Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 phát hiện và sửa lỗi để viết đúng viết đẹp

doc 29 trang Chăm Nguyễn 28/12/2025 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 phát hiện và sửa lỗi để viết đúng viết đẹp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_3_p.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 phát hiện và sửa lỗi để viết đúng viết đẹp

  1. chuẩn mực .” Qua nghiên cứu và thực tế rèn luyện học sinh viết chữ đẹp lớp 3 sau mỗi năm tôi lại đúc rút ra một số kinh nghiệm để giảng dạy ngày một tốt hơn,hiệu quả hơn. 2. Nhiệm vụ: Môn Tiếng Việt ( Viết ) có vị trí quan trọng. Bởi vì, giai đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng viết cho học sinh. Tập viết được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêng, mang tính thực hành, luyện tập. Bởi lẽ, chỉ có thực hành viết mới hình thành các kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh. Ngoài ra còn rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt. Chính vì vậy, tôi viết sáng kiến này nhằm nghiên cứu thực trạng chữ viết của học sinh lớp 3 thông qua các tiết học của môn tiếng Việt (Viết) và nêu ra một số biện pháp cụ thể phù hợp để rèn chữ viết đúng và đẹp cho học sinh lớp 3 qua các giờ Tiếng việt ( Viết ) III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU. - Phạm vi :Nội dung môn Tiếng Việt và đi sâu vào Rèn luyện kĩ năng viết chữ đúng và đẹp trong các tiết của môn Tiếng việt ( Viết) nói riêng. - Đối tượng nghiên cứu là học sinh Tiểu học.. Trực tiếp là lớp 3a6. IV. THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI - Thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài từ tháng 9/2022 đến tháng 4/2023. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau: 1) Nhóm nghiên cứu lý luận: - Đọc và thu thập tài liệu. - Xây dựng đề cương. - Viết bản nháp. - Hoàn thành đề tài. 2) Nhóm nghiên cứu thực tiễn: - Khảo sát thực tế. - Dự giờ đồng nghiệp. - Thực nghiệm sư phạm. - Thống kê số liệu. 3) Phương pháp bổ trợ: - Thống kê Toán học. - Các bảng biểu, sơ đồ.
  2. 4) Phương pháp khảo sát: Tôi đã vận dụng phương pháp này để tìm hiểu và rà soát kĩ năng viết ở lớp 3. PHẦN THỨ HAI: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP 1) Cơ sơ lí luận: - Nhân cách CON NGƯỜI được hình thành “ Bằng hoạt động” và “ Thông qua hoạt động” - Thông qua các hoạt động học tập, lao động, vui chơi quá trình nhận thức của các em được phát triển theo các mức độ khác nhau - Mục đích của phương pháp dạy học môn Tiếng viêt (Viết) cũng như các môn khoa học khác nói chung là tổ chức sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh. Chuẩn bị cho các em hành trang đi vào cuộc sống, lao động xã hội mới. Do đó mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục đề ra là phát triển trí tuệ, hình thành thế giới khoa học phát triển tư duy sáng tạo thông qua các kĩ năng và kĩ xảo cho học sinh. Giúp các em có năng lực và thói quen viết đúng và viết đẹp chữ tiếng Việt văn hoá, tiếng Việt chuẩn mực lớp 3. 