Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả ở Lớp 4
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả ở Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_viet_du.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả ở Lớp 4
- nhưng hiệu quả đạt được vẫn không như mong muốn. Mặt khác nó còn làm cho giờ học nặng nề, học sinh căng thẳng và mệt mỏi. Hiện nay cách phát âm theo địa phương là nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh viết sai lỗi chính tả. Nhưng chúng ta không thể rèn cho học sinh Nam Bộ đọc đúng chính âm được. Bản thân là người gốc ở miền Tây Nam Bộ, tôi hiểu và biết rõ về văn hóa, về ngôn ngữ và thói quen của người dân nơi đây. Vì vậy, tôi hiểu rằng dạy chính tả cho học sinh tiểu học ở Nam Bộ mà dựa vào cách phát âm chuẩn xác để viết đúng chính tả là điều rất khó. Bởi vì học sinh ở đây được sinh ra và lớn lên trong bầu không khí của phương ngữ Nam Bộ, giọng nói, cách phát âm của các em đã trở thành thói quen. Mặt khác, mỗi một vùng miền của Tổ quốc đều có một chuẩn phát âm riêng biệt tồn tại hàng bao thế kỉ và đã trở thành đặc trưng ngôn ngữ của vùng miền ấy. Cách phát âm theo phương ngữ cụ thể không được xem là lỗi phát âm. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên Tiểu học là phải giúp các em hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, làm sao để các em có thể phát âm theo phương ngữ nhưng vẫn viết đúng chính tả. Với cách làm này, chúng ta mới có thể vừa giúp học sinh học tập tốt phân môn chính tả vừa giúp các em bảo tồn được tiếng nói của địa phương vốn đã được gìn giữ và coi trọng từ bao đời nay. * Cơ sở pháp lý: - Căn cứ hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2021-2022 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Long Mỹ. - Căn cứ hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2021-2022 của Trường Tiểu học Lương Nghĩa 3, trong đó có nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng dạy học của các môn học. Vì vậy, giáo viên ngoài việc hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, giáo viên cần tiếp tục củng cố và hoàn thiện tri thức cơ bản về hệ thống chữ viết về hệ thống ngữ âm Tiếng Việt. Cung cấp kiến thức cơ bản về hệ thống quy tắc chuẩn, thống nhất chính tả Tiếng Việt. Rèn luyện thuần thục kỹ năng viết, đọc hiểu chữ viết Tiếng Việt. Trang bị cho học sinh một công cụ quan trọng để học tập và giao tiếp (ghi chép, viết đọc, hiểu bài đọc...). * Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn là hòn đá thử vàng. Đã gần nửa thế kỉ trôi qua nhưng vấn đề chữ viết vẫn còn đấy. Những hội thảo, những suy nghĩ “cách tân” vẫn không vượt qua được tập quán nói viết của người Việt. Hiện nay ở Cần Thơ nói chung và quận Bình Thủy nói riêng học sinh ở nhiều trường viết chữ khá đẹp. Song cũng có nhiều nơi phụ huynh còn kêu ca, phàn nàn về chữ viết của con em mình. Có em học hết lớp 5, lớp 9, lớp 12 vào đại học chữ viết xấu và mắc nhiều lỗi chính tả đến mức không thể chấp nhận được. Trong các kì kiểm tra số học sinh bị điểm kém do nguyên nhân chữ viết bị mắc lỗi chính tả và trình bày tùy tiện 3
