Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh tập tốt bài thể dục phát triển chung Lớp 5

docx 25 trang Chăm Nguyễn 27/02/2026 70
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh tập tốt bài thể dục phát triển chung Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_tap_tot.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh tập tốt bài thể dục phát triển chung Lớp 5

  1. 2.2 Đối với giáo viên 6 2.2.1 Đổi mới công tác chuẩn bị bài giảng của giáo viên 6 2.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực 7 của học sinh 2.3 Đối với học sinh 12 2.4 Đối với chính quyền địa phương 12 2.5 Đối với phụ huynh học sinh 12 2.6 Đối với y tế địa phương 13 3 Hiệu quả phạm vi, quy mô áp dụng 13 PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 14 1 Ý nghĩa của đề tài đối với công tác dạy học 14 2 Kết luận 14 3 Kiến nghị 15 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ - Trong xã hội hiện nay “trình độ dân trí và tiềm lực khoa học công nghệ đã và đang trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới. Cũng như đất nước ta đang ở trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội vì vậy xã hội đang đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách với ngành giáo dục hiện nay. - Môn thể dục là một trong những bộ phận của nền giáo dục, góp phần làm thay đổi mọi mặt của giáo dục toàn diện có ảnh hưởng rất lớn tới các mặt giáo dục khác, có vị
  2. thế hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị cho học sinh có đầy đủ khả năng, sức khỏe để tham gia vào cuộc sống sản xuất và bảo vệ tổ quốc. Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng mục tiêu phát triển con người toàn diện, khẳng định tầm quan trọng “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp: công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực”. 1. Lý do chọn đề tài: - Xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay đang đặt ra cho giáo viên giáo dục thể chất ở trường tiểu học đòi hỏi phải làm sao để dạy tốt môn thể dục ở bậc tiểu học nói chung, môn thể dục lớp 5 nói riêng, cụ thể là bài thể dục phát triển chung của chương trình thể dục lớp 5. - Đất nước ta đang ở trong thời kỳ đổi mới. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng mục tiêu giáo dục đặt lên hàng đầu. Vì thế sức khỏe con người ngày càng được nâng cao hơn, cho nên việc giảng dạy giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai mai sau trong trường tiểu học là rất quan trọng không thể thiếu được. Qua những bài tập: Đội hình đội ngũ, bài thể dục phát triển chung, bài tập rèn luyện tư thế cơ bản, bài tập về kỹ năng vận động cơ bản, trò chơi vận động có tác động lên cơ thể các em, làm cho cơ thể các em chuyển biến về hình thái chức năng theo chiều hướng tích cực là một trong những mặt giáo dục có ý nghĩa nêu cao tầm vóc, sức khỏe cho học sinh phát triển tốt hơn. Đối với giáo viên thể dục hiện nay rèn luyện cho các em có đầy đủ sức khỏe là rất quan trọng tạo cho các em có được “một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể cường tráng”. - Đặc biệt ở lứa tuổi học sinh tiểu học việc rèn luyện thể chất cho các em thông qua các bài tập thể dục là một việc làm hết sức quan trọng đối với giáo viên giảng dạy thể dục. Hơn thế nữa Bác đã nói: Mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân mạnh khỏe tức làm cho đất nước hùng mạnh thêm”. Chúng ta cũng nhớ rằng sức khỏe là vốn quý nhất của con người “Sức khỏe là vàng”.