2) Cơ sở thực tiễn: - Về phía giáo viên: Chữ viết mẫu chưa đẹp đồng đều, do đó khi giảng dạy và rèn chữ viết cho học sinh có chất lượng và hiệu quả chưa cao, phần luyện tập thực hành còn ít, giáo viên chưa uốn nắn, sửa sai cách viết, chữ viết trong giờ viết cho học sinh một cách triệt để. - Việc rèn chữ viết đúng và viết đẹp cho học sinh phải có một quá trình rèn rũa lâu dài, không phải đến lớp 5 mới được hình thành và rèn luyện mà đã được dạy ngay từ lớp 1. Khi lên lớp 2, lớp 3 các em đã đọc thông, viết thạo, có nhiều em đã viết nhanh nhưng viết ngoáy, viết cẩu thả, viết sai kích thước các con chữ, nên đòi hỏi giáo viên cần rèn cho học sinh viết chữ đúng và viết đẹp là điều mà không chỉ có phụ huynh học sinh và nhà trường quan tâm mà xã hội và cả ngành giáo dục đều quan tâm một cách đặc biệt . 3) Cơ sở tâm lí: - Học sinh tiểu học thường hiếu động, thiếu kiên trì, mà môn học Tiếng viêt ( Viết) đòi hỏi phải có quá trình vận động của mắt, vận động của tay, khả năng nghe, nhìn, có tư duy, có tình cảm, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ, hiểu và viết những gì đọc được. Với việc rèn cho học sinh lớp 3 viết đúng và viết đẹp trong đòi hỏi có một quá trình lâu dài, nên khi dạy Tiếng viêt ( Viết) cho học sinh Tiểu học cần có trực quan sinh động, chữ mẫu chuẩn mực để gây hứng thú cho học sinh hoặc các hình thức tổ chức trò chơi nâng cao kĩ năng rèn
  3. chữ viết đúng và đẹp tạo cho không khí giờ học vui tươi, sinh động, góp phần nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ( Thực trạng khi chưa có kinh nghiệm thực hiện): 1) Thuận lợi: - Về phía học sinh : Các em rất ngoan và có ý thức vươn lên trong học tập. + Đa số các phụ huynh quan tâm việc học của con em mình thể hiện thành công ở mô hình học bán trú 2 buổi/ ngày, ở sự chuẩn bị cho các em đầy đủ các loại sách vở, đồ dùng học tập cần thiết. - Giáo viên: Với 33 năm công tác, có sự say mê với việc rèn chữ viết cho học sinh, được sự chỉ đạo sát sao, sự hướng dẫn nhiệt tình của Ban giám hiệu cùng với sự động viên của các đoàn thể và đồng nghiệp tôi rất yên tâm và nhiệt tình trong công tác giảng dạy. - Về phía Nhà trường: + Nhà trường trang bị đầy đủ cho mỗi phòng học một bảng chống loá có dòng kẻ ô li rất hiệu quả cho việc rèn chữ viết cho học sinh. + Trong mỗi phòng học có đủ 14 bóng điện thắp sáng, có quạt mát cho mùa hè và học sinh ngồi bàn ghế 2 chỗ rất thuận lợi cho việc giáo viên khi giảng. 2)Khó khăn: Một số em ở xa ( 6km, 4km, 3km) đi lại vất vả nên không đảm bảo thời gian học tập (trong những hôm trời mưa). - Chữ viết của học sinh trong lớp không đồng đều, các em còn viết sai rất nhiều, một số em có thói quen cầm bút sai, để vở chưa đúng quy định nên ảnh hưởng đến chất lượng chung của lớp. Một số em kinh tế gia đình còn eo hẹp ( hộ nghèo) nên đồ dùng học tập còn thiếu. 3) Khảo sát thực tế qua giờ dạy: Qua thực tế giờ dạy tôi nhận thấy như sau: a , Về giáo viên: * Ưu điểm: Nhiệt tình, truyền thụ đầy đủ nội dung bài học cho học sinh bám sát theo chương trình và sách giáo khoa và theo đúng kế hoach của nhà trường đề ra. * Hạn chế: Giáo viên chưa tổ chức được nhiều trò chơi trong giờ học cho học sinh nên ít gây hứng thú cho học sinh trong học tập. b ,. Về học sinh: * Ưu điểm: Hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài, có tinh thần thi đua học tập. * Hạn chế: Khi luyện tập các em cứ viết theo bản năng mà chưa thực sự chú ý đến việc nắn nót để rèn chữ cho đúng và đẹp.
