Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3 tuổi hứng thú làm đồ dùng đồ chơi tự tạo
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3 tuổi hứng thú làm đồ dùng đồ chơi tự tạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_tre_3_tuoi_hung.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3 tuổi hứng thú làm đồ dùng đồ chơi tự tạo
- 3 - Kế hoạch nghiên cứu: Thực hiện từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 5 năm 2023. Được củng cố và thực hiện trong những năm học tiếp theo. PHẦN II. BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Những nội dung lý luận liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu. Ở lứa tuổi mầm non, hoạt động học tập và vui chơi là một “ Học mà chơi, chơi mà học”. Vui chơi giúp trẻ học tập, và đồ chơi là những dạng đồ vật không thể thiếu trong các cuộc vui chơi của trẻ. Đồ dùng đồ chơi có tác dụng lớn lao đến việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Chính những đồ chơi này giúp trẻ được thao tác, được hoạt động, trải nghiệm, được thể hiện những nhu cầu cá nhân, được phát triển cân đối hài hòa, từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện. Đối với trẻ đồ chơi là người bạn đồng hành không thể thiếu trong một trò chơi, là một trong nhiều phương tiện để trẻ thực hiện các trò chơi, chính trò chơi đã giúp trẻ tự tạo ra hoàn cảnh chơi, hình thức chơi, không gian chơi theo đúng ý tưởng của mình. Đồ chơi hết sức cần thiết đối với trẻ, nó có tác dụng và ý nghĩa thật to lớn và sâu sắc đối với trẻ độ tuổi mầm non. Hoạt động với đồ chơi vừa làm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, vừa làm cho đôi bàn tay khéo léo, rèn trí tưởng tượng, sáng tạo, đoàn kết tạo ra sản phẩm. Như vậy, đồ chơi có ý nghĩa hết sức to lớn, là phương tiện tổ chức để chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. Trong thực tế, qua nhiều năm giảng dạy tôi được tiếp xúc với trẻ, được quan sát trẻ chơi và tôi nhận thấy rằng trẻ nhỏ rất thích được chơivới nhứng đồ chơi mới lạ, đặc biệt là những đồ chơi do tự tay trẻ làm ra. Trong kho đó, những đồ chơi hiện có ở lớp lại mang tính phổ biến, hạn chế về số lượng và ít được thay đổi. Vì vậy, trẻ sẽ không phát huy được tính tích cực sáng tạo trong các hoạt động phát triển nhận thức. 2. Khảo sát thực trạng : Qua thực tế giảng dạy ở trường nơi tôi đang công tác, tôi nhận thấy việc giáo dục kỹ năng to hình ca tr còn hạn chế, trong khi tham gia các hoạt động trẻ chưa biết đoàn kết, hợp tác trong khi học và chơi. Trẻ cũng chưa biết giữ gìn các sản phẩm của mình làm ra. Trong quá trình rèn kỹ năng làm đồ chơi tự tạo cho trẻ tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau: a.Thuận lợi: Lớp học rộng rãi, thoáng mát, tạo điều kiện tốt cho trẻ hoạt động. Lớp được trang bị đầy đủ đầu đĩa, ti vi, máy tính để ứng dụng và phục vụ các hoạt động.