- cẩu thả chiếm tỉ lệ không nhỏ. Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, tôi nhận thấy học sinh trong trường và học sinh lớp tôi phụ trách giảng dạy còn nhiều em chữ viết còn sai nhiều lỗi chính tả, kỹ năng viết còn chưa nhanh, chưa đúng kỹ thuật. Nhìn chung các em thường viết sai chính tả do những nguyên nhân sau: - Học sinh phát âm chưa chuẩn dẫn đến học sinh viết sai. - Học sinh chưa nắm được chắc chắn luật viết ở một số trường hợp cơ bản: k/c/qu hoặc ch/tr và r/d/gi. - Việc nắm nghĩa từ của học sinh còn chưa chính xác. - Học sinh còn chủ quan thiếu tính cẩn thận trong khi viết. - Viết hoa tuỳ tiện, danh từ riêng không viết hoa, viết hoa không đúng mẫu. - Viết thừa nét, viết thiếu nét, đặt nhầm vị trí các dấu thanh. - Viết sai phụ âm đầu và vần, chữ viết không rõ ràng - Viết không đúng quy định, khoảng cách các con chữ, không đúng quy trình, kỹ thuật. Vì vậy nói viết đúng, viết đẹp luôn là mục tiêu giáo dục của các môn học. Đồng thời đó cũng là cái đích cần vươn tới trong các phong trào giáo dục toàn diện của bậc Tiểu học. Từ thực tế trên để các em viết đúng, chuẩn xác người giáo viên cần tìm hiểu rõ nguyên nhân để có kế hoạch, biện pháp cụ thể, phù hợp với từng đối tượng học sinh. * Thực trạng của vấn đề: a. Đối với giáo viên: Hầu hết các giáo viên nhiệt tình công tác, chịu khó học hỏi việc đổi mới phương pháp dạy học, thương yêu học sinh, coi trọng việc rèn chữ cho học sinh. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những giáo viên còn chưa thực sự nhiệt tình tự giác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chưa coi trọng lắm đến chữ viết cho học sinh nên dẫn đến tình trạng học sinh viết xấu, viết sai mắc nhiều lỗi chính tả. Một số giáo viên chưa chú ý đến đặc điểm phương ngữ vùng miền đang ở, không xác định rõ các lỗi chính tả cơ bản của học sinh trong lớp nên việc rèn chính tả không đi vào trọng điểm, giáo viên ít củng cố và khắc sâu cho học sinh nắm các quy tắc, mẹo luật chính tả qua bài viết hoặc qua bài tập. Bên cạnh đó còn tồn tại một thực trạng là: Nhiều giáo viên chưa nghiên cứu kĩ về chính tả cho bản thân mình và cho học sinh trong giờ dạy các môn học khác. Hầu hết giáo viên chỉ phát âm đúng trong giờ tập đọc, chính tả còn các môn khác phát âm theo kiểu bình thường của người địa phương. Ta vẫn biết rằng việc phát âm không đúng chuẩn cũng ảnh hưởng rất lớn đến viết chính tả. + Chưa coi trọng phương pháp làm gương, vẫn còn giáo viên viết chưa đẹp, viết sai lỗi chính tả, phát âm chưa chuẩn, viết bảng các môn học khác còn cẩu thả, không đúng mẫu. 4
- + Kết hợp với các môn học khác để rèn chữ viết cho học sinh còn hạn chế mà chủ yếu ở phần môn Tập viết và Chính tả. + Chưa coi trọng việc sử dụng đồ dùng dạy học. Hướng dẫn học sinh viết từ khó dễ lẫn chưa cụ thể, chi tiết rồi cho học sinh viết vào vở vì sợ hết giờ. + Chưa kịp thời phát hiện sửa chữa các sai sót của học sinh nên lâu ngày tạo thành thói quen trong khi viết. b. Đối với học sinh Ở lứa tuổi tiểu học các em nhận thức còn mang nặng cảm tính. Các em thường hiếu động, khó tập trung, chú ý lâu hay hướng tới các hoạt động cụ thể dễ thấy, dễ hiểu các em không thích các hoạt động kéo dài thời gian. Cho nên trong quá trình học tập các