  3. - Một người khỏe mạnh, gia đình khỏe mạnh, xã hội khỏe mạnh thì đất nước sẽ cường thịnh, năng suất lao động sẽ được nâng cao, thành quả lao động đạt nhiều hơn: Dân giàu nước mạnh, xã hội phồn vinh – thịnh vượng. - Thể dục góp phần bảo bệ tăng cường sức khỏe cho học sinh, phát triển các tố chất thể lực, đặt biệt là sức nhanh, khả năng mềm dèo, khéo léo... - Trang bị cho học sinh một số hiểu biết và kỷ năng vận động cơ bản về bài tập thể dục. Làm giàu thêm vốn kỹ năng vận động cơ bản thường gặp trong đời sống như: đi chạy, nhảy, ném...v... phù hợp với khả năng trình độ, lứa tuổi giới tính của các em. - Tạo điều kiện cho các em tập luyện thường xuyên để nâng cao sức khỏe và thể lực của học sinh. - Chính vì thế giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ trong trường học hiện nay với điều kiện và phương tiện tác động lên cơ thể các em, làm chuyển biến hình thái và chức năng theo chiều hướng tích cực. Vì vậy đối với người giáo viên thể dục hiện nay rèn luyện cho các em có đầy đủ sức khỏe, là rất quan trọng tạo cho các em có được " một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể cường tráng ". - Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết hiện nay đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt huyết, phải luôn luôn chuẩn bị tốt trước khi lên lớp như: tranh ảnh, đồ dùng dạy học, dụng cụ tự làm, sân bãi phải chuẩn bị một cách thật chu đáo. Có như thế thì giờ học mới đạt được hiệu quả cao, từng bước nâng dần sức khỏe phát triển tốt các tố chất thể lực cho các em học sinh. 2. Cơ sở lý luận: - Chương trình thể dục lớp 5 được thực hiện theo phân phối chương trình và chuẩn kiến thức kỉ năng cụ thể là: + Mỗi tuần học 2 tiết, mỗi tiết học trung bình 35 phút, cả năm học gồm 70 tiết, trong đó học kỳ I là 18 tuần dạy 36 tiết, học kỳ II là 17 tuần, dạy 34 tiết.
  4. + Ở lứa tuổi học sinh lớp 5, các em đã hoàn thiện hơn so với ở lứa tuổi học sinh lớp 1,2,3,4 tốc độ phát triển cũng tăng lên rõ rệt các em đã biết hành động theo sự hướng dẫn của giáo viên ở mức độ cao hơn. - Điều đó giáo viên phải gương mẫu thường xuyên chú ý giáo dục tư tưởng cho học sinh để có thể giáo dục cho các em một cách chủ động, có kế hoạch và có kết quả cao hơn. - Trong giảng dạy: Khi luyện tập hoặc cho các em vui chơi trò chơi thì có ảnh hưởng đến các lớp đang học. Vì vậy, giáo viên dạy cũng không được tốt lắm, học sinh cảm thấy chưa say mê tích cực trong tập luyện. Học sinh không chỉ học những bài thể dục tay không, trò chơi vận động mà các em còn rèn luyện thêm các tố chất nhanh, mạnh, bền, khéo léo thông qua các nội dung học như: bật nhảy, chạy, ném bóng - Ngoài việc giảng dạy cho các em có được một sức khoẻ thật tốt, giáo viên còn phải luôn giáo dục cho học sinh trong trường từng tiết học như: tính dũng cảm, tính trung thực, tính tự giác, tính tích cực, tính khiêm tốn cho nên phân môn thể dục ở bậc tiểu học chiếm một vị trí hết sức quan trọng không thể thiếu trong giáo dục con người theo hướng toàn diện. 3. Cơ sở thực tiễn: - Sân bãi còn nhiều chướng ngại vật, mùa nắng thì oi bức không có bóng cây che mát, làm cho việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc tập luyện của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. - Những năm qua do điều kiện sân bãi còn gặp nhiều khó khăn nhất là mặt sân hẹp có nhiều chướng vật, dụng cụ thể dục còn hiếm. Nội dung bài thể dục và trò chơi vận động giáo viên chuẩn bị chưa được chu đáo. Học sinh luyện tập thiếu nhiệt tình, thiếu chủ động, tinh thần luyện tập của các em không cao - Một số tiết học dưới trời nắng gắt khiến cho học sinh dễ mệt mỏi và chán nản. - Một số học sinh sức khỏe chưa tốt nên chưa phát huy được tính năng và yêu cầu của môn học.