  4. c, Số liệu khảo sát trước khi thực hiện đề tài: PHIẾU KHẢO SÁT HỌC SINH TRƯỚC KHI LÀM SÁNG KIẾN BÀI KIỂM TRA Lĩnh vực : Tiếng Việt ( Viết) Thời gian: 15 phút Lời nhận xét của giáo viên Đề bài: Học sinh nghe- viết bài: “Tôi yêu em tôi” ( Viết 4 khổ thơ đầu)- sách Tiếng Việt 3- Tập 1. Kết nối tri thức. Tôi yêu em tôi Nó cười rúc rích Mỗi khi tôi đùa Nó vui, nó thích. Mắt nó đen ngời Trong veo như nước Miệng nó tươi hồng Nói như khướu hót. Hoa lan, hoa lí Nó nhặt cài đầu Hương thơm theo nó Sân trước ,vườn sau. Tôi đi đâu lâu Nó mong , nó nhắc Nó nấp sau cây Òa ra ôm chặt. ( Phạm Hổ) * Sau khi học sinh viết hoàn thành bài, tôi có kiểm tra, nhận xét bài viết. Tôi thấy lượng học sinh viết đúng tỉ lệ chưa cao. Phần nhiều học sinh vẫn còn mắc ít nhiều. Đặc biệt một số học sinh viết sai rất nhiều khi viết Chưa phân biệt cách viết âm đầu của một số tiếng hoặc vần còn nhầm lẫn. Tiêu biểu về những lỗi sai là: Chưa phân biệt được viết l/n : Nó cười Ló cười; nói như lói như Nó nấp ló lấp. Chưa phân biệt được viết r/ d/ gi. Rúc rích dúc dích ( hoặc rúc dích; hoặc dúc rích, giúc rích .) Chưa phân biệt được viết ch/tr : sân trước sân chước trong veo chong veo Chưa viết đúng vần như: vườn vờn ..v v .. Nguyên nhân dẫn đến viết sai là do phát âm sai, đọc như thế nào viết như thế đó, chưa phân biệt rõ cách đọc nhất là s/x, ch/tr, gi/d/r , và các phụ âm cuối n-ng thường hay lẫn lộn. Mặc khác do tính hiếu động của học sinh tiểu học
  5. nên các em thường hay cẩu thả, nghĩ như thế nào là viết như thế ấy, mặt khác còn do hạn chế về mặt phương pháp. 2. Vừa nghiên cứu kết quả từ phiếu điều tra, vừa qua thực tế các bài học ở lớp, tôi thấy tình trạng học sinh mắc chủ yếu về lỗi viết thường là:  Ch viết thành Tr : Ví dụ : trong chạn ..> trong trạn , chai lọ .> trai lọ  S viết thành X : Ví dụ : hi sinh hi xinh, sục sôi sục xôi, sườn đê xườn đê .  X viết thành S : Ví dụ : xa xôi xa sôi , làm xong làm song  T viết thành C : Ví dụ : thứ nhất thứ nhấc , nhất định nhấc định  C viết thành T : Ví dụ: nhấc bổng nhất bổng, xác ve xát ve, xác xơ xát xơ  N viết thành Ng : Ví dụ: gắn huy hiệu gắng huy hiệu, thằn lằn thằng lằng  Ng viết thanh N : Ví dụ : cố gắng cố gắn , nặng 20 kg nặn 20 kg  l viết thanh n : Ví dụ : lấp lánh nấp nánh  Dấu hỏi ( ? ) viết thanh dấu ngã ( ~ ) : Ví dụ : Khi học sinh đọc chưa chuẩn từ sẽ dẫn đến viết sai chính tả như: suy nghĩ suy nghỉ, quãng đồng quảng đồng Ngoài những lỗi viết đã nêu trên, tôi không tính những trường hợp viết hoa tuỳ tiện, viết hoa không đúng quy định, nghĩa là trường hợp cần viết hoa lại không viết hoa ( như tên riêng, tên người, sai dấu chấm ) Đây là kết quả mà tôi thu được ngay tại lớp mình trực tiếp giảng dạy . Tổng số HS Viết đúng Mắc lỗi . Thỉnh thoảng Mắc lỗi mắc lỗi nhiều 34 SL % SL % SL % 34 8 23,6 20 58,8 6 17,6