em thường thiếu tính kiên trì, ham chơi, nhiều em còn cẩu thả, ý thức viết chữ chưa cao, kỹ năng viết chưa thành thạo. Qua việc được phân công giảng dạy ở lớp 4A3 tôi đã bắt tay vào việc tìm hiểu, điều tra, khảo sát chất lượng chữ viết của lớp và của nhóm luyện chữ thi chữ viết, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến các em học sinh viết sai lỗi chính tả, chưa đẹp để tiến hành việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng. Vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát trên một số bài viết chính tả và bài làm Tập làm văn viết của 20 học sinh lớp 4A3. Cụ thể như sau: * Trên các bài viết chính tả: - Dế Mèn bênh vực kẻ yếu (Chính tả: Nghe - viết) - Mười năm cõng bạn đi học (Chính tả: Nghe - viết) - Cháu nghe câu chuyện của bà (Chính tả: Nghe - viết) - Truyện cổ nước mình (Chính tả: Nhớ - viết) * Trên các bài tập làm văn: - Kể lại câu chuyện Nàng tiên Ốc, kết hợp tả ngoại hình của nhân vật. - Văn viết thư - Kể lại chuyện cây khế. Kết quả thu được cho thấy tình trạng mắc lỗi chính tả ở học sinh thật đáng lo ngại, tỉ lệ bài không mắc lỗi chính tả còn quá thấp, tỉ lệ bài mắc nhiều lỗi lại lại rất cao. Trong bài văn viết thì tình trạng mắc lỗi chính tả càng cao hơn. Từ đó tôi phân loại lỗi chính tả của học sinh như sau: a. Lỗi về phụ âm đầu: - Lẫn lộn giữa s và x: Viết sâu xa – xâu xa: (Bài Truyện cổ nước mình), vượt suối – vượt xuối (Bài Mười năm cõng bạn đi học) - Lẫn lộn giữa gi – d: Viết giúp đỡ - dúp đỡ, dẫn đi- giẫn đi (Bài Cháu nghe câu chuyện của của bà) - Lẫn lộn giữa g – gh, ng – ngh: Viết gập ghềnh – ghập ghềnh (Mười năm cõng bạn đi học), nghiêng soi – ngiêng soi (Bài Truyện cổ nước mình) 5
- b. Lỗi âm đệm: Thêm âm đệm: nghèo túng – nghoèo túng (Dế Mèn bênh vực kẻ yếu). Bỏ âm đệm: khúc khuỷu – khúc khủy (Mười năm cõng bạn đi học) c. Lỗi âm chính: Viết đau lưng - đau lâng (Cháu nghe câu chuyện của bà) d. Lỗi âm cuối: Viết t thành c, n thành ng, quãng đường – quản đường (Mười năm cõng bạn đi học); lạc đường – lạt đường (Bài Cháu nghe câu chuyện của bà) e. Lỗi về dấu thanh: Học sinh hay lẫn lộn giữa thanh hỏi và thanh ngã: cõng bạn – cỏng bạn, quãng đường – quảng đường, giúp đỡ - giúp đở (Bài Mười năm cõng bạn đi học) f. Lỗi về viết hoa: Học sinh không viết hoa chữ cái đầu câu, không viết hoa các danh từ riêng hoặc viết hoa tùy tiện. g. Lỗi về dấu câu: Trong các bài tập làm văn học sinh điền dấu chấm dấu phẩy không đúng chỗ. * Nguyên nhân học sinh viết sai chính tả: Các em chưa có động cơ học tập, chưa có thái độ đúng đắn trong việc rèn luyện viết chính tả. Khi viết các em ít tập trung, viết một cách tùy tiện, cẩu thả. Một số em chưa nắm chắc các quy tắc chính tả đã học. Một phần lớn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương, chẳng hạn như: ôi - đọc thành ui (trời tối- đọc thành- trời túi), oi – đọc thành oai (coi phim - coai phim), ... * Về phía giáo viên: Một số giáo viên phát âm chưa được chuẩn, mang nặng tính địa phương, chưa chú ý kĩ khâu hướng dẫn viết đúng. ** Một số biện pháp thực hiện của đề tài: 1. Đối với bản thân giáo viên Mỗi giáo viên phải luôn ý thức được rằng chữ viết của mình là rất quan trọng vì nó là mẫu để các em học tập và viết theo. Vì vậy, tôi luôn có ý thức rèn luyện để chữ viết của bản thân rõ ràng, đúng mẫu và tương đối đẹp. Giáo viên phải mẫu mực về chữ viết ở bảng lớp, ở lời phê, điểm số trong vở học sinh, làm gương cho học sinh học tập và noi theo. Đặc biệt muốn học sinh viết đúng chính tả giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho bản thân mình để từ đó luyện cho học sinh phát âm đúng và chính xác như với những tiếng có âm l/n, s/x, ch/tr, r/d, có thanh ngã thì ta phải đọc nặng giọng và hơi ngân dài hơn so với những tiếng có thanh hỏi. Những tiếng có âm cờ thì ta phải đọc nặng giọng hơn so với những tiếng có chứa âm tờ hoặc những tiếng có chứa âm cuối là âm ngờ thì khi đọc ta phải ngân dài hơn so với những tiếng có chứa âm cuối là âm nờ Việc đọc đúng, rõ ràng rành mạch, mạch lạc, đọc hay, đọc chuẩn của giáo viên là quan trọng nhất. Không những đọc đúng mà còn phải viết đúng, đẹp, đúng quy cách chữ hiện hành do Bộ Giáo dục quy định. Trình bày khoa học trong dạy học (nhất là ghi trên bảng lớp vì chữ viết chính là dụng cụ trực quan hữu hiệu mà các em có thể dựa vào đó để bắt chước, rèn luyện). Như chúng ta đã biết muốn viết 6
- đúng thì phải đọc đúng. Vì vậy khi hướng dẫn học sinh viết chính tả phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ nhất là khi phân tích từ khó, tiếng khó. Là giáo viên dạy lớp phải bổ sung, điều chỉnh mục đích của môn chính tả sao cho phù hợp với lớp mình phụ trách, cũng như trong việc lựa chọn để cho học sinh làm bài tập chính tả. Vì bài tập chính tả có phân định rõ: một là phần bài tập bắt buộc; hai là bài tập lựa chọn dành cho các vùng có phương ngữ khác nhau. Nên nhắc nhở phân tích các từ ngữ mà học sinh viết sai và thường gặp trong các môn học khác để các em hiểu nghĩa từ và luôn viết đúng. Tôi thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu tham khảo như dạy viết ở Tiểu học, tài liệu tham khảo “Nét chữ - Nết người”. Mẫu chữ viết trong trường Tiểu học, bộ từ điền chính tả. Ngoài ra tôi còn tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong việc rèn viết đúng chính tả cho học sinh. Tôi chú trọng rèn chữ cho học sinh trong tất cả các giờ học, động viên tuyên dương những học sinh có tiến bộ về chữ viết, có ý thức giữ vở sạch, viết chữ đẹp. 2. Phân loại học sinh Việc phân loại học sinh trong môn Tiếng việt được giáo viên tiến hành khi dạy như chữ em nào đẹp, chữ xấu, hay mắc lỗi chính tả. Đối với bản thân tôi phân loại cụ thể, rõ ràng hơn vào các nhóm nhỏ như: nhóm hay sai phụ âm đầu, nhóm hay viết sai dấu thanh, nhóm viết cẩu thả, nhóm viết sai cả tiếng. Việc phân loại học sinh như vậy mất khá nhiều thời gian nhưng dựa vào đó tôi có những yêu cầu khác nhau, vận dụng phương pháp khác nhau để đạt kết quả tốt nhất. Có thể sắp xếp chỗ ngồi hợp lí cho các em ở vị trí giáo viên dễ quan sát, cho ngồi kèm học sinh viết đẹp chuẩn để các em học tập bạn. Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo phần bài soạn đặc biệt là hệ thống câu hỏi, câu hỏi gợi ý, câu hỏi nhằm khắc sâu kiến thức, cách giúp học sinh ghi nhớ các từ khó viết để các em dễ hiểu, dễ nhớ. Đồng thời giáo viên nên gặp giáo viên chủ nhiệm năm ngoái để nắm bắt và tìm hiểu về những thông tin cần thiết về khả năng và sở thích của từng em để từ đó định hướng cho mình một phương pháp dạy học thích hợp và hiệu quả. 3. Rèn cách phát âm đúng cho học sinh Để có chữ viết đẹp, đúng chính tả học sinh phải trải qua quá trình tập luyện. Cho nên trong quá trình dạy học ở tất cả các môn học ở lớp 4, đặc biệt là phân môn Chính tả, Tập làm văn tôi luôn củng cố cho các em những kiến thức và kĩ năng mà các em đã được học ở lớp dưới đồng thời nâng cao dần kỹ thuật viết cho các em để giúp các em có kỹ năng viết đẹp, viết đúng không mắc lỗi chính tả. Đầu tiên cần rèn luyện cho học sinh những kỹ năng ban đầu để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động viết. Tập cho học sinh phát âm đúng (đúng ở đây được hiểu là phát âm chuẩn). Có phát âm đúng thì mới viết đúng vì chính tả Tiếng việt là chính tả ghi âm. Tuy 7
- nhiên đây là yêu cầu hết sức khó vì cách phát âm của mỗi người, mỗi vùng khác nhau đã thành thói quen khó sửa chữa. Do đó, giáo viên cần phát âm chuẩn và rõ ràng khi đọc mẫu để làm chỗ dựa cho học sinh viết đúng và đọc đúng. 4. Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ Chính tả Tiếng việt là chính tả ngữ âm học, nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả thì việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp học sinh viết đúng chính tả. Trong giờ dạy giáo viên cần cho học sinh phát hiện các từ khó viết dễ lẫn sau đó vận dụng các cách giải nghĩa để giúp học sinh ghi nhớ viết đúng. Ví dụ khó tìm ra quy luật chung để phân biệt n/l hay r/d/gi vậy cần phải cho các em hiểu nghĩa của từ đó sử dụng nhiều lần nhớ thuộc để vận dụng viết trong từng trường hợp. Chẳng hạn như dạy phân biệt n/l trong cặp từ: nên/lên, giáo viên cần cho học sinh hiểu dùng “lên” khi từ có nghĩa là di chuyển đến một vị trí ở phía trên hoặc ở phía trước. VD: lên núi, mặt trời lên cao . Ngoài ra “lên” còn có nghĩa tăng số lượng hay đạt một mức, một cấp cao hơn. VD: Vật giá lên cao, lên chức. Dùng “nên” khi từ có nghĩa như một lời khuyên, một việc nên làm, không nên làm: VD: Bạn nên học thuộc bài trước khi đến lớp hay Bạn không nên vô lễ với thầy cô. Ngoài ra “nên” còn dùng để biểu thị mối quan hệ nguyên nhân kết quả. VD: Vì trời mưa nên cánh đồng đã ngập nước. - Trường hợp đối với r/d/gi học sinh mắc lỗi rất nhiều cần giải nghĩa để giúp học sinh phân biệt cách dùng từ theo nghĩa. VD: Cách dạy học sinh biết phân biệt rao/dao/giao trong Tiếng việt. Viết “dao” khi chỉ đồ vật dùng để cắt, thái, băm, chặt. Viết “giao hàng” khi từ có nghĩa là chuyển hàng hóa đến cho từng đối tượng. Viết “rao hàng” khi có nghĩa là bán hàng muốn tập trung sự chú ý của mọi người đến mặt hàng của mình nhằm bán được hàng dùng đến âm thanh “tiếng rao” - Để phân biệt ch/tr giáo viên đưa các tiếng bắt đầu bằng “ch” để học sinh dễ nhớ chỉ tên các vật dụng trong nhà như: chăn, chiếu, chảo, chén, chày,... các tiếng bắt đầu bằng “tr” như: tranh, tráp... - Tóm lại trong trong những trường hợp không có quy tắc chúng ta cần chia thành những trường hợp nhỏ cụ thể để học sinh hiểu nghĩa từ mà phân biệt viết sao cho đúng. Hơn nữa khi dạy cụ thể từng loại bài giáo viên cần chú ý một số điểm sau: + Loại bài chính tả Nghe – viết: Yêu cầu quan trọng là đọc mẫu của giáo viên là phải chuẩn xác, đúng chính âm, giáo viên phải đọc thong thả rõ ràng, ngắt nghỉ hơi hợp lí mỗi cụm từ, mỗi câu, tốc độ đọc phù hợp với tốc độ viết của học sinh. Có như vậy học sinh mới có thể viết đúng chính tả và trên cơ sở hiểu nội dung văn bản tránh những lỗi không hiểu mình đang viết gì. 8
- + Loại bài chính tả Nhớ – viết có dấu hỏi, dấu ngã: Giáo viên cần bố trí đủ thời gian để học sinh tự nhớ lại và lưu ý những trường hợp chính tả mà các em có thể viết sai trong bài. Cho các em luyện viết vào bảng con những từ có dấu ngã, dấu hỏi, giáo viên nhận xét, sửa sai giúp học sinh hiểu, ghi nhớ. Sau đó mới cho học sinh nhớ bài và viết ghi vào vở. + Loại bài phân biệt so sánh: Giáo viên cần nhấn mạnh vào các trường hợp dễ nhầm lẫn, đối chiếu so sánh gây ở các em ý thức thường trực tiếp về sự phân biệt những trường hợp dễ nhầm lẫn. VD: Học sinh phân biệt giữa nghỉ/nghĩ Giáo viên nhấn mạnh chỉ cho học sinh thấy rõ tiếng “nghỉ” thêm dấu hỏi thành “nghỉ” (có nghĩa thoái mái tinh thần, lấy lại sức khỏe) còn thêm dấu ngã thành “nghĩ” (có nghĩa là sự tìm tòi, khám phá làm cho cơ thể mệt mỏi...) hai từ này có nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau nếu chúng viết sai dấu hỏi hoặc dấu ngã chú ý nghĩa của từ của câu đó cũng sai hoàn toàn. * Trong quá trình ghi nhớ tiếng khó viết giáo viên cần linh hoạt vận dụng nhiều hình thức như có thể giải nghĩa, phân tích cấu tạo tiếng khó, đặt câu để nhớ nghĩa, dùng từ trái nghĩa. Sau đó cho học sinh đọc lại một cách chuẩn xác. Khi học sinh viết xong bài cần cho học sinh soát lỗi cho bạn để các em phát huy tính tự học tự ghi nhớ từ. Hơn nữa khi chấm bài giáo viên cần xâu chuỗi lại các lỗi mà học sinh mắc phải sau đó cho học tự sửa lỗi của mình sẽ giúp cho các em ghi nhớ kĩ hơn. 5. Bổ sung nguyên tắc chính tả cho sinh Trong quá trình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho các em học sinh, đòi hỏi người giáo viên cần xác định được trọng tâm bài, dạy chính tả phải biết kết hợp với việc dạy chuẩn âm, tức là “phát âm đúng”. Yêu cầu giáo viên phải là người chuẩn mực trong việc đọc, nói. Vì cơ sở cơ bản của chính tả Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm.Chính tả âm vị đọc thế nào, nói thế nào viết thế ấy. Hầu hết học sinh chưa nắm vững nguyên tắc chính tả nên dẫn đến viết sai chính tả. Ví dụ: Khi viết những âm đầu mà khi phát âm gần giống nhau, hoặc những tiếng nào cần sử dụng âm c/q hay k hoặc d/ r hay gi, những tiếng nào có âm cuối là i/ y. Giáo viên cần thường xuyên chú ý giúp học sinh so sánh, phân biệt sao cho chính xác tức là giúp học sinh nắm chắc nguyên tắc chính tả. - Đối với âm d/r/gi: + Viết “d” khi đứng trước các nguyên âm: a, â, o, e, i, iê, yê, (duyên dáng, dạt dào, ). + Viết “gi” khi đứng trước các nguyên âm: a, â, o, u, ư, ươ, (giờ giấc, giữ gìn, giường gỗ, cùng một giuộc, ). + Viết “r” khi đứng trước các nguyên âm: a, o, ô, e, i, iê, ươ, uô, (rành mạch, róc rách, rì rào, ). 9
- - Đối với âm c/k/q: + Viết “c” khi đứng trước các nguyên âm: a, o, ô, ơ, u, ư, (cá, cô, cờ,cò, căn cứ, ) + Viết “k” khi đứng trước các nguyên âm: e, ê, i, iê, (kiêu sa, Quốc kì, êke, kênh kiệu, ). Viết “q” khi đứng trước vần có “u” là âm đệm: (quân đội, Quốc kì, quê hương, quả quýt, quần áo, ). - Đối với âm g/gh; ng/ngh: + Viết “g”, “ng” khi đứng trước các nguyên âm: a, â, o, ô, u, ư, ươ, (ngủ gà ngủ gật, gà gô, ngỗ ngược, gửi ,gùi, ) + Viết “gh” khi đứng trước các nguyên âm: e, ê, i, (bàn ghế, ghi chép, ghe thuyền, ) + Viết “ngh” khi đứng trước các nguyên âm: i, ê, iê (con nghé, nghi ngờ, nghiêng ngả, củ nghệ, ) - Đối với âm ch/tr: + Viết “ch” khi đứng trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, e, i, iê, ươ, uô, (cha, chú, che chở, viết chữ, chuộc tội, chăm chỉ, kể chuyện, chiếu cố, ) + Viết “tr” khi đứng trước các nguyên âm: e, ê, iê, ươ (trả giá, trượt băng, tri kỉ, truyện kể, triều đại, ) - Đối với âm s/ x: + Viết “s” khi đứng trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, e, i, iê, ươ, uô (bão táp mưa sa, săn bắt, nằm sấp, nói se sẽ, sì sụp, siêu âm, song ca, bị sốc, suồng sã, suýt chết, sương giá, ). + Viết “x” khi đứng trước các nguyên âm: a, o, ô, ư, i, uô, ươ, iê (lạp xưởng, xao xuyến, xử lý, xấp xỉ, xiêu vẹo, chèo xuồng, ) - Đối với chữ viết có “i” hay “y”: + Viết “i” khi đứng sau các phụ âm: x, m, r, ch, tr, gh, ngh, l, (xinh xắn, thông minh, rì rào, chính tả, trí tuệ, ghi nhớ, nghỉ hè, lí lịch, ) + Viết “y” khi đứng độc lập hay nó không có âm đứng trước (y tá, yêu thương, yên lặng, âu yếm, yết kiến, ). - Đối với chữ viết chứa nguyên âm đôi “iê” hay “yê”: + Viết “iê” khi đứng sau các phụ âm: d, đ, h, k, l, m, n, x, s, t, th, ch, (diệu kì, điêu đứng, huy hiệu, kiêu kì, lo liệu, miêu tả, nồi niêu, siêu sao, xiêu vẹo, tiền tiêu, thiếu thốn, ) + Viết “yê” khi đứng sau các phụ âm: d, đ, h, l, x, t, th, ch, tr (xét duyệt, huyết tương, luyện tập, xao xuyến, tuyệt đối, thuyền bè, kể chuyện, truyền thuyết). Khi học sinh nắm chắc nguyên tắc chính tả thì mỗi khi viết bài các em sẽ viết chính xác và viết đúng chính tả. Cũng từ đó giáo dục ý chí và đức tính tốt, 10
- tính cẩn thận, óc thẩm mĩ đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt, cách biểu thị tình cảm tốt đẹp khi giao tiếp. 6. Xây dựng bài tập khắc phục lỗi chính tả cho học sinh Trong quá trình giảng dạy, sau khi học xong bài mới, giáo viên giao cho học sinh những bài tập để thực hành luyện tập. Đối với các em việc thực hành luyện tập sẽ giúp các em ghi nhớ kiến thức đã học nhanh hơn và biết khắc phục những lỗi mà mình thường mắc phải. Mặc khác có thể thu được thông tin ngược lại từ phía học sinh, xem mức độ tiếp thu bài của các em tới đâu? Hay còn vướng mắc ở chỗ nào? Phần nào? Với phương pháp dạy học đó đã phù hợp chưa? Từ đó điều chỉnh lại cách thức, phương pháp dạy học sao cho đạt hiệu quả tốt nhất. Sau đây là một số bài tập cụ thể: BÀI TẬP SỐ 1 1. Điền vào chỗ trống “s” hay “x”: .anh .anh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc bên bờ .ông Đứng bên này .ông .ao nhớ tiếc .ao .ót .a như rụng bàn tay 2. Tìm tiếng có vần “iên” hay “uyên” thích hợp với mỗi chỗ trống dưới đây: chỉ có ..mới hiểu mênh mông nhường nào Chỉ có mới biết .. đi đâu về đâu. 3. Điền vào chỗ trống “r”, “d” hay “gi”: ..ây mơ .ễ má ..ấy trắng mực đen ..eo ó gặt bão ..ối ..ít tít mù ...anh lam thắng cảnh ..út ..ây động rừng ..ương đông kích tây ..ãi .ó ..ầm mưa. 4. Tìm các từ viết sai chính tả và sửa lại cho đúng: Lúa nặng trữu bông .. Hoa lịu đỏ trõi .. 11
- Gánh nặng kíu kịt .. Chim non rữu rít .. Thuộc bảng cỉu trương .. Miu trí dúng cảm .. Gửi tư biu liện .. Lưu luyễn tiến lưa 5. Điền vào chỗ trống các tiếng có phụ âm đầu “tr” hay “ch”: Trận đấu kết Vô tuyến .hình Phá cỗ .thu Văn học . miệng Tình bạn thuỷ . Chim bay . .. cành Cơ quan .ương Bạn nữ chuyền 6. Khoanh tròn vào chữ cái trước từ viết đúng chính tả: A. Vầy biện Đ. Bầy trẻ I. Ban đạy B. Bày biện E. Bày trẻ K. Van lạy C. Thứ bảy G. Tre đạy L. Chậy nhảy D. Tứ bảy H. Che đậy M. Chạy nhảy. BÀI ÔN SỐ 2 1. Điền vào chỗ trống “v” hay “b”: .ạch lá tìm sâu Giật gấu .á .ai Giậu đổ ..ìm leo Kinh hồn .ạt vía .ăn ôn .õ luyện Ăn .óc học hay 2. Tìm tiếng có phụ âm đầu “c”, “k” hay “q” điền vào chỗ trống để có thành ngữ đúng: ..sâu bẫm thành danh toại ..mò cò xơi . cá chọn canh . tóc xe duyên .. làm cam chịu . hơi bén tiếng Kề vai sát 3. Điền vào chỗ trống “ai” hay “ay”: T làm hàm nhai T .. qu .. miệng trễ Trăm hay không bằng t . quen Sức d .. vai rộng 12
- Cây ng .. không sợ chết đứng. 4. Tìm tiếng chứa vần “iêu”, “êu” hay “ươu” thích hợp vào chỗ trống: .yếu đào tơ Gầy cao đêu Dáng đi liêu .. Cánh ...... no gió Con ốc .. vàng Người con thảo Con . cao cổ 5. Gạch chân những chữ viết sai và sửa lại cho đúng: Tìm nơi tăm tẳm rừng sâu . Bập bùng hoa chuỗi, chắng màu hoa van . Tìm nơi bờ viển xóng tràn .. .. Hàng cây chắn báo, dịu ràng mùa hoa . Tìm nơi cuồn đảo khây xa .. Có loài hoa nở như là không tên .. 6. Tìm tiếng chứa vần “ên”, “ênh” điền vào chỗ trống cho thích hợp: Lên thác xuống .. Bóng trăng . chếch Ăn .làm ra Ăn . ngồi trốc Mây trời bồng Nước chảy .láng Của . tại người Áo mũ xang 5. Thay đổi phương pháp và hình thức luyện tập Như chúng ta đã biết không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Vậy lựa chọn phương pháp dạy học như thế nào, hình thức tổ chức dạy học như thế nào cho phù hợp phát huy được mặt tích cực tự giác thành kỹ năng, kỹ xảo viết đúng chính tả là một vấn đề mà đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ tìm tòi sáng tạo. Chẳng hạn như dạy bài chính tả nghe viết tuần 8 ở bài tập 2 phần a. (Tìm những tiếng bắt đầu bằng r/d/gi điền vào chỗ trống). Giáo viên tổ chức dưới dạng trò chơi. Giáo viên phát phiếu cho học sinh làm theo nhóm vào phiếu bài tập. Sau đó mỗi nhóm cử 5 bạn lên thi đua viết vào phiếu lớn trên bảng. Nhóm nào làm xong trước đúng thì thắng. Lựa chọn hình thức dạy học phù hợp sẽ tạo cho tiết học sôi nổi, nhẹ nhàng, học sinh hứng thú làm bài tập, các em hiểu bài và ghi nhớ được lâu. Ví dụ: Khi dạy bài chính tả ở tuần 13, Tiếng Việt 4 tập 1 ở bài tập 3 phần b (Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng “l” hoặc “n” có nghĩa như sau) giáo viên dùng phương thảo luận theo cặp sẽ giúp các em động não hỗ trợ nhau bày tỏ ý kiến để tìm từ đúng với nghĩa. Sau đó giáo viên ghi lại lên bảng chốt lại những từ đúng. 13