- 4 Ban giám hiệu luôn sát sao chỉ đạo giáo viên về chuyên môn, thường xuyên dự giờ thăm lớp để nâng cao chất lượng giảng dạy cho giáo viên. Là một giáo viên trẻ, nhiệt tình, năng động có tinh thần nhiệt tình với công việc, yêu nghề mến trẻ. Bản thân là một giáo viên có chuyên môn, luôn yêu nghề mến trẻ, ham học hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, làm một số đồ dùng đồ chơi phục vụ cho các hoạt động. b. Khó khăn: *Đối với nhà trường: Trên thực tế các lớp học đã được trang bị nhiều đồ dùng, đồ chơi hiện đại, song để phục vụ các hoạt động của trẻ ở trường theo kế hoạch của chương trình giáo dục mầm non mới thì vẫn chưa đáp ứng đủ. Đồ dùng, đồ chơi tự tạo, chưa phong phú về chủng loại, phù hợp với độ tuổi. *Đối với giáo viên: Bản thân còn lúng túng trong việc vận dụng nội dung làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo cho trẻ Chưa thực sự quan tâm xây dựng và tạo cơ hội cho trẻ hoạt động môi trường ngoài lớp học. Phương pháp tổ chức các hoạt động trong chương trình còn dựa vào bài soạn mẫu chưa sáng tạo. Chưa chuẩn bị nhiều nguyên vật liệu cho trẻ sử dụng trong khi làm đồ dùng đồ chơi, số lượng chưa phong phú về chủng loại và màu sắc. Nguyên vật liệu từ thiên nhiên hay các phế liệu đã qua sử dụng tại địa phương rất nhiều như: các loại hột hạt, rơm, cành cây khô, lá cây khô, chai nhựa, hộp bánh, vỏ chai dầu gội đầu chưa được tận dụng. *Đối với trẻ: - Kỹ năng tạo hình của trẻ còn yếu, trẻ chưa khéo léo khi tô, vẽ, dán, xếp, chưa hoạt động tích cực. *Đối với phụ huynh: Một số phụ huynh còn xem nhẹ việc học ở độ tuổi này, cho con nghỉ học tùy tiện. Sau khi lựa chọn đề tài tôi đã tiến hành khảo sát học sinh lớp tôi với tổng số trẻ là 27 và được đánh giá theo các tiêu chí sau.
- 5 c. Khảo sát thực tế lớp. Kết quả khảo sát đầu năm: Bảng khảo sát đầu năm Kết quả STT Nội dung Số Tốt Khá TB Yếu trẻ SL % SL % SL % SL % Trẻ tích cc hng 1 thú tham gia các ho 27 6 22,2% 7 25,9% 10 37,1% 4 14,8% t đng Trẻ có kĩ năng quan 2 sát và tạo ra sản 27 5 18,5% 7 25,9% 11 40,8% 4 14,8% phẩm. Trẻ có kĩ năng in, vẽ, 3 27 6 22,2% 7 25,9% 9 33,4% 5 18,5% tô màu Trẻ có kĩ năng cắt 4 27 3 11,1% 7 25,9% 10 37,1% 7 26,0% xếp, xé dán Nhìn vào bảng khảo sát trên tôi thấy những biện pháp thông thường, chưa có biện pháp mới tác động thì chất lượng đạt được trên trẻ về các mức độ chưa hứng còn ở mức rất cao, số trẻ kỹ năng quan sát tạo hình còn xếp loại trung bình và yếu nhiều. Vì vậy tôi đã suy nghĩ trăn trở làm thế nào để có biện pháp hữu hiệu nhất trong việc thực hiện nâng cao hiệu quả cho trẻ mẫu giáo 3 tuổi có kỹ năng kết hợp vẽ, tô màu, xếp dán đạt hiệu quả cao 3. Những biện pháp chủ yếu của đề tài. Trong qua trình thực hiện tồi đã thực hiện các biện pháp sau: * Biện pháp 1: Tích cực tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi tự bồi dưỡng bản thân * Biện pháp 2: Sưu tm nguyên vt liu làm đ dùng đ chơi t to phi đm bo v sinh, an toàn và có tính thm m . * Biện pháp 3: Dy trẻ làm đồ dùng đồ chơi t to trên tit hc. * Biện pháp 4: Dy trẻ làm đồ dùng đồ chơi t to ngoài tit hc. * Biện pháp 5: Kết hợp với phụ huynh trong việc dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi khi ở nhà
