Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 viết các dạng văn bản hành chính
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 viết các dạng văn bản hành chính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_3_v.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 viết các dạng văn bản hành chính
- Phần II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA THỂ LOẠI VĂN BẢN HÀNH CHÍNH I. CƠ SỞ LÍ LUẬN: 1.Cơ sở ngôn ngữ học: 1.1. Đặc điểm nội dung Ngôn ngữ của các văn bản hành chính có những đặc điểm riêng biệt mang phong cách hành chính. Từ ngữ của phong cách hành chính có hai dấu hiệu cơ bản: màu sắc phong cách sách vở vừa phải và tỉ lệ phần trăm cao của các phương tiện khuôn sáo. Thuộc vào hệ thống thuật ngữ của phong cách hành chính là những từ ngữ chỉ tên gọi tổ chức, cơ quan đoàn thể (Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, ủy ban nhân dân, Bộ giáo dục - đào tạo), tên gọi người theo chức trách (thủ trưởng), tên gọi loại tài liệu (thông báo, quy chế), chỉ thể chế hành chính (kính gửi, kính chuyển) Thuộc vào số những khuôn sáo là những từ ngữ như: nay ban hành, trân trọng đề nghị, có hiệu lực từ ngày, chấp hành nghiêm chỉnh. Cú pháp của phong cách hành chính là cú pháp sách vở mang tính chất dập khuôn theo lối văn thư “bàn giấy”, mang tính chất sắc thái khô khan, cứng nhắc nhiều khi “lạnh lùng”. Ở đây không có sự sáng tạo về ngôn ngữ cho cá nhân, không có những yếu tố cảm xúc của ngôn ngữ cá nhân. Văn bản hành chính nói chung, biên bản nói riêng đều tránh cách diễn đạt mơ hồ có thể bị bắt bẻ, xuyên tạc. Ngôn ngữ trong phong cách hành chính rất hay dùng biện pháp lặp lại đặc biệt lặp lại danh từ, ngay trong một đoạn văn ngắn mà không sợ câu văn nặng nề, đơn điệu. 1.2. Đặc điểm hình thức Cũng giống như đặc điểm về nội dung, tính khuôn mẫu là dấu hiệu để phân biệt rõ nét nhất văn bản hành chính với các loại văn bản khác. Văn bản hành chính đòi hỏi sự thống nhất về hình thức (mẫu) trong thể loại biên bản phải có một cấu tạo gồm các bộ phận nhất định với một trật tự sắp xếp nhất định. Ví dụ: + Tên cơ quan ra biên bản (thông báo) phải viết ở vị trí sát lề trái, trên cùng của trang giấy . + Quốc hiệu của một nước bắt buộc phải viết chữ in hoa. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM + Tên gọi tài liệu cũng phải viết chữ in hoa BIÊN BẢN THÔNG BÁO ĐƠN XIN VÀO ĐỘI
- Một số loại biên bản mang mẫu cố định (VD: giấy chuyển tiền, giấy khai báo tạm trú) mỗi loại có một hình thức thống nhất riêng biệt. Tóm lại với các loại văn bản hành chính nói chung, thể loại biên bản nói riêng đều mang đặc điểm hình thức thống nhất (không thể thay đổi cách trình bày hoặc loại chữ viết), nó là nét đặc trưng cơ bản về hình thức để ta có thể phân biệt dễ dàng giữa thể loại văn bản hành chính với các thể loại văn bản khác mà chưa cần đọc nội dung, hình thức. Đó là dấu hiệu quy định riêng của thể loại văn bản hành chính. 1.3. Đặc trưng của thể loại văn bản hành chính Văn bản hành chính có những đặc trưng riêng khác biệt mang phong cánh hành chính. Đó là tính chính xác, minh bạch, tính nghiêm túc, khách quan và tính khuôn mẫu nghiêm ngặt. Tính chính xác trong dùng từ, đặt câu phải đi đôi với tính minh bạch, khúc triết trong kết cấu đoạn văn bản để đảm bảo cho tính xác định, tính đơn nghĩa của nội dung: văn bản hành chính chỉ cho hiểu một cách, không gây hiểu lầm. Tính nghiêm túc, khách quan là dấu hiệu chung của các tài liệu hành chính để diễn đạt tính chất xác nhận, khẳng định ở thể loại văn biên bản, cần đặc biệt quan tâm đến các từ ngữ mang tính nghiêm túc, khách quan để người đọc (dù ở phương diện nào) vẫn hiểu đúng nội dung trong văn bản. Tính khuôn mẫu: Đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt văn bản hành chính với các loại văn bản khác. Một tài liệu hành chính chính thức phải viết đúng theo các mẫu đã được quy định. Đối với thể loại biên bản, tính khuôn mẫu càng được đề cao (so với báo cáo, đơn từ). Điều này được thể hiện ở chỗ: có biên bản theo mẫu cố định, có biên bản không có mẫu quy định nhưng vẫn đòi hỏi những yêu cầu nhất định (không được phép thiếu hoặc sai). 