  6. TSHS Viết sai Viết đúng Độ cao, khoảng cách Dấu thanh Vần Phụ âm đầu 34 12 7 3 4 8 3. Nguyên nhân dẫn đến việc viết sai.  Do nhiều cách phát âm khác nhau, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh viết sai. Học sinh thường viết sai các trường hợp sau: Ví dụ: + Sai khi không phân biệt được ch / tr, s / x, d / gi, sai về vần uôi - ui, sai về âm cuối n/ ng, t/c; sai về thanh dấu hỏi ( ? ) , dấu ngã ( ~ ) . + Sai khi không phân biệt được k lại viết c : ví dụ: cũ kĩ cũ cĩ ; c lại viết là q : cuối năm quối năm. + Sai khi không phân biệt được ng/ ngh; g/ gh. Viết là nghờ, nghỡ ngàng, nghất, nghuyễn (thay cho ngờ, ngỡ ngàng, ngất, nguyễn); nge, ngiêm, ngèo, ngi (thay cho nghe, nghiêm, nghèo, nghi ) CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN . I. Những biện pháp chung 1- Một số nguyên tắc cơ bản của việc dạy-học Tiếng Việt ( viết). 2- Một số giải pháp cụ thể để khắc phục lỗi chính âm. 3,- Một số giải pháp cụ thể để khắc phục lỗi sai khi viết. 4,- Dạy Tiếng Việt( Viết) trong nhà trường tiểu học. 5. - Một số biện pháp khác. II. Những biện pháp cụ thể. 1. Một số nguyên tắc cơ bản của việc dạy-học viết : a, Kết hợp chặt chẽ giữa chính âm khi viết. -Nguyên tắc chính tả là nguyên tắc ngữ âm học. Theo nguyên tắc này cách viết của từ (tiếng) phải biểu hiện đúng âm hưởng của từ (tiếng) đó. Nói cách khác phát âm như thế nào thì viết như thế ấy, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau. Ví dụ: Trong bài Viết nghe viết, học sinh thường phải trải qua ba hoạt động tai nghe miệng đọc tay viết ( khi mới học thì thường lẩm nhẩm trong miệng, khi đã viết thành thạo thì đọc thầm trong óc trước khi viết). Như vậy, lời đọc của thầy phải một lần thông qua lời đọc của trò mới thành chữ viết trong bài viết , nếu thầy đọc đúng mà trò nhận sai thì vẫn viết sai, từ những điều đó có thể đi đến kết luận: dạy Tiếng Việt ( Viết) phải kết hợp chặt chẽ với việc rèn luyện
  7. kỹ năng phát âm đúng. Muốn vậy, trước hết là thầy giáo phát âm đúng, sau đó học sinh cũng phải rèn luyện để phát âm đúng. Nói rằng Tiếng Việt (Viết) là viết đúng ngữ âm học, giữa cách đọc và cánh viết thống nhất với nhau là nói về nguyên tắc chung, còn trong thực tế sự biểu hiện giữa mối quan hệ giữa đọc (phát âm) và viết (viết ) khá phong phú và đa dạng. Cụ thể, Tiếng Việt( Viết) không dựa hoàn toàn vào cách phát âm thực tế của một phương ngữ nhất định nào, cách phát âm thực tế của các phương ngữ đều có sự sai lệch về chính âm, cho nên không thể hoàn toàn thực hiện theo phương châm "nghe như thế nào, viết như thế ấy" được . Như vậy, phát âm làm cơ sở cho Tiếng Việt ( Viết) không phải là phát âm riêng của một địa phương nào cả, mà là sự tổng hợp của lối phát âm của cả ba miền Bắc - Trung - Nam. b. Viết đúng ngữ nghĩa Trên lý thuyết chuẩn phát âm phải được giải quyết trước chuẩn Viết, vậy viết đúng là một biện pháp giúp người viết đúng từ, đúng âm . Ngoài lỗi viết sai do dùng từ không đúng âm, người viết còn có thể viết sai vì hiểu không rõ nghĩa của từ ấy. Muốn viết đúng thì việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng, hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng . Ví dụ: Để học sinh phân biệt đúng tiếng có âm d/gi/r, giáo viên đọc " gia đình "hoặc"da thịt" hay "ra vào" (được trọn vẹn từ, mỗi từ gắn một nghĩa xác định) thì học sinh dễ dàng viết đúng . Vì vậy có thể nói rằng ngữ âm Tiếng Việt còn là loại ngữ nghĩa. c. Kết hợp Viết có ý thức và Viết không có ý thức Tiếng Việt (Viết ) có ý thức: Để viết đúng học sinh cần vận dụng có ý thức một số qui tắc làm căn cứ để có thể viết đúng tất cả các từ (các chữ) nằm trong phạm vi, qui tắc mà không cần gắng sức ghi nhớ cách viết của từng từ một. Dạy viết theo con đường ý thức cho học sinh có nhiều thuận lợi : Ví dụ : Học sinh sẽ nắm được các quy tắc viết sau :  Khi đứng trước nguyên âm : i , ê , e Là âm “ k” Âm “ gh” Âm “ngh”  Khi đứng trước các nguyên âm : u; ô; o; a; ă; â Âm “c” ; Âm “g”; Âm “ng”  Khi đứng trước âm đệm là “u” phải viết là "q" Tiếng Việt ( Viết ) không có ý thức
  8. Tiếng Việt còn viết theo thói quen, theo truyền thống lịch sử, không gắn với một qui luật, qui tắc nào cả. Chẳng hạn các trường hợp phân biệt : d và gi, s và x , tr và ch, l và n ,... gặp các trường hợp này tốt nhất là phải cho học sinh sử dụng các hiện tượng chính tả dễ nhầm lẫn nhiều lần, ghi nhớ máy móc từng trường hợp. Theo Phan Ngọc: " Nói chung phần lớn những người viết đúng hiện nay đều dựa vào cách nhớ từng từ một" (Dẫn theo Phan Ngọc - chữa lỗi Chính tả cho học sinh- NXB Hà Nội 1982 - trang 7). 2. Một số giải pháp cụ thể để khắc phục lỗi chính âm - Trước hết người giáo viên phải phát âm chuẩn trong tất cả các giờ lên lớp. Đặc biệt là ở phân môn Tiếng Việt ( Đọc, Viết) vì có nghe đúng học sinh mới có thể viết đúng. - Trong tiết Tập đọc hoặc Viết, khi phát âm mẫu những tiếng (từ ) khó giáo viên phải đứng ở vị trí mà cả lớp dễ quan sát (khuôn miệng). - Giáo viên nên mô tả cách phát âm những tiếng ( từ ) khó cho học sinh dễ dàng thực hiện hơn (chú ý vị trí của lưỡi, độ mở (há) của miệng và hình dáng của môi ). Khi mô tả giáo viên nên dùng những từ, ngữ dễ hiểu không nên dùng thuật ngữ khoa học, dài dòng, điều này sẽ gây rắc rối, khó hiểu cho học sinh. - Luyện cho học sinh nghe và phát âm đúng, giúp cho học sinh nhận ra sự khác nhau giữa tiếng ( từ ) hay lẫn lộn Tóm lại: Muốn luyện cho học sinh phát âm đúng chuẩn thì giáo viên phải nắm được những kiến thức cơ bản về ngữ âm học. 3. Một số giải pháp cụ thể để khắc phục lỗi sai khi viết. Muốn dạy học sinh viết đúng, viết đẹp giáo viên cần phải quan tâm những biện pháp chủ yếu sau : a,. Kết hợp phát âm và tri giác chữ viết: ( tức là ghi nhớ mối liên hệ giữa âm thanh ngôn ngữ và kí hiệu chữ viết) - Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh được quan sát chữ viết . - Học sinh tự phân tích tiếng theo 3 bộ phận: phụ âm đầu, vần và thanh. Ví dụ: tiếng “ toàn “ gồm có âm “ t “ kết hợp với vần “ oan “ và dấu huyền . - Học sinh được luyện thao tác viết để nhớ mặt chữ lâu hơn (cho học sinh viết bảng con hoặc giấy nháp những tiếng (từ) khó trước khi viết bài ). b,Kết hợp ghi nhớ hình thức chữ viết của từ và nghĩa từ mà chúng biểu hiện. Đặt từ trong ngữ cảnh để học sinh dễ hiểu . Ví dụ: Em để dành cho bé chiếc kẹo. Em không giành lấy phần hơn cho mình . c. Kết hợp nghe hiểu và viết đúng: - Trước khi viết một từ do giáo viên đọc, học sinh có thể nêu nghĩa của nó bằng cách mô tả sơ lược hoặc đặt câu với từ đó .
  9. Ví dụ: “Chiếc nạng theo đóng dấu tròn trên bờ ruộng” (TiếngViệt 3 tập 2) “dấu” ở đây nghĩa là vết tích của vật nào đó. “ Bạn A đã giấu biệt bài kiểm tra bị điểm hai của mình", “giấu“ ở đây nghĩa là cất đi không cho người khác biết . - Kết hợp “liên tưởng“ hay “so sánh“ ngắn gọn về chữ khó viết ngay trong khi đọc để học sinh viết. Ví dụ : Khi đọc cụm từ “ đi làm nương“ có thể cho học sinh so sánh : nương khác với lương trong lương thực . e. Đảm bảo cho học sinh được thực hành và luyện tập nhiều: Giáo viên tăng cường hệ thống bài tập thực hành dựa vào tình hình viết của lớp, tăng cường các hoạt động ngoại khoá . Ví dụ : Cho học sinh thi phát âm chính xác, thi đố vui, thi sổ tay từ láy Tiếng Việt và các trò chơi ngôn ngữ g. Khắc phục lỗi do học sinh cẩu thả, tuỳ tiện dẫn đến viết thiếu dấu, thiếu nét hoặc thừa nét. Đối với trường hợp này, giáo viên cần uốn nắn lại quy trình viết cho học sinh bằng cách yêu cầu học sinh viết các con chữ liền nét với nhau, thêm dấu phụ từ trái sang phải sau khi đã viết xong con chữ cuối cùng của mỗi chữ viết. Rèn cho học sinh một số phẩm chất như : tính kỷ luật, cẩn thận qua việc viết nắn nót, đúng quy trình ... rèn óc thẩm mĩ với việc viết ngay thẳng, đúng dòng, chữ viết đẹp... Và từ đó bồi dưỡng cho các em thêm tự hào và yêu quý Tiếng Việt. Muốn đạt được điều này, trước hết giáo viên phải làm gương: chữ viết đẹp, mẫu mực ở mọi nơi, mọi lúc; đặc biệt là chữ viết trên bảng và chữ khi phê vào vở của học sinh. Ngoài ra, khi học sinh mắc lỗi do nguyên nhân nào đó, giáo viên cần kịp thời chỉ ra lỗi sai, bằng cách lấy bút đỏ gạch chân dưới chữ sai để học sinh nhận ra lỗi sai và tự sửa. Có thể gọi học sinh lên bảng chữa trên bảng lớp hoặc viết vào “sổ tay Tiếng Việt” một vài dòng. h. Chấm chữa bài viết cho học sinh: Giáo viên phải chấm chữa bài cho học sinh thật chu đáo và phải có trách nhiệm cao. Cụ thể là : - Đối với Môn Tiếng việt . (Viết) Giáo viên chấm, chữa bài cho học sinh trong vở nhất thiết phải dùng bút mực đỏ và cần chú ý gạch dưới những chữ viết sai , giáo viên không chữa hộ cho học sinh . - Đối với phân môn khác: Giáo viên vẫn đánh lỗi những chữ viết sai, nhắc nhở học sinh cách viết đúng chứ không chờ đến giờ viết mới nhắc nhở, sửa chữa.