- 6 4. Những biện pháp thực hiện từng phần. * Biện pháp 1: Tích cực tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi tự bồi dưỡng bản thân. Để có thể thực hiện tốt hoạt động “Dạy trẻ làm đồ dùng đ chơi tự tạo” đ t hiu qu cao, thì việc tích cực tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, học hỏi tự bồi dưỡng chuyên môn là rất cần thiết, đây là biện pháp quan trọng trong việc dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi tự tạo. Để thực hiện chương trình giáo dục có hiệu quả thì đòi hỏi giáo viên phải trang bị cho mình hệ thống kiến thức phong phú chính xác, và trải nghiệm các kỹ năng giáo dục thực tế, giáo viên phải có trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp giảng dạy và tâm lý lứa tuổi thật vững chắc. Vì thế việc tự bồi dưỡng, tích lũy kiến thức cho mình lại càng quan trọng. Tôi đi sâu vào nghiên cứu, tìm tòi, tham khảo những tài liệu có nội dung ề đề tài, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, của bản thân. Tôi sưu tầm các tài liệu liên quan đến chương trình giáo dục 3 tuổi để tự nghiên cứu và tự bồi dưỡng để nâng cao kiến thức cho mình. Đi đôi với tự nghiên cứu tài liệu là học hỏi bạn bè, đồng nghiệp. Tôi cũng thường xuyên trao đổi với Ban giám hiệu, đồng nghiệp về cách tổ chức các hoạt động giúp trẻ hứng thú làm đồ dùng đồ chơi tự tạo trong các hoạt động ở trường mầm non. Thường xuyên tìm tòi sách báo, nghiên cứu và tìm hiểu thêm về lợi ích của đồ chơi tự tạo. Tham gia tốt các đợt thao giảng, dự giờ bạn đồng nghiệp để học hỏi thêm kinh nghiệm làm đồ chơi cho bản thân. Ngoài ra, tôi còn tham gia các đợt kiến tập chuyên đề do phòng tổ chức về cách làm đồ dùng đồ chơi của các trường điểm, tôi cũng nhiệt tình tham gia hội thi làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo cấp trường đ ra. Bên canh đó tôi còn tìm đọc tham khảo những cách làm đồ dùng đồ chơi đơn giản trên sách báo, mạng điện tử đ nâng cao trình đ chuyên môn và k năng làm đồ chơi tự tạo cho bn thân. Thông qua việc tự học tự bồi dưỡng tôi hiểu rằng: Để dạy trẻ hứng thú tham gia hoạt động làm đồ dùng đồ chơi tự tạo bằng các nguyên vật liệu phế phẩm thì tôi phải luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu và gần gũi trẻ. Từ đó đưa ra các phương pháp phù hợp và hình thức tổ chức linh hoạt sáng tạo nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của trẻ, giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó, áp đặt. Từ đó, giúp trẻ hiểu và biết được các đồ dùng đã qua sử dụng không phải là đã bỏ đi tất cả, từ chúng có thể làm ra được các sản phẩm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho các hoạt động học tập và vui chơi ở trường mầm non. Biết quy trình tạo ra các đồ dùng từ các nguyên liệu đã qua sử dụng như: Cách làm hoa từ giấy, cách làm hộp bút từ hộp giấy, chai nhựa, cách tạo ra các con vật ngộ nghĩnh, bông hoa đẹp từ các đĩa CD và tôi đã thực hiện và thu lại được nhiều kinh nghiệm và kĩ năng tạo ra sản phẩm đơn giản và đẹp mắt.
- 7 Như vậy, qua việc tự nghiên cứu, học hỏi đồng nghiệp bồi dưỡng bản thân và tìm hiểu qua các phương tiện thông tin hiện đại, tôi cũng đã bưc đu có ki n thc, k năng và cũng nắm được các phương pháp, hình thc để dạy trẻ làm được một số đồ dùng đồ đồ chơi tự tạo đơn giản. Chính vì vậy, mà trẻ lớp tôi có hứng thú học hơn, học có nề nếp hơn và tích cực giao lưu với cô giáo và bạn bè. Ngoài việc, tự học tự nghiên cứu để bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho bản thân, thì tôi cũng quân tâm đến vấn đề nữa đó là: * Biện pháp 2: Sưu tm nguyên vt liu làm đ dùng đ chơi t to phi đm bo v sinh, an toàn và có tính thm m . Bên cạnh nhiệm vụ học tập nghiên cứu để bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân, thì việc lựa chọn và chun b các nguyên liệu để phục vụ cho việc làm đồ dùng đồ chơi t to cũng rất đáng để quan tâm, đây là biện pháp quan trọng giúp trẻ phát huy được tính tích cực và rèn các kỹ năng làm đồ dùng đồ chơi tự tạo từ những nguyên liệu đơn giản dễ tìm. Nguyên vật liệu làm đồ chơi mầm non cho trẻ vô cùng phong phú và đa dạng, bên cạnh những gì nhà trường đã trang bị, thì ngay từ đầu năm học lớp tôi huy động các phụ huynh học sinh cùng nhau đóng góp cho “Quỹ vật liệu” của lớp. Nguồn vật liệu được lấy từ thiên nhiên và các vật liệu tái chế tìm thấy trong gia đình mà gia đình không s dng na và ph huynh cũng đã rt nhit tình ng h. Nguyên vật liệu để làm đồ chơi có thể sưu tầm dễ dàng như: Nguyên vật liệu từ thiên nhiên: Vỏ ốc, vỏ sò, rơm, gỗ, tre, trúc, lá cây, hột hạt,...những nguyên vật liệu này dễ tìm thấy và gần gũi với trẻ. Nguyên vật liệu tái chế: chai nhựa, giấy bìa, tạp chí, thùng giấy v hp s a,...Đây là nguồn nguyên liệu vô cùng phong phú, dễ kiếm để làm thành những món đồ dùng, đồ chơi đa dạng, hấp dẫn trẻ. Nguyên vật liệu mua sẵn: giấy màu, nỉ, keo, nước sơn,...Chúng rất phong phú về chủng loại. (Hình ảnh 1: Hình nh sưu tm các nguyên vt liu) Điu quan trng hơn là khi la chn các nguyn vt liu đ tr hot đng tôi cũng phi chú ý các yêu t sau: + Đm bo tính phù hp, an toàn, sch s: Phi phù hp v màu săc, kích thuc và hình dng, đm bo tính an toàn khi tr s dng, tránh vt sc nhn gây nguy him cho tr. Và đc bit là phi v sinh s
- 8 ch s nguyên vt liu trưc khi cho tr hot đng đ tranh gây đc h i nh hưng sc khe ca tr. + Đm bo tính sư phm: Vì mc đích ca nhng đ dùng đ chơi t to là phc v chính các hoat đng hc tp và vui chơi ca tr, đi u này s giúp tr hng thú hơn trong các hot đng trưng mm non. + Đm bo tính thm m, sáng to: Yêu cu giáo viên la chn đ chơi phi đp mt, ng nghĩnh đáng yêu và mt đ dùng có th s d ng đưc vào nhiu các hot đng khác nhau. + Đm bo v s lưng: Đ dùng đ chơi phi đ cho tt c tr đ u đưc hot đng cùng nhau, tranh tình trng tr có, tr không. Như v y s kích thích tr hot đng đng đu tíchcc, tìm tòi và sáng t o hơn. + Đm bo tính d s dng: Khi đưa đ dùng đ chơi vào các hot đ ng thì phi làm sao đ tr d s dng và mang li hiu qu cao cho hot