1.4. Cách dạy theo các đặc trưng của thể loại văn biên bản hành chính Như đã nêu ở phần đặc trưng của thể loại biên bản nói riêng, văn bản hành chính nói chung có những nét khác biệt với những loại văn bản khác. Bởi vậy khi thực hành dạy cho học sinh thể loại này người giáo viên cần chú ý: - Để đảm bảo tính chính xác minh bạch, khúc chiết trong kết cấu đoạn mạch của văn bản người giáo viên cần đặc biệt chú ý dạy cho học sinh cách sử dụng từ ngữ trong cách viết biên bản. Thể loại này không đòi hỏi sự sáng tạo về ngôn ngữ mà đòi hỏi cách sử dụng về ngôn ngữ. Với các thể loại văn bản khác, khi dạy giáo viên hướng cho học sinh vận dụng tối đa sự sáng tạo về ngôn ngữ để có được những từ ngữ hay, ẩn ý, hàm ngôn thì ở thể loại này giáo viên dạy cách sử dụng ngôn ngữ là chính. Ngôn ngữ sử dụng để tạo lập biên bản hành
- chính phải chuẩn xác, nghĩa phải rõ ràng. Khi sử dụng không được lầm lẫn các từ ngữ. Sử dụng các từ ngữ có nghĩa rõ ràng, minh bạch để người khác đọc chỉ được phép hiểu đúng nghĩa mà không thể suy đoán, suy luận mơ hồ. - Tính nghiêm túc, khách quan cũng là một đặc trưng của thể loại văn bản hành chính. Điều đó phải đặt ra, phải đòi hỏi người giáo viên phải chú trọng việc dạy học sinh cách diễn đạt nội dung của văn bản. Nội dung này đôi khi cũng được quy định theo một nguyên tắc nhất định, bắt buộc. - Một đặc trưng nữa của thể loại văn bản hành chính là tính khuôn mẫu. Điều này yêu cầu người giáo viên trong giảng dạy phải đặc biệt chú ý từ cách trình bày đến nội dung văn bản, phải có đòi hỏi khắt khe đến mức tỷ mỉ về hình thức và nội dung của văn bản để hình thành được cho học sinh cách tạo lập thể loại biên bản theo đúng mẫu đã quy định, ban hành. 2.Cơ sở tâm lý học Một trong những đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học là tư duy mang tính cụ thể, ghi nhớ một cách máy móc, sự chú ý có chủ định còn yếu. Chính vì vậy khi dạy cho học sinh kĩ năng tạo lập văn bản hành chính nói chung, thể loại biên bản nói riêng cũng có những thuận lợi và khó khăn nhất định. - Thuận lợi: Đa số các thể loại văn bản hành chính đều có những khuôn mẫu nhất định (giống nhau hoàn toàn hoặc gần giống nhau) theo mẫu loại (đơn từ, biên bản, báo cáo). Điều đó rất thuận lợi cho việc học tập của học sinh bởi nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý các em: ghi nhớ máy móc, tư duy cụ thể. Các em chỉ cần học thuộc lòng một cách máy móc các từ ngữ cơ bản, ghi nhớ cách trình bày, chữ viết ở mỗi loại biên bản là đã rất thuận lợi để tạo lập hoàn thiện một biên bản. - Khó khăn: Từ ngữ trong các văn bản hành chính nói chung, thể loại biên bản nói riêng thường rất khó nhớ và xa lạ đối với các em (tên cơ quan, tổ chức, tên gọi theo chức trách, các từ ngữ chỉ thể chế hành chính). Đồng thời từ ngữ khi sử dụng trong biên bản phải chính xác, không được phép nhầm lẫn. Cách diễn đạt trong biên bản phải mạch lạc rõ ràng, không mơ hồ. Những điều đó gây cho học sinh những khó khăn nhất định khi học thể loại này vì tâm lý của các em: sự chú ý có chủ định còn yếu (khó nhớ được chính xác các từ ngữ chuyên ngành) Đó là những thuận lợi và khó khăn cơ bản mà người giáo viên cần nắm được khi rèn cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản thể loại hành chính. Từ đó giáo viên có những định hướng để áp dụng phương pháp cho phù hợp, đạt hiệu quả giáo dục cao nhất.
- II. CƠ SỞ THỰC TIỄN: 1.Như đã nói ở phần đầu, thực tế cuộc sống hiện đại yêu cầu mỗi con người trong xã hội hiện đại phải biết tự tạo lập các văn bản hành chính, vì có lúc cần phải viết. Để giúp các em học sinh Tiểu học làm quen với một số văn bản thường gặp nhất trong trong đời sống, phân môn tập làm văn ở Tiểu học đã cho các em tiếp xúc với một số mẫu văn bản gắn với việc sinh hoạt, học tập và giúp các em luyện tập bằng cách điền, viết hoặc tạo lập các loại văn bản đó theo một số mẫu cho trước. Đó là những văn bản như: biên bản, báo cáo, đơn từ, Điều này giúp học sinh học đi đôi với hành, gắn lí thuyết với thực tiễn. Có thể khái quát các bài tập làm văn trong chương trình SGK Tiếng Việt lớp 3 thành một số kiểu bài như sau: 1. Nghe - kể một câu chuyện. 2. Nói, viết theo chủ điểm. 3. Viết thư. 4. Làm đơn và điền vào giấy tờ in sẵn. 5. Tập tổ chức cuộc họp. 6. Giới thiệu về trường lớp và viết báo cáo hoạt động. 7. Ghi chép sổ tay. Trong đó, học sinh lớp 3 được làm quen với một số văn bản thường gặp nhất trong đời sống: Điền vào giấy tờ in sẵn; Viết đơn; Tập viết thư và phong bì thư; Báo cáo kết quả thi đua; Báo cáo hoạt động; Ghi chép sổ tay... Ưu điểm: + Học sinh được làm quen với biên bản, đơn từ, giấy tờ phục vụ cuộc sống sinh hoạt hiện đại. + Các văn bản được đưa ra có nội dung rõ ràng, cụ thể. Các yêu cầu, mệnh lệnh trong biên bản dễ hiểu. Đặc biệt giữa các bài dạng này học sinh được làm quen và tìm hiểu các bài tập đọc có nội dung tương tự. + Học sinh có thể đọc và điền ngay được một số nội dung theo yêu cầu trong biên bản. Tuy nhiên, mặc dù các em có thể được nghe nói tới loại đơn này, đơn kia, báo cáo này, báo cáo nọ thậm chí có thể nhìn thấy loại văn bản này ở chỗ này, chỗ khác nhưng nghe như vậy, nhìn như vậy không có nghĩa là các em nhớ được chính xác các mẫu văn bản đó hoặc viết được, đặc biệt là viết đúng các văn bản đó. Chính vì thế nó có một số hạn chế : - Các văn bản này đều rất mới lạ đối với học sinh, có nhiều từ ngữ chuyên ngành hơi khó hiểu đối với trình độ học sinh cấp Tiểu học.
- - Thời lượng các tiết học về văn bản hành chính không nhiều, thời gian luyện tập ít, áp dụng thực tế trong cuộc sống hàng ngày ít khiến việc hình thành kỹ năng tạo lập văn bản hành chính một cách thuần thục cho học sinh gặp khó khăn . - Với các tiết báo cáo hoạt động của tổ, lớp là tương đối khó, đòi hỏi sự khái quát và diễn đạt rành mạch, chắc chắn nên mỗi nội dung luyện tập đều được thực hiện qua hai phần: bài tập miệng – bài tập viết (đều bố trí trong cùng tiết học). Giáo viên cần lưu ý học sinh nội dung nói tốt thì viết mới đúng, mới tốt. Ngoài những nhận xét định tính cần có phần số liệu cụ thể để báo cáo tăng sức thuyết phục. 2.Thực trạng việc dạy và học viết văn bản ở trường tiểu học Phúc Đồng. Trong n¨m học này, t«i ®îc ph©n c«ng chñ nhiÖm líp 3c với 41 häc sinh. C¸c em nãi chung tiÕp thu bµi tèt. Ph©n m«n TËp lµm v¨n phần văn bản míi l¹ víi häc sinh nªn c¸c em rÊt tß mß, h¸o høc ®îc häc, ®îc t×m hiÓu. Tuy nhiªn khả năng tự tạo lập văn bản cña c¸c em kh«ng ®ång ®Òu, cã mét sè em cßn chËm, yÕu và thậm chí không biết cách. MÆt kh¸c, do thùc tÕ häc sinh míi ®îc lµm quen víi ph©n m«n TËp lµm v¨n phần văn bản ë líp 3 nªn häc sinh cßn nhiÒu bì ngì, cha cã ph¬ng ph¸p häc tËp bé m«n mét c¸ch khoa häc vµ hîp lý. VÒ ®å dïng d¹y häc, ph¬ng tiÖn chñ yÕu lµ mẫu trong s¸ch gi¸o khoa,việc sưu tầm của học sinh các loại mẫu này còn khó khăn,sö dông cha thêng xuyªn c¸c ph¬ng tiÖn hiÖn ®¹i nh m¸y chiÕu h¾t, b¨ng h×nh lµm cho chÊt lîng giê häc TËp lµm v¨n cha cao. ChÝnh v× vËy, tôi chó ý quan t©m rất nhiều ®Õn viÖc d¹y TËp lµm v¨n phần viết dạng văn bản cho häc sinh.
- Chương II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 VIẾT CÁC DẠNG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH Việc dạy học phân môn Tập làm văn ở Tiểu học là một vấn đề phức tạp do tính chất của phân môn này. Theo quan điểm của tôi, việc dạy học viết dạng văn bản là nội dung khó trong chương trình Tập làm văn lớp 3. Để giáo viên dạy tốt và học sinh học tốt nội dung này không phải là việc một sớm một chiều. Nó đòi hỏi sự nỗ lực lâu dài của cả thầy và trò. Trong khuôn khổ đề tài này, tôi xin đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy viết dạng văn bản qua phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3. 1.Biện pháp 1: Nghiên cứu và phân loại các dạng văn bản được dạy trong phân môn Tập làm văn 3: Bất cứ một môn học nào, để cung cấp cho các em kiến thức chính xác nhất và giúp các em nắm chắc kiến thức, vận dụng được vào thực tế cuộc sống hàng ngày thì người giáo viên cần nắm chắc chương trình, nghiên cứu kĩ các dạng bài trong mỗi phân môn để có phương pháp dạy học thích hợp. Trong môn Tập làm văn dạng bài văn bản (được hiểu là loại tập viết các văn bản hành chính) gồm: đơn từ, báo cáo, biên bản và các loại thư từ, điện tín, ghi chép sổ tay được học trong chương trình Tiểu học. Loại bài này được rèn luyện ở lớp 3 rồi lặp lại và nâng cao hơn ở cuối cấp.
- Ở lớp 3, dạng bài này được cung cấp qua phân môn Tập làm văn như sau: DẠNG BÀI TÊN BÀI TUẦN + Đơn xin cấp thẻ đọc sách 1 Đơn + Đơn xin vào Đội 2 +Đơn xin phép nghỉ học 3 + Đơn xin tham gia sinh hoạt câu lạc bộ Ôn tập kỳ I Điền vào giấy tờ in sẵn Điện báo 3,4 Giới thiệu hoạt động Giới thiệu về tổ em và hoạt động của tổ 14,15 Báo cáo hoạt động Hyac viết báo cáo của tổ theo mẫu. 20 Viết thư +Viết bức thư ngắn cho người thân 10, +Viết bức thư cho bạn ở một tỉnh miền 13 Nam(hoặc miền trung ) để làm quen và hẹn bạn cùng thi đua học tốt. +Viết bức thư ngắn cho một bạn nước 30 ngoài để làm quen và bày tỏ tình thân ái Ghi chép sổ tay 33,34 Với dạng bài này giáo viên cần nắm được: a. Mục đích -Về mặt kiến thức: trang bị cho học sinh một số hiểu biết về những loại văn bản thường gặp trong học tập và đời sống thường ngày, ví dụ như: thư từ, đơn từ, biên bản -Về mặt kĩ năng: giúp các em biết điền chính xác những nội dung cần thiết trong những loại giấy tờ được in sẵn, trên cơ sở đó các em có thể viết được một số văn bản có nội dung đơn giản như: thư từ, báo cáo, biên bản, xoay quanh các vấn đề của nhà trường dựa vào những mẫu có sẵn đã được tìm hiểu . -Về mặt thái độ: rèn luyện tính trung thực, khách quan cho các em khi điền vào giấy tờ in sẵn, khi phải làm đơn, lập biên bản, báo cáo sự việc nào đó trong học tập hay trong đời sống. Qua bài tập làm văn này sẽ bồi dưỡng cho các em những tình cảm lành mạnh và cùng với các bài học khác góp phần hình thành ở các em những nhân cách trong sáng, tốt đẹp. b. Yêu cầu - Với văn bản tự viết phải hiểu rõ mẫu chung của một bức thư, một lá đơn, một báo cáo, một biên bản, để viết cho đúng chuẩn mực. Với những văn bản mang tính chất hành chính, việc nắm được mẫu là hết sức cần thiết vì viết đúng
- mẫu sẽ làm cho người hoặc cơ quan có thẩm quyền nhìn nhận sự việc được chính xác và công việc giải quyết được nhanh chóng, hiệu quả. Khi viết phải đảm bảo việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp với đặc điểm của văn bản. Với văn bản hành chính công vụ là những từ ngữ chuyên dùng, không mang tính biểu cảm. Sử dụng sai đặc điểm ngôn ngữ văn bản sẽ dẫn đến hiệu quả giao tiếp thấp. -Với những loại giấy tờ in sẵn, cần điền đúng và đủ các thông tin vào tất cả các chỗ yêu cầu người viết cần điền. Khi điền thông tin như vậy, nên tránh việc bỏ trống, ngắt quãng hay điền lẫn lộn thông tin trong các mục hoặc thông tin ở dòng này lấn át sang dòng khác.Việc điền như vậy khiến cho cơ quan chức năng mất nhiều thời gian đọc thậm chí rất khó xem xét, giải quyết. - Khi viết văn bản phải viết rõ ràng, sạch sẽ, tránh tẩy xóa, không viết bằng bút chì, bút mực đỏ trong văn bản hành chính . - Cần nắm rõ về mặt cấu tạo, về mặt nội dung, về mặt yêu cầu luyện tập của loại bài tập làm văn viết văn bản. Từ việc nắm được mục đích, yêu cầu từng dạng bài mà mỗi giáo viên đưa ra được phương pháp dạy học tối ưu nhất nhằm đạt hiệu quả cao cho giờ dạy của mình. 2. Biện pháp 2: Giúp học sinh nhận biết các văn bản hành chính Nội dung chính là rèn kĩ năng viết các văn bản thông thường: viết đơn, điện báo, viết thư, viết báo cáo, ghi chép sổ tay Trước hết, để rèn cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản hành chính nói chung, thể loại biên bản nói riêng ngưới giáo viên phải giúp học sinh biết cách nhận biết và phân biệt được văn bản hành chính với các văn bản khác dựa vào đặc điểm cơ bản của nó. Dấu hiệu nhận biết: + Dựa vào hình thức: Người giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách nhận diện các biên bản hành chính ngay khi nhìn vào hình thức trình bày (mà chưa cần đọc nội dung) đó là: - Cánh sử dụng chữ viết trong văn bản (theo mẫu ) Ví dụ: Tên cơ quan ra quyết định, biên bản, quốc hiệu bắt buộc phải viết chữ in hoa. - Cách sắp xếp từ ngữ: trong biên bản nội dung nào ghi trước, ghi sau. Tên cơ quan đặt ở vị trí nào của trang giấy, tên người gọi theo chức trách viết ở vị trí nào. + Dựa vào nội dung:
- - Cách nhận biết dựa vào nội dung của văn bản hành chính là hệ thống các từ ngữ mang phong cách hành chính. Ví dụ: Tên cơ quan, tên người gọi theo chức trách, tên gọi loại tài liệu, các từ ngữ chỉ thể chế hành chính + Dựa vào cấu tạo: Để giúp học sinh điều này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo của các văn bản hành chính thể loại biên bản thành hai phần cơ bản (tạm gọi là phần cứng và phần mềm) - Phần cứng: Là phần mà bất kỳ mội biên bản nào cũng đều bắt buộc phải có mà không thể thay đổi được đó là: - Cách trình bày văn bản theo một mẫu cố định (hoặc theo quy định về cách trình bày văn bản) - Hệ thống thuật ngữ của phong cách hành chính (không thể thay thế ) VD: Các từ ngữ chỉ thể chế hành chính: kính gửi, kính chuyển - Phần mềm: Là phần nội dung viết (hoặc điền) theo yêu cầu của từng loại biên bản cụ thể (có thể thay đổi). Phần này giáo viên hướng dẫn học sinh viết theo nội dung biên bản trong những trường hợp cụ thể khác nhau. VD: Biên bản sinh hoạt lớp, biên bản đại hội chi đội, báo cáo hoạt động. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh điền các nội dung theo đúng yêu cầu của các biên bản in sẵn như: Điện báo, đơn xin vào đội, báo cáo hoạt động. 3. Biện pháp 3: Lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với các dạng bài Nhìn chung các văn bản nêu trên xuất hiện khá khá phổ biến trong cuộc sống thường ngày, nhưng với học sinh Tiểu học nhất là với học sinh lớp 3 thì đây còn là vấn đề khá mới mẻ. Bởi vậy, để dạy học loại bài tập làm văn viết văn bản có kết quả, phương pháp dạy học được sử dụng chủ yếu là phương pháp sử dụng mẫu và làm theo mẫu. 3.1.Kiểu bài Viết đơn Bước 1: Giáo viên giới thiệu mẫu văn bản Việc lựa chọn mẫu văn bản dạy học đã được sách giáo khoa chọn lựa. Đây là những văn bản gắn chặt với việc học tập của các em như: viết đơn xin cấp thẻ đọc sách; viết đơn xin vào Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; viết đơn xin nghỉ học; Tính chất thiết thực của việc viết các văn bản này đã lôi cuốn được sự chú ý của học sinh. Tuy thế, mẫu được in ấn thường phủ hết nửa trang sách nên sự chú ý của các em bị phân tán, không tập trung. Bởi vậy, khi
- giới thiệu mẫu, giáo viên cần phải lần lượt chỉ ra từng đặc điểm của mẫu và nhắc đi nhắc lại những đặc điểm ấy trong suốt quá trình luyện tập. Khi giới thiệu mẫu đơn từ, giáo viên cần cho học sinh đọc mẫu và đặc biệt là quan sát mẫu thật kĩ . Việc này giúp học sinh cảm nhận được đầy đủ hơn bố cục chung của mẫu, hình thức trình bày của mẫu, kích cỡ các con chữ của mẫu trong mối quan hệ đầy đủ, hoàn chỉnh giữa các phần khác nhau của một lá đơn. Việc “cảm” như vậy ở các em thường không đầy đủ, thậm chí có khi còn sai lệch, vì thế trong khi giới thiệu mẫu, giáo viên cần phải lần lượt chỉ ra các đặc điểm của mẫu một cách cụ thể và rõ ràng để điều chỉnh cách “cảm” của học sinh, để hướng các em đến với những nhận thức chính xác, hoàn chỉnh về mẫu. Chẳng hạn, khi giới thiệu mẫu Đơn xin vào Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh như một chuẩn về cách viết văn bản đơn từ để học sinh làm theo: ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH ., ngày tháng năm . ĐƠN XIN VÀO ĐỘI Kính gửi: - Ban phụ trách Đội Trường ...................................................................................... - Ban chỉ huy liên Đội Em tên là : Sinh ngày: . Học sinh lớp: Trường: Sau khi được học Điều lệ và lịch sử Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, em thấy Đội là tổ chức tốt nhất để rèn luyện thiếu niên trở thành những người có ích cho đất nước. Em làm đơn này xin được vào Đội và xin hứa : - Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy - Tuân theo Điều lệ Đội - Giữ gìn danh dự Đội Người làm đơn . Giáo viên giúp học sinh nhận biết các đặc điểm sau của một lá đơn: + Bố cục chung của lá đơn được sắp xếp theo trình tự từ trên xuống dưới như nhau: 1) Tên tổ chức hay Tiêu ngữ (chính giữa đơn) 2) Địa điểm và ngày, tháng, năm viết đơn ( lệch về phía bên phải đơn) 3) Tên đơn (chính giữa đơn) 4) Nơi nhận đơn (hoặc người nhận đơn)
- 5) Họ tên người viết đơn 6) Học sinh lớp, trường ( hoặc nơi ở ) 7) Nội dung lá đơn ( trình bày lí do, nguyện vọng ) 8) Lời hứa ( hoặc lời cảm ơn) của người viết đơn 9) Chữ kí và họ tên của người viết đơn + Hình thức lá đơn 1) Tiêu ngữ: viết chữ in hoa ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH 2) Tên đơn: viết chữ in hoa, chính giữa đơn và cách một dòng cũng như hàng trên với hàng dưới. ĐƠN XIN VÀO ĐỘI + Lời lẽ trong đơn: ngắn gọn và có những từ ngữ được sử dụng theo mẫu, không cần thay đổi bên cạnh những từ ngữ tùy người viết tự chọn. Hiệu quả việc viết văn bản theo mẫu của học sinh tỉ lệ thuận với việc giới thiệu mẫu của giáo viên và việc hiểu mẫu của học sinh. Bước 2: Học sinh thực hành tạo lập từng phần văn bản theo mẫu Nếu mẫu văn bản chỉ đòi hỏi học sinh điền những thông số thích hợp, hay nói một cách khác, mẫu chỉ cần học sinh điền mà không cần suy nghĩ gì nhiều thì sau khi đã giới thiệu kĩ về mẫu, giáo viên có thể cho tiến hành viết (điền thông số) văn bản. Với những trường hợp học sinh phải tự viết mà không chỉ là điền thông số, giáo viên có thể cho học sinh viết lần lượt từng phần. Trình tự có thể hướng dẫn như sau: - Viết phần mở đầu: Tiêu ngữ (viết in hoa chính giữa đơn), địa điểm và ngày tháng năm viết đơn (lệch về phía bên phải đơn), Tên đơn( viết hoa chính giữa và cách một dòng với hàng trên , hàng dưới ), nơi nhận đơn. Sau khi viết phần đầu như vậy, giáo viên có thể cho học sinh tự nhận xét và sửa lỗi của mình. Khi học sinh đã thực hiện không sai sót gì trong phần viết này, giáo viên mới cho chuyển tiếp sang phần tiếp theo. - Viết phần tự thuật : Họ tên người viết đơn, học lớp, trường, nơi ở, Học sinh cần viết được đầy đủ, chính xác những thông tin này về bản thân. Sau đó giáo viên cũng cho các em phát hiện và sửa chữa lỗi, đặc biệt là lỗi viết hoa tên riêng (tên người, tên trường). - Viết phần nội dung: Trình bày lí do, nguyện vọng, của người viết. Với mỗi loại đơn từ khác nhau, nội dung viết cũng sẽ khác nhau. Đơn xin vào Đội khác Đơn xin cấp thẻ đọc sách; Đơn xin cấp thẻ đọc sách khác với Đơn xin nghỉ học, Mỗi em có một lí do riêng, một nguyện vọng riêng nên khi viết các em