  5. - Khi học, các em không thực hiện đúng phương hướng, biên độ động tác, các động tác giơ cao các em không giơ hết biên độ hoặc giơ tay cúi đầu. Không biết chuyển trọng tâm ở động tác toàn thân. Không thẳng chân khi gập bụng hoặc đá chân. ( Có minh chứng 1 kèm theo) 4. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4.1. Mục đích nghiên cứu : + Nhằm giúp cho các em học sinh lớp 5 nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, tố chất thể lực góp phần phát triển con người theo hướng toàn diện. + Trang bị cho học sinh học số hiểu biết về những kỹ năng cơ bản. + Giáo dục cho các em có tính nề nếp trong tập luyện TDTT, có ý thức giữ gìn vệ sinh và nếp sống lành mạnh vui chơi giải trí có tính tổ chức và kỷ luật, góp phần giáo dục đạo đức lối sống hình thành nhân cách con người mới. + Bài thể dục phát triển chung nhằm phát triển thể lực, tạo sự hứng thú cho học sinh tập luyện, hình thành những kỹ năng vận động, củng cố và nâng cao, có sự tác động trực tiếp tích cực đến việc rèn luyện sức khỏe và ý chí phẩm chất đạo đức cho người học hết sức to lớn. + Tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại thường xuyên luyện tập và thi đấu các môn thể thao, góp phần phát triển giáo dục thể chất, tăng cường sức khỏe, góp phần nâng cao sức đề kháng của cơ thể, phòng chống các loại dịch bệnh như"cảm cúm do thời tiết thay đổi và tiêu chảy cấp.. cho học sinh trong trường học. + Phát hiện và tuyển chọn những em có tài năng thể thao, bổ sung cho lực lượng vận động viên năng khiếu tham gia hội khỏe phù đổng do ngành giáo dục và đào tạo tổ chức hàng năm. 4.2. Đối tượng nghiên cứu: - Học sinh lớp 5 trong năm học 2021- 2022.
  6. 4.3. Thời gian thực nghiệm: - Thời gian thực nghiệm diễn ra trong 4 tháng ( từ 07/09/ 2021 đến 30/12/ 2021 ) 4.4. Phương pháp nghiên cứu: - Đọc sách, tài liệu tham khảo và các văn bản có liên quan giáo dục, nắm vững nội dung chương trình thể dục lớp 5, theo chuẩn kiến thức kỉ năng, - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: ( nghiên cứu sản phẩm học tập của học sinh thông qua bài tập thể dục ) - Phương pháp phân tích tổng hợp. - Phương pháp giảng dạy và làm mẫu: (giáo viên làm mẫu kỹ thuật động tác, phân tích ngắn gọn dễ hiểu ). - Phương pháp tập luyện: (là các phương tiện để đạt mục đích hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động và phát triển tố chất vận động ). - Phương pháp sử dụng lời nói: giáo viên giảng giải, kể chuyện, đàm thoại - Phương pháp trực quan: (giáo viên làm mẫu, tranh ảnh, mô hình ...) - Phương pháp trò chơi: (cần theo số lần lẻ để phân thắng bại ). - Phương pháp rèn luyện sức nhanh :( chủ yếu là phương pháp lặp lại ). - Phương pháp thi đấu: (cần tổ chức tập luyện có hoàn cảnh giống như khi thi đấu thật). - Phương pháp ổn đỉnh :( tập luyện một động tác liên tục từ đầu đến cuối một lần theo cường độ tương đối ổn định ). 5. Phạm vi nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh tập tốt bài thể dục phát triển chung lớp 5. 6. Kế hoạch nghiên cứu:
  7. - Để giúp các em tập tốt bài thể dục phát triển chung lớp 5, tôi đã lập ra kế hoạch về thời gian và nội dung thực hiện theo từng bước như sau: + Bước 1: Kiểm tra học sinh đầu năm để lấy kết quả đối chứng. + Bước 2: Lập kế hoạch, phương pháp cho học sinh tập luyện. + Bước 3: Khảo sát chất kượng sau một thời gian tập luyện, lấy kết quả đối chiếu. + Bước 4: Rút ra ý nghĩa và bài học kinh nghiệm khi dạy bài thể dục phát triển chung khối 5. PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng và các vấn đề cần được giải quyết: 1.1. Thực trạng: - Sân bãi còn nhiều chướng ngại vật, mùa nắng thì oi bức, dụng cụ thể dục còn hiếm, thiếu tranh ảnh, dụng cụ tập luyện làm cho việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc tập luyện của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. 1.2. Các vấn đề cần được giải quyết: - Những năm qua do điều kiện sân bãi còn gặp nhiều khó khăn nhất là mặt sân hẹp có nhiều chướng vật, dụng cụ thể dục còn hiếm, thiếu tranh ảnh, dụng cụ tập luyện. Nội dung bài thể dục và trò chơi vận động giáo viên chuẩn bị chưa được chu đáo, giáo viên chỉ tổ chức cho học sinh luyện tập và chơi qua loa. Học sinh luyện tập thiếu nhiệt tình, thiếu chủ động, tinh thần luyện tập của các em không cao, khi các em tập bài thể dục không được chủ động, không nhiệt tình, không khí buổi tập không được hào hứng và sôi nổi, không lôi cuốn các em vào bài tập một cách chủ động. - Muốn khắc phục những vấn đề trên trong quá trình giảng dạy môn thể dục ở lớp 5, giáo viên cần tạo cho học sinh có sự ham thích, say mê hứng thú trong giờ học mà khi tham gia tập bài thể dục phát triển chung. Qua tiết học giúp các em hiểu được lợi ích, tác dụng của việc tập luyện thể dục để đáp ứng vào thực tế. Trong cuộc sống hàng ngày rèn luyện cho các em có sức khoẻ dẽo dai, tinh thần minh mẫn, tạo cho các em có
  8. đức tính tốt như: khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, trung thực và tự giác ngày càng được hoàn thiện hơn. - Do vậy giáo viên cần chuẩn bị tốt, thật đầy đủ và chu đáo về sân bãi, đồ dùng dạy học: giáo viên phải có còi, tranh ảnh trực quan, đồ dùng tự làm có như vậy thì học sinh mới ham thích, say mê, tự giác trong luyện tập không chỉ để cho cơ thể phát triển một cách hài hoà cân đối khoẻ mạnh mà còn có những đức tính tốt, một tinh thần minh mẫn, một thể lực cường tráng. 2. Các biện pháp giải quyết vấn đề: 2.1. Đối với nhà trường: - Vào đầu năm học nhà trường phối hợp với phụ huynh học sinh, tổ chức cho y tế địa phương kiểm tra sức khoẻ cho học sinh để các em có một sức khoẻ tốt trong học tập. - Nhà trường liên hệ thường xuyên gia đình có con em khuyết tật, đặc biệt một số em bị bệnh tim. + Trong lớp có em bị bệnh tim hoặc khuyết tật nhẹ thì giáo viên không yêu cầu các em tập đúng biên độ động tác và lượng vận động của các em cũng nhẹ hơn lượng vận động của các em bình thường. bài tập không yêu cầu các em tập hết biến độ động tác, tập không hết sức mình như các em khác trong lớp. + Ví dụ như "động tác nhảy "không yêu cầu hay như các em bình thường mà còn tuyên dương thêm khi thấy em đó đã hoàn thành được bài tập. 2.2. Đối với giáo viên: 2.2.1. Đổi mới công tác chuẩn bị bài giảng của giáo viên: Giáo viên cần nắm vững nội dung, kiến thức, kĩ năng của từng bài học, đồng thời tìm ra những phương pháp, hình thức dạy học mới, độc đáo để áp dụng cho từng bài sao cho có hiệu quả cáo nhất.
  9. Giáo viên phải có ý thức soạn bài công phu, tỉ mỉ, kĩ càng, có kế hoạch bài dạy rõ ràng và chi tiết. Cụ thể: • Kiến thức và kĩ năng cần đạt được trong một giờ học phải lấy nội dung tập luyện để giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực làm trọng tâm. • Dung lượng kiến thức và kĩ năng của mỗi bài học phải đảm bảo tính vừa sức, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ nhớ và hấp dẫn học sinh. • Phương pháp chủ đạo trong tiết dạy là thực hành, ôn luyện nhiều lần ở các dạng hoạt động khác nhằm tạo hứng thú cho học sinh. Đặc biệt giáo viên cần có những hoạt động phát huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong từng tiết học. • Phương pháp và các thủ pháp dạy học phải luôn luôn được cải tiến, sáng tạo, phù hợp với điều kiện, khả năng học tập của từng lớp thậm chí của từng học sinh. Khi giảng dạy, giáo viên cần có những dự kiến trước các tình huống sư phạm có thể xảy ra trong giờ học để chọn lựa thủ pháp sử lí phù hợp. Giáo viên có thể linh động bố trí thời gian tổ chức các hoạt động trong thời lượng cho phép từ khoảng 35-40 phút cho một tiết dạy. Nên dành nhiều thời gian cho việc rút kinh nghiệm, uốn nắn và sửa sai cho học sinh. - Giáo viên cần tìm hiểu tình hình học sinh một cách toàn diện, trong mỗi lớp học, tìm hiểu khả năng vận động của các em có sức khỏe tốt, có sức khỏe yếu hay bệnh tật... để có hình thức bồi dưỡng tập luyện khác nhau. Đối với học sinh yếu, khuyết tật, không để các e nghỉ, mà giáo viên phải tổ chức riêng cho các em tập với cường độ nhẹ hoặc cho các bạn có sức khỏe tốt giúp đỡ các bạn yếu, giáo viên nên động viên, khích lệ các em này. Tạo điều kiện cho các em, chẳng hạn như cho các em này làm trọng tài trong các trò chơi, các hoạt động thi đua hoặc áp dụng phương pháp tập luyện bằng cách “phục hồi chức năng” với hình thức nhẹ nhàng, nội dung phù hợp để các em này được hoạt động, tạo cho các em một tình thần thoải mái, vui vẻ phấn khởi tập luyện nâng cao sức khỏe cùng các bạn. 2.2.2. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh:
  10. µ Khi dạy bài thể dục phát triền chung: Đây là các động tác nhằm phát triển thể lực chung và rèn luyện tư thế cơ bản đúng cho học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh biết cách thực hiện và thực hiện cơ bản đúng các động tác của bài thể dục. Ngoài việc thực hiện đúng quy trình, vận dụng linh hoạt các phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học nội dung bài thể dục. Muốn vậy, trước khi lên lớp giáo viên phải nghiên cứu kĩ và tập luyện để làm mẫu đúng các động tác. * Khi học động tác mới giáo vên làm mẫu 2 lần 8 nhịp cho lớp xem vừa làm mẫu vừa phân tích kỹ thuật cho lớp nghe và giáo dục học sinh,tinh thần học tập cũng như tác dụng của bài tập. - Giáo viên gọi 2 em lên tập thử, cho lớp quan sát, giáo viên cùng học sinh nhận xét tuyên dương. - Giáo viên điều khiển lớp tập, hô nhịp chậm đều và đi quan sát sửa sai cho các em. - Giáo viên cho cán sự lớp điều khiển lớp tập 2 lần 8 nhịp, giáo viên đi giúp đỡ học sinh sửa sai. - Chia nhóm cho các em tập theo từng khu vực đảm bảo an toàn, qui dịnh thời gian cụ thể cho các em tập, giáo viên nhắc nhở học sinh sửa sai. - Tổ chức thi đua tổ với nhau từ đó đưa ra hình thức khen và hình thức phạt. + VD: Khi hướng dẫn động tác "vươn thở" giáo viên cho lớp quan sát tranh, phân tích kỷ thuật động tác nêu rõ tác dụng của động tác và giáo dục các em, rèn luyện thường xuyên, phát triển tốt sức khỏe, tập kết hợp hít sâu thở ra và chú ý tập trung theo sự hướng dẫn của giáo viên. - Giáo viên làm mẫu động tác hướng dẫn thật kỹ “hô nhịp chậm kéo dài kết hợp hít sâu thở ra” nếu không hướng dẫn kỹ thì các em tập không hít sâu thở ra, không đúng nhịp và biên độ động tác không đạt hiệu quả cao cho các em. - Nên cho 2 em học sinh tập thử 2 lần 8 nhịp, lớp nhận xét tuyên dương. - Giáo viên hô nhịp chậm kéo dài cho lớp tập, quan sát sửa sai cho học sinh.