đng. Thông qua, vic sưu tm các nguyên liu t thiên nhiên và nguyên li u tái ch, đã b sung cho “Qũy vt liu” ca lp tôi rt phong phú và đ a dng hơn, tôi đã phân loi, sp xp hp lý đ tr s có nhiu s l a chn hơn khi tham gia hot đng làm đ dùng đ chơi t to trư ng mm non. Tr s hng thú tham gia hot đng mt cách tích c c, sáng to hơn và đem li hiu qu cao hơn. Công vic sưu tm các nguyên vt liu, cũng rt d dàng nu như chúng ta bit huy đng s giúp đ ca mi ngưi xung quanh đ la chn đưc nhiu và đ cho tr hot đng. Nhưng khi sưu tm xong thì vic đ tr thc hin như th nào cũng là điu tôi đang băn khoăn: * Biện pháp 3: Dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi t to trên tiết học Đu năm hc, tôi quan sát tr lp mình thy k năng to hình r t kém, tr không tp trung vào các hot đng quan sát, lng nghe cô gi áo, k năng tô màu, k năng xp và dán cũng rt hn ch, nên vic rèn k năng to hình cho tr là rt quan trng. Đ giúp tr phát huy đưc tính tích cc và nm đưc các k năng to hình mt cách thành tho, thì vic t chc dy tr làm đ dùng đ chơi thông qua hoạt động tạo
- 9 hình được xem như là môi trường lý tưởng tạo điều kiện thuận lợi cho vic rèn k năng cho tr. Với hoạt động làm đồ chơi trên tiết học là hình thức học đóng vai trò chủ chốt, ở đó trẻ có thể tiếp thu các tri thức, kỹ năng theo một chương trình có tính quy lut và hệ thống Mi mt tun, thì lp tôi s t chc cho tr mt tit hc to hình, trong đó giáo viên là người hướng dẫn, củng cố kỹ năng cũ và cung cấp cho trẻ những kỹ năng tạo hình mới. Tùy vào ni dung ca bài hc, mà tôi s đưa các k năng to hình phù hp đ tr thc hin mt cách tích cc và có hiu qu. Đồ chơi của cô làm và sự dẫn dắt bằng tình huống sẽ kích thích trẻ hứng thú tham gia vào quá trình hoạt động. Với hoạt động này tôi tổ chức như một tiết học bình thường, tôi s hư ng dn, tr s thc hin theo yêu cu và làm theo kh năng ca tr. Ví dụ : Hot đng “Dy tr làm con vt tư lá cây” dạy trẻ kĩ năng ct, x p, dán. Chuẩn bị: Lá cây, kéo, keo dán, giy A4, giy màu Tiến hành: - Trưc tiên tôi cho tr quan sát và đàm thoi (cô s đt ra nhng câu h i gi m đ tr tr li) v tranh các con vt làm t lá cây. - Sau đó tôi làm mu, gii thích và hướng dẫn trẻ làm con vt bng lá cây. Đ tr nm đưc các bưc thc hin và rèn các k năng ct, xp dá n thành tho. - Tiếp theo tôi cho trẻ làm con vt bng lá cây theo s hiu bit của trẻ. Khi tr thc hin tôi s bao quát va giúp đ tr. - Cuối cùng cho trẻ sn phm của mình lên bàn trưng bày sản phẩm cho các bạn nhận xét. Sau đó tôi nhận xét chung bài của cả lớp. Với hoạt động này trẻ tỏ ra rất hăng say, thích thú với đồ chơi mà chính tay mình làm ra, qua hoạt động này trẻ sẽ có kỹ năng cắt, xếp dán thanh thạo hơn. Với sản phẩm lá cây này trẻ có thể dùng để trang trí góc to hình trong l p. ( Hình nh 2: Hình nh tr ngi làm các con vt t lá cây) Ví dụ : Hot đng: Dạy trẻ làm hoa từ giấy màu. Chun b: Giấy màu, keo, kéo, băng dính hai mặt và một số nguyên vật liệu khác để tạo ra sản phẩm theo ý tưởng của trẻ. Tin hành:
- 10 - Cô cho tr quan sát và đàm thoi v nhng bông hoa đưc làm t qu giấy màu. (cô s đt ra nhng câu hi gi m đ tr tr li) - Thảo luận và hi ý tưng ca tr s làm hoa giấy như th nào?. Qua vi c tho lun hi ý tưng ca tr đ phát trin tư duy, óc sáng to cho tr. - Cho trẻ lựa chọn nhóm để hoàn thiện sản phẩm. Trong quá trình làm chúng tôi quan sát nhắc trẻ phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm, những kỹ năng cắt, vẽ, gắn, dán để trẻ hoàn thiện sản phẩm của mình. - Trẻ làm xong chúng tôi cho trẻ mang sản phẩm của mình lên bàn trưng bày cho các bạn nhận xét, sau đó cô nhận xét chung bài của cả lớp. Với hot đng làm hoa từ giấy màu này s rèn k năng ct dán cho tr và nhng sn phm này trẻ có thể dùng để trang trí lớp học, dùng trong hoạt động góc, trong học toán. ( Hình nh 3: Hình nh tr ngi làm hoa từ giấy màu) Ngoài ra, tôi s lên k hoch dy tr làm đ dùng đ chơi theo tun, tháng đ phù hp vi ni dung giáo dc và trong quá trình trẻ làm đồ dùng đồ chơi trên tiết học, trẻ sẽ dần hoàn thiện những kỹ năng tạo hình từ đơn giản đến phức tạp, tư duy, sự tưởng tượng và nhận thức của trẻ sẽ ngày một nâng cao dần. Vic thc hin rèn k năng to hình như: v, tô màu, nn, ct, xp và xé dán, ...cho tr là rt quan trng, nhưng điu đó vn chưa đ nên tôi nghĩ cn dy tr mi lúc, mi nơi. * Biện pháp 4: Dạy trẻ làm đồ dùng đ chơi t to ngoài tiết học Với các hoạt động ngoài giờ học chính này, thì tôi còn phải tạo nhiều cơ hội cho trẻ được thực hành, trải nghiệm thông qua nhiều hoạt động. Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của trẻ hầu hết là nhằm rèn luyện, củng cố những kỹ năng đã học, khuyến khích trẻ vận dụng những kỹ năng cũ để sáng tạo ra những sản phẩm mới có thể là trẻ tự tưởng tượng hoặc cô có thể gợi ý. Và có th thc hi n các hoạt động khác trong ngày một cách hợp lý như khi đi dạo chơi ngoài trời, trong các hoạt động góc hay trong các hoạt động ôn luyện buổi chiều, trong các hoạt động đón trả trẻ.... Ví dụ: Trong giờ đón trẻ, khi phụ huynh đưa trẻ đến lớp tôi sẽ trò chuyện, giới thiệu với trẻ về các nguyên liệu phế phẩm, để trẻ có thể biết lợi ích của các nguyên liệu tái chế. Đây không phải là những thứ bỏ đi, mà sau khi được cô và
- 11 trẻ tái sử dụng có thể trở thành những đồ dùng đồ chơi đẹp, phục vụ cho các hoạt động ở trường mầm non. Ví dụ: Trong giờ hoạt động ngoài trời: Làm con trâu từ lá cây. Cho trẻ nhặt những chiếc lá rụng và hướng dẫn trẻ từ những chiếc lá đó có thể làm được rất nhiều đồ chơi, các con có thể cuộn dọc lá rồi dùng dây buộc lại làm con cào cào, con trâu... hoặc cuộn lá lại để làm những chiếc kèn thổi rất hay, hoặc có thể ngoài ra dùng bút để vẽ các chấm tròn lên hòn đá để làm con bọ rùa, con cá Từ những gợi ý như vậy trẻ vừa được tham gia vào hoạt động dạo chơi, lao động lại vừa góp phần làm sạch sân trường và đặc biệt trẻ làm được một đồ chơi do chính tay mình làm ra, trẻ sẽ rất hứng thú và tham gia một cách rất tích cực. Hoạt động dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi luôn được trẻ ủng hộ và tham gia nhiệt tình. ( Hình nh 4: Hinh nh tr ngi làm đồ chơi ở hoạt động ngoài trời) Ngoài ra, trong hoạt động góc lp tôi còn xây dng “Góc sáng to” v i rt nhiêu nhng nguyên liu tái ch, nguyên liu thiên nhiên đã đư c tôi chun b sn như: vỏ hộp sữa, quả thông khô, lõi giấy vệ sinh, các loại hột hạt, giấy báo đã qua sử dụng, hộp giấy, cành cây.... đ phục vụ cho tr có th hot đng tích cc và hiệu quả nhất. Tuy đó chỉ là những đồ chơi rất đơn giản nhưng đây là một việc làm hết sức ý nghĩa đối với trẻ như: Cho trẻ làm con chuồn chuồn từ thìa sữa chua, bông hoa từ các hạt bí, đá màu sắc, nắp chai lọ, vỏ hến làm con bướm Sản phẩm của trẻ làm ra vừa để ngắm vừa là một món quà độc đáo của trẻ nhỏ dành cho người thân bằng chính sức lao động và khả năng cùa mình, lại vừa thoả mãn chính nhu cầu chơi của trẻ. Bên cạnh việc tìm kiếm vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, vào các buổi chiều cô cho trẻ xem các video hướng dẫn làm đồ dùng đồ chơi tự tạo bằng nguyên vật liệu thiên nhiên, nguyên vật liệu phế thải để tạo hứng thú cho trẻ. Khi cho trẻ xem video cô và trẻ cùng trao đổi thảo luận về nguyên vật liệu để làm ra các loại rau, củ quả, túi xách, bộ ấm chén, các dụng cụ âm nhạc từ hợp sữa . Đồng thời chúng tôi cũng thường đưa ra những câu hỏi để kích thích tư duy của trẻ. Sau khi xem xong video, chúng tôi thường chuẩn bị nguyên vật liệu để trẻ thực hiện một số đồ dùng mà trẻ vừa được xem.. ( Hình nh 5: Hình nh trưng bày các sn phm đô dùng đ chơi t t o) Như vậy, việc dạy trẻ làm đồ chơi không chỉ có thể tổ chức trên tiết học mà còn có thể tổ chức ngoài tiết học. Hoạt động dạy trẻ làm đồ chơi luôn được trẻ ủng hộ và tham gia khá nhiệt tình.
- 12 * Biện pháp 5: Kết hợp với phụ huynh trong việc dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi khi ở nhà. Để thực hiện tốt hoạt động dạy trẻ làm đồ chơi là nhờ một phần không nhỏ của các bậc phụ huynh tham gia đóng góp nguyên vật liệu đó qua sử dụng như : Lõi giấy vệ sinh, chai dầu gội đầu, dầu rửa bát, đĩa CD, cốc giấy... để cho cô giáo và trẻ cùng làm đồ chơi phục vụ cho các hoạt động. Và để làm được điều này tôi phải xây dựng bài tập dạy trẻ làm đồ chơi, lên kế hoạch cụ thể, cô hướng dẫn rõ ràng, dễ hiểu về dạy trẻ làm đồ chơi nào đó và phụ huynh có thể cùng tham gia, phối kết hợp với giáo viên dạy trẻ làm đồ dựng đồ chơi ngay cả khi ở nhà. Sự phối kết hợp giữa gia đình và cô giáo được chặt chẽ hơn thông qua việc trao đổi, cùng tìm và lựa chọn nguyên vật liệu thiên nhiên, cùng thực hành trải nghiệm với con. Giúp trẻ hạn chế tối đa việc xem điện thoại, ti vi, chơi điện tử hay những trò chơi bạo lực. Phát huy tối đa tính chủ động, tích cực, sáng tạo của trẻ, giúp trẻ năng động hơn. Ngoài ra, tôi thường xuyên mời phụ huynh tham quan góc học tập, xem các đồ chơi do chính tay trẻ làm để phụ huynh thấy được rằng con em mình hoàn toàn có thể làm được đồ chơi từ những nguyên vật liệu thiên nhiên đó qua sử dụng. Bên canh đó tôi thường xuyên trao đổi trực tiếp với phụ huynh một số kiến thức về việc dạy trẻ làm đồ chơi trong các giờ đón và trả trẻ, từ đó phụ huynh có thể đóng góp những nguyên vật liệu thiên nhiên đó qua sử dụng cho nhà trường. ( Hình nh 6: Hình nh trao đổi giữa giáo viên và phụ huynh) Tôi đã tạo mối quan hệ giữa giáo viên và phụ huynh ngày càng khăng khít thân mật, phụ huynh có nhiều chuyển biến, nhiệt tình hơn trong hoạt động học tập của con em mình. Phụ huynh ngày càng có ý thức phối hợp tìm các nguyên vật liệu sẵn có làm cho nguồn nguyên liệu để trẻ tham gia hoạt động làm đồ dùng đồ chơi tự tạo phong phú hơn. Từ đó khơi gợi sự sáng tạo, say mê học hỏi góp phần rèn các kỹ năng tạo hình cần thiết cho trẻ. Qua đó sẽ giúp trẻ được rèn luyện các kỹ năng hoạt động thực tiễn, thói quen làm việc một cách tự giác, tích cực. PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận chung: Với những biện pháp nêu trên đã giúp tôi xác định được rõ mục tiêu và tầm quan trọng của việc dạy trẻ 3 tuổi làm đồ chơi. Qua đó giúp trẻ thấy mạnh dạn tự tin hơn nhiều, tr bit yêu quý, tôn trng và gi gìn sản phẩm của
- 13 mình làm ra, giúp tr phát huy được tính tích cực sáng tạo, trẻ thấy yêu thích khi đến lớp học, cô giáo thấy tự tin nhiệt tình say mê và yêu nghề hơn. Bản thân tôi có thêm nhiều kinh nghiệm trong công tác dậy trẻ làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như trong việc trang trí nhóm lớp. Trẻ lớp tôi rất hứng thú với hoạt động này, trẻ sáng tao hơn, linh hoạt hơn trong hoạt động tạo hình, thông qua việc dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi trẻ khám phá ra nhiều điều mới lại trong cách cắt dán trang trí, phát huy tốt những khả năng và sở trường của mình. Qua đó giúp trẻ biết rung động trước cái đẹp, thêm yêu thiên nhiên và thân thiện với môi trường. Trẻ được phát triển toàn diện, tự tin, năng động hơn. Phối hợp tốt với phụ huynh, tạo mối quan hệ gắn bó thân thiết giữa gia đinh và nhà trường, đông tâm hướng tới mục tiêu chung. 2. Kết quả thực hiện so sánh và đối chứng. * Như vậy, qua một năm đi sâu và thực hiện nghiên cứu đề tài và tiến hành một số biện pháp dạy trẻ làm đồ chơi, tôi đã tìm ra những biện pháp tích cực phù hợp để nâng cao hiệu quả giảng dạy của cô và chất lượng học tập của trẻ ở hoạt động làm đồ chơi, kết quả thu được như sau: Bảng khảo sát đầu năm Kết quả STT Nội dung Số Tốt Khá TB Yếu trẻ SL % SL % SL % SL % Trẻ tích cc hng 1 thú tham gia các ho 27 6 22,2% 7 25,9% 10 37,1% 4 14,8% t đng Trẻ có kĩ năng quan 2 sát và tạo ra sản 27 5 18,5% 7 25,9% 11 40,8% 4 14,8% phẩm. Trẻ có kĩ năng in, vẽ, 3 27 6 22,2% 8 29,7% 7 25,9% 6 22,2% tô màu Trẻ có kĩ năng cắt 4 27 3 11,1% 7 25,9% 10 37,1% 7 25,9% xếp, xé dán Bảng kết quả so sánh cuối năm của lớp tôi như sau: Xếp loại STT Nội dung Số Tốt Khá TB Yếu trẻ SL % SL % SL % SL %