  10. * Ngoài những biện pháp đã nêu trên, giáo viên cần giúp học sinh nắm được một số quy tắc sau đây nhằm khắc phục những lỗi viết sai do ảnh hưởng cách phát âm của Tiếng Việt địa phương * Về phụ âm đầu: + Phân biệt Tr / Ch : cần nhớ một số quy tắc: ❖ Chỉ có ch chứ tr không bao giờ kết hợp với những vần bắt đầu bằng oa , oă , oe . Ví dụ : choáng mắt, ôm choàng, loắt choắt, chí choé, choèn choẹt . ❖ Về nghĩa : những từ chỉ quan hệ gia đình đều viết ch ( cha, chú, chồng, chị, cháu, chắt, chít ...) . Những từ chỉ đồ dùng trong nhà phần lớn viết bằng chữ ch ( chạn, chum, chén, chai, chõng, chiếu, chảo, chậu , chày , chổi , ...) + Phân biệt S/X: cần nhớ một số quy tắc sau : ❖ S - Không đi với các vần oă, oe ,uê, do đó ta chỉ gặp X - ở những vị trí ấy Ví dụ : tóc xoăn , xoắn ốc , xoè cánh , xuề xoà , không xuể ... ❖ Trong từ láy S- và X - không láy nhau . Ta có thể gặp những trường hợp điệp X- hoặc điệp S- ❖ Ngoài hai quy tắc trên , viết S- và X- không thành quy luật, vì vậy cách sửa cho học sinh là rèn luyện trí nhớ bằng đọc nhiều, viết nhiều để quen với hình thức chữ viết của các từ có S- hoặc X-. + Phân biệt D / Gi / R : cần nhớ một số quy tắc ❖ R và Gi- không kết hợp với vần có âm đệm, mà vần có âm đệm luôn đi với D- Ví dụ: doanh nghiệp, duy trì, duyên nợ, doạ nạt, duyệt binh... ❖ Trong từ Hán Việt : những tiếng mang thanh "ngã", thanh "nặng" thì với D-(diễn viên, diện tích, hãnh diện, diệu kì, dũng cảm,...); những tiếng mang thanh "hỏi" thì viết với Gi-(giải thích, giảng giải, giả định, giáo sư , giáo viên,...) ❖ Trong từ láy D- và Gi-không láy với nhau. Nếu trong từ láy có một tiếng viết là D- ( hoặc Gi- ) thì tiếng thứ hai sẽ lập lại đúng D- (hoặc Gi) chứ không lẫn lộn Ví dụ : Dai dẳng, dông dài, dở dang, dồi dào, day dứt, da diết,... Giữ gìn, giỏi giang, giãy giụa ,... + Phân biệt L / N : cần nhớ một số quy tắc sau : ❖ N- không kết hợp với âm đệm, tức là trước các vần bắt đầu bằng oa , oă , uâ ,oe , uê , uy ( trừ hai trường hợp : thê noa , noãn sào ); nhưng L-lại kết hợp được
  11. Ví dụ: Loè loẹt, loà xoà, loang lổ, loắt choắt, luật pháp, luyến tiếc, luẩn quẩn,... ❖ N- xuất hiện trong từ láy âm và L-xuất hiện trong từ láy vần Ví dụ: No nê, nóng nảy, nao núng ,... lờ đờ, lai rai, lim dim, lao xao, lanh chanh,... ❖ Trong từ láy L-hoặc N-chỉ có thể điệp,chứ không thể láy nhau. Ví dụ : nghe một người nào nói : " thái độ nạnh nùng " mà biết chắc tiếng " nạnh " ở đây là tiếng " lạnh " thì tiếng thứ hai " nùng " cứ viết là " lùng" + Phân biệt V / D : Cần nhớ một số quy tắc : ