 lần từ “đáp số”. Đáp số phải ngắn gọn và đủ ý trả lời cho câu hỏi của bài toán.
- 8 Ví dụ 1: Tòa nhà có 60 căn phòng. Có 35 căn phòng đã bật đèn. Hỏi còn bao nhiêu căn phòng chưa bật đèn? ( Bài 3 – Trang 93 – Sách Toán 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống) - Gọi 2-3 học sinh đọc đề bài. - Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Giáo viên nhấn mạnh 60 căn phòng là tất cả số phòng đã bật đèn và chưa bật đèn. Trong 60 căn phòng đó có 35 căn phòng đã bật đèn. Muốn tìm số căn phòng chưa bật đèn ta phải làm thế nào? - Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán. + Chữ tóm tắt lùi vào 4 ô li so với lề. + Đầu mỗi dòng tóm tắt cái cho, cái hỏi lùi vào 2 ô so với lề. + Cuối câu hỏi phần tóm tắt ghi dấu hỏi chấm. Tóm tắt: Tòa nhà có: 60 căn phòng Đã bật đèn: 35 căn phòng Chưa bật đèn: căn phòng? Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn chính xác và trình bày bài giải như sau: + Câu lời giải lùi vào 1 ô li so với lề + Phép tính lùi vào 3 ô li so với lề + Đáp số lùi vào 5 ô li so với lề Bài giải Tòa nhà còn số căn phòng chưa bật đèn là: 60 – 35 = 25 (căn phòng ) Đáp số : 25 căn phòng Ví dụ 2: Con lợn thứ nhất nặng 118kg. Con lợn thứ hai nhẹ hơn con lợn thứ nhất 7kg. Hỏi: a) Con lợn thứ hai nặng bao nhiêu ki-lô-gam? b) Cả hai con lợn nặng bao nhiêu ki-lô-gam? (Bài 239 – trang 39 - Toán nâng cao lớp 2) Bài giải: a. Con lợn thứ hai nặng số ki-lô-gam là: 118 – 7 = 111(kg) b. Cả hai con lợn nặng số ki-lô-gam là: 118 + 111 = 229 (kg)
- 9 Đáp số: a) 111 kg b) 229 kg - GV lưu ý học sinh cách viết đơn vị tính chỉ viết dấu ngoặc đơn ở phép tính Còn ở đáp số không phải viết dấu ngoặc đơn... 4.5. Hướng dẫn học sinh tìm lời giải khác. - Giáo viên tìm những câu hỏi dễ hiểu, hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh tìm ra những câu trả lời khác cho lời giải của bài toán để phát huy trí lực học sinh tạo điều kiện cho tư duy toán phát triển. Ví dụ: Một cửa hàng điện máy, buổi sáng bán được 11 máy tính, buổi chiều bán được ít hơn buổi sáng 3 máy tính. Hỏi buổi chiều cửa hàng bán được bao nhiêu máy tính? ( Bài 4 – Trang 126 – Sách Toán 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống) Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài toán. Tóm tắt đầu bài bằng lời hoặc cách vẽ sơ đồ để tìm ra cách giải đúng và nhiều cách khác. Tóm tắt Buổi sáng : 11 máy tính Buổi chiều ít ít hơn : 3 máy tính Buổi chiều : máy tính? 11 máy tính Hoặc Buổi sáng 3 máy tính Buổi chiều ?Bàimáy giải tính Bài giải Buổi chiều của hàng bán được số máy tính là: 11 – 3= 8 ( máy tính ) Đáp số: 8 máy tính - GV hỏi thêm ngoài câu trả lời trên con còn có câu trả lời nào khác không? Để khắc sâu liến thức cho học sinh. Có em sẽ giải như sau : Số máy tính buổi chiều cửa hàng bán được là: 11 – 3 = 8 ( máy tính )
- 10 Đáp số: 8 máy tính - Giáo viên có thể hỏi học sinh: Con thấy hai câu trả lời này có gì khác nhau không? ( Không khác nhau vì hai câu trả lời này cùng trả lời số máy tính của buổi chiều) Các em phải chú ý tên đơn vị của mỗi phép tính. Từ đó học sinh tìm được cách giải toán triệt để bằng nhiều cách đặt lời giải khác nhau. Học sinh nắm chắc đề toán, hiểu kỹ đề, để tìm cách giải khác có lời văn chính xác, phát triển tư duy toàn diện. 4.6. Rèn luyện kỹ năng tính toán giúp học sinh giải toán chính xác tránh nhầm lẫn khi tính toán. - Có những em nắm được cách giải đúng nhưng khi tính toán lại sai dẫn đến kết quả bài toán sai. Vậy tôi phải nhắc nhở học sinh khi làm bài phải tính toán chính xác, trình bày khoa học rõ ràng. - Nếu là phép cộng, trừ trong bảng học thuộc thì vận dụng để tìm nhanh. Nếu là các phép cộng, trừ ngoài bảng các em phải đặt tính cột dọc. Với phép nhân và phép chia, học sinh học thuộc bảng nhân, chia là bảng 2 và bảng 5. Các nhóm, đôi bạn cùng tiến thường xuyên kiểm tra nhau bằng hình thức đố toán trong giờ chơi, giờ truy bài để củng cố kiến thức cộng, trừ, nhân, chia đã học. Làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả, đúng mới viết vào bài làm. Cần rèn luyện kỹ năng tính nhẩm, tính viết thành thạo cho học sinh trong quá trình giải toán, để hoàn thiện bài giải. 4.7. Rèn cho học sinh hình thành kĩ năng, kĩ xảo, nắm được phương pháp chung về “giải toán có lời văn”. Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán. Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoá quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn từ thông thường như: “ ít hơn”, “nhiều hơn”, “tất cả” “ còn lại” Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm, sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đăt câu hỏi đàm thoại: Trong một bài toán, câu hỏi có một chức năng quan trọng vì việc lựa chọn phép tính thích hợp được quy định không chỉ bởi các dữ kiện mà còn bởi các câu hỏi. Với cùng các dữ kiện như nhau có thể đặt các câu hỏi khác nhau do đó việc lựa chọn phép tính cũng khác nhau, việc thấu hiểu câu hỏi của bài toán là điều kiện căn bản để giải đúng bài toán đó. Với học sinh dân tộc thiểu số, khả năng hiểu tiếng Việt còn hạn chế nên các em đã gặp khó khăn ngay từ bước này. Do vậy, giáo viên cần chú ý với việc kết hợp giảng giải từ và thuật ngữ toán học giúp học sinh hiểu được nội dung bài toán. Giáo viên cần dựa vào các hoạt động cụ thể của các em với vật thật, mô hình hay dựa vào hình vẽ, các sơ đồ toán học.... để giúp các em hiểu khái niệm "nhiều hơn ", "ít
- 11 hơn”, “thêm”, “bớt”,... trong tương quan giữa các mối quan hệ trong bài toán. Để kiểm tra việc học sinh hiểu nội dung bài toán như thế nào, giáo viên nên cho học sinh nhắc lại yêu cầu bài toán. Sau khi đọc bài toán, học sinh cần xác định được 3 yếu tố cơ bản của bài toán: - Những dữ kiện của bài toán: Đó là những cái đã cho, những cái đã biết của bài toán. GV nêu câu hỏi: Bài toán cho biết gì? Giáo viên nên yêu cầu học sinh tự xác định dữ kiện bằng bút chì trước rồi mới phát biểu bằng lời sau (hướng dẫn học sinh gạch chân các dữ kiện đã cho theo quy ước là một gạch) - Những ẩn số: Là cái chưa biết, là cái bài toán yêu cầu tìm. Tương tự như trên, giáo viên nên câu hỏi Bài toán hỏi gì? yêu cầu học sinh tự xác định ẩn số bằng bút chì trước rồi mới phát biểu bằng lời sau (hướng dẫn học sinh gạch chân cái bài toán yêu cầu tìm theo quy ước là hai gạch để học sinh phân biệt). Việc làm này được thực hiện thường xuyên sẽ rèn luyện cho học sinh tính tích cực, chủ động trong giải toán. - Những điều kiện của bài toán: đó là mối liên hệ giữa các dữ kiện và các ẩn số. Ví dụ: Trong can có 15 l nước mắm. Mẹ đã rót 7 l nước mắm vào các chai. Hỏi trong can còn lại bao nhiêu lít nước mắm?( Bài 5 trang 65 - SGK Toán 2 Kết nối tri thức với cuộc sống) + Cái đã cho: Trong can có 15 l nước mắm, đã rót 7 l nước mắm. + Cái cần tìm: Trong can còn lại bao nhiêu lít nước mắm? Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, GV cần dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán. Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập. Bước 2: Tìm cách giải bài toán. a. Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán. Hoạt động tìm tòi cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích các dữ kiện, ẩn số và điều kiện của bài toán nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng. Từ đó lựa chọn phép tính số học thích hợp. Hoạt động này thường diễn ra như sau: - Minh hoạ bài toán thông qua tóm tắt đề toán: Việc làm này giúp học sinh bớt được một số câu, chữ làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa các số đã cho và số phải tìm hiện ra rõ hơn. Bởi vậy cần tóm tắt thật ngắn gọn, GV chỉ cần hướng sự tập trung chú ý của HS đến những chi tiết chính của bài toán, còn những chi tiết phụ của bài toán cần gạt bỏ đi để HS không bị rối. Tóm tắt bài toán chính là sự biểu diễn cái đã cho, cái cần tìm và mối liên hệ giữa chúng. Có rất nhiều cách để tóm tắt một bài toán, có thể tóm tắt đề toán theo các cách sau: + Tóm tắt bằng lời
- 12 + Dùng sơ đồ đoạn thẳng + Dùng ngôn ngữ và kí hiệu + Dùng bảng + Dùng sơ đồ ven + Dùng hình vẽ + Dùng hình tượng trưng Tuy nhiên, với khả năng của học sinh lớp 2, chúng ta chỉ nên hướng dẫn các em các cách tóm tắt bằng lời, dùng sơ đồ đoạn thẳng hoặc dùng hình tượng trưng. Ví dụ 1: Trên giá có 9 quyển sách và 8 quyển vở. Hỏi trên giá sách có tất cả bao nhiêu quyển sách và vở? ( Bài 3 – Trang 83 Tập 1 - SGK Toán 2 – Kết nối tri thức) Tóm tắt: Sách : 9 quyển Vở : 8 quyển Tất cả có : quyển? Ví dụ 2: Buổi sáng bác Mạnh thu hoạch được 87 bao thóc. Buổi chiều bác Mạnh thu hoạch được nhiều hơn buổi sáng 6 bao thóc. Hỏi buổi chiều bác Mạnh thu hoạch được bao nhiêu bao thóc? ( Bài 4 – Trang 74 - SGK Toán 2- Kết nối tri thức với cuộc sống) Tóm tắt Buổi sáng: 87 bao thóc 6 bao thóc Buổi chiều: ? bao thóc b. Chọn phép tính giải thích hợp: Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “ phép cộng” nếu bài toán yêu cầu “ nhiều hơn” hoặc “ gộp”, “ tất cả”. Chọn “tính trừ” nếu “bớt” hoặc “ tìm phần còn lại” hay là “ ít hơn” Ví dụ 1: Mai gấp được 8 cái thuyền, Nam gấp được ít hơn Mai 2 cái thuyền. Hỏi Nam gấp được bao nhiêu cái thuyền ? ( Bài 1 trang 51 - SGK Toán 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống) Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý như: + Bài toán cho biết gì? ( Mai gấp được 8 cái thuyền)
- 13 + Bài toán còn cho biết gì nữa? (Nam gấp được ít hơn Mai 2 cái thuyền) + Bài toán hỏi gì? (Nam gấp được bao nhiêu cái thuyền ?) + Muốn biết Nam gấp được bao nhiêu cái thuyền em làm tính gì? (tính trừ) + Lấy số nào trừ với số nào? (8 - 2) + 8 – 2 bằng bao nhiêu? ( 8 - 2 = 6) Ví dụ 2: Con bê cân nặng 47 kg. Con nghé nặng hơn con bê 18 kg. Hỏi con nghé cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam ( Bài 2 - Trang 80 - SGK Toán 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống) Bài toán này giáo viên cũng hướng dẫn học sinh cách làm tương tự bài toán ở ví dụ 1. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý như: + Bài toán cho biết gì? ( Con bê cân nặng 47 kg) + Bài toán còn cho biết gì nữa? (Con nghé nặng hơn con bê 18 kg) + Bài toán hỏi gì? (Con nghé cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?) + Muốn biết con nghé cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam em làm tính gì? (tính cộng) + Lấy số nào cộng với số nào? (47 + 18) Ví dụ 3: Khi hướng dẫn học sinh tìm cách giải bài toán: “ Cắm 15 bông hoa vào các lọ, mỗi lọ 5 bông. Hỏi cắm được mấy lọ hoa như vậy?” (Bài 1 - Trang 16 - SGK Toán 2 – Kết nối tri thức), giáo viên nêu các câu hỏi như sau: - Bài toán hỏi gì? (Cắm được mấy lọ hoa?) - Bài toán hỏi về số lọ hoa được chia từ mấy bông hoa? ( Số lọ hoa được chia từ 15 bông hoa) - Muốn biết 15 bông hoa cắm được mấy lọ hoa ta phải biết gì? (Biết mỗi lọ có mấy bông hoa?) - Điều đó chúng ta biết chưa? (biết rồi), mỗi lọ cắm bao nhiêu bông hoa? (mỗi lọ cắm 5 bông hoa) - Để biết cắm được mấy lọ hoa ta làm phép tính gì? (Làm phép tính chia) c. Đặt câu lời giải thích hợp. Ví dụ: Mai gấp được 7 chiếc thuyền giấy, Toàn gấp được nhiều hơn mai 5 chiếc. Hỏi Toàn gấp được bao nhiêu chiếc thuyền giấy? ( Bài 1 trang 46 - SGK Toán 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống) Việc đặt câu lời giải ở các bài toán đơn không có gì khó khăn. Tuy nhiên, nếu để ý một chút, ta sẽ thấy nội dung câu lời giải thường có 2 phần: Phần 1 ghi cái cần tìm, phần 2 ghi phạm vi cái cần tìm biểu thị. Ví dụ: Số chiếc thuyền giấy Toàn gấp được là:

