Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi hứng thú với hoạt động khám phá khoa học

docx 14 trang Chăm Nguyễn 26/02/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi hứng thú với hoạt động khám phá khoa học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_tre_3_4_tuoi_hun.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi hứng thú với hoạt động khám phá khoa học

  1. NỘI DUNG SÁNG KIẾN I.CƠ SỞ LÝ LUẬN: Trước tốc độ phát triển của khoa học và công nghệ, giáo dục trẻ em nói chung và giáo dục mầm non nói riêng cũng không ngừng nghiên cứu đổi mới phương pháp, nội dung dạy học để đáp ứng nhu cầu dân trí của thời đại. Chương trình đổi mới cho phép người giáo viên phát huy hết khả năng linh hoạt và sáng tạo của mình trong việc vận dụng những hiểu biết, những tri thức khoa học vào việc giáo dục trẻ. Từ những tính chất vật lí, hoá học của những sự vật hiện tượng quen thuộc trong tự nhiên mà chúng ta có thể tiến hành những thí nghiệm nhỏ,những trò chơi khoa học vui. Qua đó, trẻ mầm non bắt đầu được tìm hiểu những điều kì thú trong thế giới xung quanh, được tận mắt nhìn thấy những biến hoá của sự vật hiện tượng mà có lẽ trẻ tưởng chừng chỉ có trong những câu chuyện cổ tích. Hơn thế, nhờ những thí nghiệm có tính minh chứng này, chúng ta có thể áp dụng vào trong giảng dạy để giải thích cho trẻ một cách rõ ràng và thuyết phục về đặc tính của sự vật hiện tượng, đáp ứng được nhu cầu khám phá của trẻ, vừa kích thích khả năng tư duy tiềm ẩn trong mỗi cá thể trẻ. Từ đó giúp trẻ có nhiều kiến thức về hoạt động khám phá. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tôi mạnh dạn đưa ra: “Một số biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi hứng thú với hoạt động khám phá khoa học”. Tôi đã trực tiếp áp dụng vào lớp mình. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 1. Đặc điểm tình hình chung - Trường mầm non Bách Khoa có 12 lớp mẫu giáo và 3 lớp mẫu giáo bé. - Là ngôi trường có khung cảnh sư phạm đẹp, sân chơi rộng rãi, sạch sẽ. Trường mới được xây, phòng lớp rộng rãi, được đầu tư nhiều đồ dùng, đồ chơi, các trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, được đầu tư tương đối đầy đủ. - Năm học 2020 - 2021 tôi được Ban giám hiệu trường phân công phụ trách lớp mẫu giáo bé C3 với tổng số học sinh là 28 cháu, trong đó : + 13 cháu gái + 15 cháu trai.
  2. - Lớp có 2 giáo viên; 100% giáo viên có trình độ trên chuẩn - Lớp được sự quan tâm của BGH đã đầu tư đầy đủ những trang thiết bị cần thiết phục vụ cho các hoạt động trong trường mầm non. - Phụ huynh của trẻ rất nhiệt tình. Với tình hình thực trạng như trên trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau: 2.Thuận lợi : - §­îc sù quan t©m t¹o ®iÒu kiÖn vÒ mäi mÆt cña Ban gi¸m hiÖu nhµ tr­êng ®Çu t­ vÒ c¬ së vËt chÊt, còng nh­ båi d­ìng chuyªn m«n nghiÖp vô cho gi¸o viªn. - B¶n th©n t«i, lµ mét gi¸o viªn ®· nhiÒu n¨m kinh nghiÖm trong c«ng t¸c ch¨m sãc gi¸o dôc trÎ, lu«n t©m huyÕt víi nghÒ, cã lßng nhiÖt t×nh, ham häc hái, cã tinh thÇn tr¸ch nhiÖm cao trong c«ng viÖc. - 100% gi¸o viªn t¹i líp biÕt ®¸nh m¸y tÝnh thµnh th¹o. - Tr­êng t«i cã nhiÒu phßng häc s©n ch¬i réng r·i tho¸ng m¸t cã nhiÒu ®å dïng ®å ch¬i thuËn lîi cho c« vµ cho trÎ ho¹t ®éng víi m«n v¨n häc. - Phô huynh quan t©m ho¹t ®éng cho trÎ làm quen víi v¨n häc trong tr­êng mÇm non. 3. Khó khăn: - MÆc dï ë cïng ®é tuæi nh­ng kh¶ n¨ng nhËn thøc vµ sù tËp trung chó ý cña mçi trÎ kh«ng ®ång ®Òu. - Mét sè trÎ ph¸t ©m cßn ngäng ch­a ®ñ tõ, ®ñ c©u, cßn lóng tóng khi giao tiÕp. Nh÷ng khã kh¨n nµy lµm cho trÎ thiÕu tù tin trong giao tiÕp nªn trÎ ngµy cµng Ýt cã c¬ héi ph¸t triÓn ng«n ng÷. - Thêi gian cho viÖc t¹o m«i tr­êng ho¹t ®éng, t×m tßi vµ kh¸m ph¸ c©u chuyÖn ngoµi ch­¬ng tr×nh cßn h¹n chÕ, kÜ thuËt sö dông vi tÝnh cßn gÆp khã kh¨n. - Trong qu¸ tr×nh ho¹t ®éng nhiÒu lóc c« ch­a ph¸t huy hÕt tÝnh s¸ng t¹o cña trÎ, ch­a t¹o cho trÎ tù rÌn luyÖn vµ ph¸t triÓn ng«n ng÷ qua viÖc cho trÎ thÓ hiÖn giäng nh©n vËt, tù kÓ l¹i chuyÖn vµ kÓ chuyÖn s¸ng t¹o.
  3. - §«i khi c« cßn lóng tóng trong khi sö dông ®å dïng nhÊt lµ nh÷ng lóc c¸c nh©n vËt xuÊt hiÖn cïng mét lóc trong ®o¹n chuyÖn v× vËy mµ ch­a diÔn t¶ hÕt t×nh huèng x¶y ra trong ®o¹n chuyÖn, g©y khã kh¨n cho viÖc gióp trÎ hiÓu néi dung chuyÖn. XuÊt ph¸t tõ nh÷ng thuËn lîi vµ khã kh¨n trªn, t«i ®· ¸p dông mét sè biÖn ph¸p sau: III. CÁC BIỆN PHÁP: A. Tạo môi trường học tập, rèn luyện cho trẻ: 1. Biện pháp 1: Xây dựng cơ sở vật chất Khám phá khoa học không chỉ nói và phân tích là đưa ra được kết quả. Đặc biệt đối với trẻ mầm non, phải sử dụng đồ dùng trực quan và hành động, việc làm cụ thể mới thu hút được sự chú ý, tìm tòi của trẻ. Để làm được bất kì thí nghiệm nào đều cần phải có đầy đủ đồ dùng, dụng cụ của thí nghiệm đó. Hiểu rõ được tầm quan trọng của cơ sở vật chất trong việc tạo ra các thí nghiệm trực tiếp cho trẻ quan sát, ngay từ đầu năm học tôi đã thực hiện một số việc sau: - Khảo sát cơ sở vật chất ngay từ khi được nhận lớp. - Được nhà trường cung cấp cho một số đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho các giờ khám phá được sinh động và hấp dẫn. Trẻ thích thú với các đồ dùng hiện đại giúp trẻ hứng thú hơn trong hoạt động - Phối hợp với phụ huynh trong lớp bổ sung thêm một số đồ dùng phục vụ môn khám phá khoa học: Kính lúp, nam châm, tranh ảnh đặc thù - Tạo môi trường lớp học ngăn nắp gọn gàng, sắp xếp khoa học, sử dụng các sản phẩm của trẻ để trang trí lớp. - Sưu tầm tranh ảnh, nhạc, video thực hành các thí nghiệm, các hình ảnh khám phá khoa học ngộ nghĩnh phù hợp với trẻ để trang trí lớp. 2. Biện pháp 2: Hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm trong các hoạt động hàng ngày. Làm thí nghiệm ở trường mầm non được chúng tôi hướng dẫn trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Bởi nếu như khám phá chỉ được dạy ở một hoạt dộng trong tuần thì quá ít. Nó không thể nào kích thích trí tò mò, ham hiểu biết của trẻ. Chính vì vậy tôi
  4. đã đưa những thí nghiệm đó lồng ghép vào các hoạt động hàng ngày như: hoạt động góc, hoạt động ngoài trời để trẻ được trải nghiệm, thí nghiệm nhiều. 2.1. Trong giờ hoạt động học: a. Nến cháy nhờ gì? * Mục đích – Yêu cầu: - Cần cho trẻ nhận biết không khí xung quanh. - Trẻ nhận biết nến cháy nhờ có khí ôxi. Khi khí ôxi hết thì nến sẽ bị tắt. * Chuẩn bị: - Nến, bật lửa, đất sét dẻo, chậu nước. - Vại thuỷ tinh lớn và nhỏ. * Tiến hành: Bước 1: - Cho trẻ quan sát và gọi tên các đồ dùng của cô đã chuẩn bị. - Hỏi trẻ: gắn nến lên đĩa bằng cách nào? - Sau khi gắn xong đặt đĩa nến vào 1 cái chậu. Bước 2: - Cô đổ nước vào trong chậu . Nến phải cao hơn so với mặt nước. Hỏi trẻ: vì sao cây nến phải cao hơn mặt nước?(để khi đốt nến, nến không bị nước làm tắt ) - Cô lấy vại thuỷ tinh nhỏ ( cao hơn cây nến ). Gắn vào mép lọ 2 cục đất sét to. - Hỏi trẻ: cô sẽ làm gì tiếp? Bước 3: Cô thắp nến lên.Cô đặt úp lọ thuỷ tinh lên cây nến. Dùng bút lông đánh dấu mặt nước dâng lên trong lọ thuỷ tinh - Hỏi trẻ: vì sao phải gắn đất sét vào miệng lọ thuỷ tinh? (để nước tràn vào lọ) - Cho trẻ quan sát hiện tượng xảy ra: cây nến cháy một lúc rồi sẽ tắt. Và nước trong lọ sẽ dâng cao lên trong lọ thuỷ tinh. * Giải thích: khi nến cháy,nó chỉ lấy khí oxi trong lọ. Khi khí oxi cháy hết thì nến tắt, nước bị khí áp bên ngoài đẩy lên trong lọ. - Cho trẻ thí nghiệm tương tự với lọ thuỷ tinh nhỏ hơn và to hơn. Quan sát và rút ra kết luận. b. Các lớp chất lỏng: * Mục đích - Yêu cầu:
  5. - Trẻ biết phân biệt lớp chất lỏng khác nhau: dầu, nước, siro. - Nhận biết lớp siro nặng hơn nước nên chìm xuống dưới. Lớp dầu nhẹ hơn nước và siro nên nổi lên trên cùng. Còn lớp nước ở giữa - Nhận biết một số chất liệu: nhựa, gỗ, kim sắt, cao su nổi ở lớp chất lỏng nào : nước, siro, dầu để rút ra kết luận. * Chuẩn bị: - 1 chai dầu ăn, 1 chai nước, 1 chai siro, 3 ly thuỷ tinh, khay. - Các vật liệu:cao su, sỏi, đồ nhựa, sắt. - Các thẻ màu đỏ ,trắng, vàng. * Tiến hành: Bước 1: - Cho trẻ quan sát và gọi tên 3 chai chất lỏng: dầu, nước, siro. - Mỗi chất lỏng cô dùng 1 miếng nhựa màu tương ứng với màu chất lỏng: miếng nhựa đỏ, vàng, trắng. Bước 2: - Cho trẻ chọn chất lỏng thứ 1 nào đổ vào ly trước. Và chọn miếng nhựa có màu tương ứng gắn lên bảng. - Cô cho trẻ chọn chất lỏng thứ 2 và đổ vào ly. Và trẻ tự đoán nó sẽ đứng ở chỗ nào trong cái ly. Chọn thẻ nhựa có màu tương ứng gắn tiếp lên bảng. Cô cho trẻ quan sát lớp chất lỏng thứ 2 nó đứng ở vị trí nào trong cái ly có đúng như dự đoán của trẻ không. - Làm tương tự với chất lỏng thứ 3. -Cho trẻ quan sát vị trí các lớp chất lỏng ở trong ly để rút ra kết luận: (lớp siro nặng hơn nước nên chìm xuống dưới cùng. Lớp nước nhẹ hơn siro nhưng nặng hơn dầu nên ở giữa. Lớp trên cùng là lớp dầu vì nhẹ hơn lớp nước và lớp siro). Bước 3: Cho trẻ chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm tự chọn vị trí xếp thẻ nhựa khác với lúc đầu. Rồi mỗi nhóm sẽ đổ thứ tự các lớp chất lỏng theo như đã chọn và mang ly chất lỏng vừa đổ lên cùng quan sát xem các lớp chất lỏng có đứng ở đúng vị trí đó không?
  6. - Trẻ tự rút ra kết luận: chất lỏng dù đổ loại nào trước thì nó vẫn đứng theo thứ tự siro, nước, dầu. Và trẻ lên gắn lại thứ tự thẻ nhựa theo đúng vị trí các chất lỏng trong ly. *Mở rộng: Cho trẻ thả một số vật: cao su, nhựa, sỏi, gỗ, sắt và quan sát xem nó nổi hoặc chìm ở lớp chất lỏng nào và tự rút ra kết luận. 2.2. Trong giờ hoạt động ngoài trời a. Làm một cầu vồng: * Mục đích - Yêu cầu: - Ánh sáng đi xuyên qua nước( chất trong suốt). * Chuẩn bị: - Một cái chậu, 1 miếng bìa trắng. - Kính soi, kính lúp. * Tiến hành: Bước 1: - Chọn 1 ngày trời nắng, đổ nước đầy vào trong 1 cái chậu. - Để cái gương vào trong chậu nước. Để làm sao cho ánh sáng mặt trời rọi vào trong gương. Bước 2: - Đưa miếng bìa trắng ra trước cái gương và di chuyển nó cho đến khi cầu vồng xuất hiện trên tấm bìa ( hoặc điều chỉnh vị trí gương cho đúng). Khi gương và tấm bìa đã đúng vị trí , ta có thể dùng đất sét gắn chặt cái gương lại. - Hỏi trẻ: thấy hình gì trên tấm bìa? - Khi nào thì mới có cầu vồng? * Giải thích: ánh sáng mặt trời rọi vào cái gương qua lớp nước bị tách ra thành các luồng sáng ( các màu ), phản chiếu ngược lại lên tấm bìa khiến ta nhìn thấy 1 hình ảnh giống như cầu vồng. Bước 3: -Thử thêm: để 1 kính lúp vào giữa gương và tấm bìa. -Cho trẻ quan sát hiện tượng: cầu vồng biến mất
  7. * Giải thích: do ánh sáng phản chiếu lên tấm bìa bị chặn bởi kính lúp tạo thành một luồng sáng trắng ( mất màu ) nên cầu vồng biến mất. b.Thả cá vào chậu: * Mục đích - Yêu cầu: - Trẻ nhận biết với tốc độ nhanh, ánh sáng có thể làm ta không nhận rõ được các vật. * Chuẩn bị: - Vẽ hình 1 con cá và 1 cái chậu lên 2 mặt bìa hình tròn bằng nhau. - 1 cây que, băng keo. * Tiến hành: Bước 1:- Dùng băng keo dán dính 2 miếng bìa con cá và cái chậu , kẹp cây que ở giữa. Bước 2: - Kẹp cây que vào lòng bàn tay. Xoay que chạy tới chạy lui thật nhanh. Kết quả là con cá xuất hiện trong cái chậu. - Có thể cho trẻ làm nhiều hình khác nhau: con chim và cái lồng, con khỉ và cành cây. 2.3. Trong giờ hoạt động góc: a. Cuộc chạy đua cua ba cây nến: * Mục đích - Yêu cầu: - Cần cho trẻ nhận biết không khí xung quanh. - Trẻ nhận biết nến cháy nhờ có khí ôxi. Khi khí ôxi hết thì nến sẽ bị tắt. - Trẻ rút được ra nhận xét : cây nến nào cháy lâu nhất, tại sao ? * Chuẩn bị : - 3 cây nến, bật lửa. - 2 vại thuỷ tinh lớn và nhỏ. * Tiến hành: Bước 1: - Cho trẻ quan sát và gọi tên các đồ dùng của cô đã chuẩn bị. - Hỏi trẻ: gắn cây nến lên đĩa bằng cách nào?
  8. - Khi gắn xong đặt 1 đĩa nến ở ngoài, 1 đĩa còn lại được đậy bởi 1 cái vại nhỏ. - Cô hỏi trẻ : hiện tượng gì xảy ra ? cây nến nào cháy lâu hơn ? Bước 2: - Cô tiếp tục đốt 1 cây nến nữa và úp lên bởi cái vại lớn. Cô hỏi trẻ : hiện tượng gì xảy ra ? cho trẻ dự đoán cây nến nào cháy lâu nhất trong 3 cây nến Bước 3: - Cô cho trẻ quan sát cho đến khi 2 cây nến ở trong vại tắt dần. Cho trẻ rút ra kết luận. * Giải thích : Cây nến với nhiều không khí xung quanh có thể tiếp tục cháy sau khi hai cây nến ở trong vại đã tắt. Cây nến trong vại lớn có nhiều không khí hơn nên sẽ cháy lâu hơn cây nến trong vại nhỏ. b. Thí nghiệm quả trứng quay: * Mục đích - Yêu cầu : - Trẻ nhận biết khi một vật đứng yên rồi bất ngờ chuyển động sẽ ngã về phía sau. Hoặc khi đang chạy dừng lại đột ngột thì sẽ bị chúi về phía trước (quán tính). * Chuẩn bị: - 1 quả trứng luộc và 1 quả trứng sống. - 2 cái dĩa (2 khay). * Tiến hành: Bước 1: - Cho trẻ quay tròn cùng lúc 2 cái trứng sống và luộc - Cho trẻ quan sát và đoán xem là quả trứng sống hay quả trứng luộc quả nào quay lâu hơn (quả trứng quay lâu hơn là quả trứng luộc) * Giải thích: lòng đỏ (trứng sống) có ruột là một khối chất lỏng sẽ dễ bị dồn về trước hoặc sau khi quay hơn lòng đặc (trứng luộc). Sự kiện này làm chậm quả trứng sống lại nên nó ngừng quay trước quả trứng luộc. Bước 2: - Cho trẻ quay cùng lúc 2 quả trứng rồi dùng tay giữ chúng lại rồi thả ngay ra. - Cho trẻ quan sát và đoán xem quả trứng nào quay lâu hơn (quả trứng sống quaylâu hơn, quả trứng luộc thì đứng yên)
  9. * Giải thích: khi chặn 2 quả trứng lại và thả ra thì chất lỏng trong quả trứng sống vẫn còn chuyển động. Sự vận chuyển này khởi động cho quả trứng quay lại. * Mở rộng: Khi đi xe, nếu xe khởi động đột ngột. Sức quán tính của bạn kéo bạn giật ngược lại đằng sau (bạn chưa chuyển động và thân thể bạn muốn ở yên). Nếu người lái xe dừng lại đột ngột, bạn sẽ bị chúi người về phía trước (vì quán tính của bạn cưỡng lại sự dừng, thân thể bạn không muốn dừng chuyển động). Nịt ghế giúp giữ cho bạn vượt qua sức quán tính của bản thân và giữ chặt bạn với ghế ngồi. 3. Biện pháp 3: phối kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh. - Đối với trẻ mầm non dễ nhớ lại nhanh quên, nếu không được luyện tập thường xuyên thì sau 2-3 ngày trẻ sẽ không nhớ được những điều cô dạy, hay chỉ nhớ chút ít. Vì thế tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh vào giờ đón trả trẻ để hiểu thêm về các con và phụ huynh cũng biết con mình được học gì và giúp con luyện tập thêm hay thực hiện một số thí nghiệm đơn giản ở nhà. Để bố mẹ và các con cùng được thử sức với thí nghiệm đó, bố mẹ cùng con cái chơi và làm thí nghiệm thì chắc chắn trẻ sẽ rất vui và thích thú. Vì vậy sau mỗi giờ học thí nghiệm tôi luôn ghi lại những đồ dùng cách thực hiện thí nghiệm đơn giản mà phụ huynh có thể chuẩn bị được để thực hiện ngay tại nhà. Tôi giới thiệu những thí nghiệm trẻ đã được làm trên lớp cho phụ huynh nắm rõ và về nhà cho trẻ thực hiện và trẻ được ôn luyện củng cố sâu hơn. IV. KÕt qu¶ ®¹t ®­îc: Nhờ việc áp dụng vào thực hiện các hình thức “ Gây hứng thú cho trẻ vào hoạt động khám phá khoa học”. Như đã nêu trên : Tôi thấy đã đạt được những kết quả sau: * Về phía trẻ: - Trẻ háo hức và rất chú ý lắng nghe từ đầu đến cuối giờ học, vì vậy trẻ rất hiểu nội dung bài học; trẻ nhớ được tên sự vật và hiện tượng mà mình vừa khám phá, trẻ biết quan sát và trả lời các câu hỏi của cô rõ ràng, rành mạch - Thông qua các hoạt động của môn khám phá khoa học tôi đã khắc phục được đáng kể tình trạng nói ngọng, nói lắp ở trẻ, làm cho trẻ có khả năng diễn đạt mạch lạc khi nói về các hiện tượng tự nhiên đơn giản. Cũng qua khám phá khoa học mà
  10. nhân cách của trẻ được phát triển, trẻ biết yêu quí cái hay, cái đẹp, biết trân trọng đức tính tốt thông qua các sự vật và hiện tượng làm phát triển đời sống tình cảm cho trẻ, giúp trẻ ngoan ngoãn hơn. * Về bản thân : - Sau khi tiến hành những biện pháp trên tôi đã tạo được môi trường học tập và vui chơi cho trẻ trong và ngoài lớp có khoa học. Giáo viên yên tâm, phấn khởi, có kinh nghiệm hơn, biết cách lập kế hoạch khi tổ chức các hoạt động khám phá.
  11. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1.Kết luận chung : Trong quá trình thực hiện, tôi thấy trẻ rất hứng thú, phát triển khả năng tư duy cao. Trẻ biết đặt ra những câu hỏi “Tại sao” trước những hiện tượng lạ, từ đó thu nhận được những hiểu biết, những vốn kinh nghiệm nhất định để áp dụng trong đời sống hàng ngày. Hầu hết tất cả các trẻ đều háo hức chờ đón những giờ thí nghiệm, tập trung cao độ để quan sát hiện tượng xảy ra, kiên nhẫn chờ đón kết quả. Qua đó khơi gợi ở trẻ nhu cầu khám phá. Trẻ bắt đầu để ý những biến đổi của sự vật hiện tượng xung quanh, biết tự khám phá bằng nhiều giác quan và có sự trao đổi với cô, với bạn. Thu được những kết quả tích cực trên trẻ, tôi càng nỗ lực học hỏi, tìm hiểu và mong ứng dụng được nhiều hơn những tri thức về khoa học trong công tác giảng dạy của mình. Những điều kì thú trong khoa học vô cùng phong phú, song không phải bất cứ hiện tượng khoa học vui nào cũng có thể ứng dụng trong việc dạy trẻ mầm non. Việc lựa chọn cũng như thực hiện những thí nghiệm khoa học phải đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với lứa tuổi và đặc biệt là đảm bảo an toàn cho trẻ. Qua đó giáo dục trẻ biết tự khám phá trong khả năng của mình, tránh những trường hợp tò mò hiếu động gây nên những hậu quả nghiêm trọng. 2. Bµi häc kinh nghiÖm: Qua một thời gian dài nghiên cứu tài liệu, tìm tòi, học hỏi và qua việc thực hiện các phương pháp nói trên tôi tự rút ra bài học kinh nghiệm cho mình như sau: Qua quá trình thực hiện đề tài bản thân tôi đã rút ra được những kinh nghiệm như sau: – Bản thân cần phải tích cực tìm tòi học hỏi, nhận thức sâu sắc những nội dung giáo dục và lựa chọn nội dung phù hợp đưa vào dạy trẻ lớp mình. – Mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, khắc phục mọi khó khăn để thực hiện thành công ý tưởng của mình. – Phát huy sức mạnh tổng hợp của nhà trường, giáo viên, phụ huynh trong công tác giáo dục và hình thành các kỹ năng trải nghiệm, khám phá cho trẻ.