  11. - Cán sự lớp hô nhịp lớp tập, giáo viên giúp đỡ sửa sai cho các em. - Giáo viên chia nhóm tập theo từng khu vực, qui định thời gian, quan sát giúp đỡ học sinh sửa sai. - Tổ chức thi đua tổ với nhau, giáo viên nhận xét tuyên dương. - Đại diện tổ thi đua, giáo viên cùng học sinh nhận xét tuyên dương. + Một số lỗi học sinh thường sai: tập trước nhịp, đưa tay dang ngang lên cao chưa thẳng chưa ngẩng đầu và hít vào. Vì vậy giáo viên cần cho học sinh xác định rõ hướng đưa tay lên cao, nhớ rõ ngẩng đầu và hít sâu thật kỹ. + Khi hô nhịp, phân tích động tác hướng dẫn bài tập các em chưa hiểu (hiểu chậm), giáo viên cần hướng dẫn giải thích thêm để các em hiểu bằng cách: làm mẫu nhiều lần, cho học sinh tập thử lớp quan sát nhận xét tuyên dương. Tổ chức thi đua tổ vơi nhau nhằm phát huy tính tích cực của các em. + VD: Hướng dẫn học sinh học"động tác chân" giáo viên nêu rõ tác dụng của động tác này có tác động đến chân, toàn thân, sự phối hợp nhịp nhàng, Hướng dẫn thật kỹ như: Nhịp 1 bước chân trái đưa lên cao vuông góc với thân người, đồng thời 2 tay đưa dang ngang cao ngang vai rồi gấp ở khớp khuỷu tay, các ngón tay đặt trên mỏm vai. Nhịp 2: đưa chân trái ra sau, kiễng gót chân, hai tay dang ngang, bàn tay ngửa, căng ngực. Nhịp 3: Đá chân trái ra trước mũi chân duỗi thẳng đồng thời hai tay đưa ra trước, bàn tay sấp, mắt nhìn thẳng. Nhịp 5,6,7,8 như nhịp 1,2,3,4 nhưng đổi chân. Trong khi tập luyện học sinh thường tập không hết biến độ động tác như ở nhịp 1 tay các em chưa nâng tay lên cao, chân chưa nâng đùi nên cao được vuông góc với thân người. Từ đó gây ảnh hưởng rất nhiều đến tác dụng động tác (giáo viên phải thường xuyên giúp đỡ các em sửa sai, giải thích thêm) để các em tập không còn mắc phải khuyết điểm. - Giáo viên cho học sinh tập thử hai em, nêu rõ tác dụng động tác, biên độ động tác và giáo viên cùng lớp nhận xét tuyên dương. - Giáo viên nhấn mạnh yêu cầu ở nhịp khó như nhịp 1: 1 tay các em chưa nâng tay lên cao , chân chưa nâng đùi nên cao được vuông góc với thân người, nhịp 3 chân đá ra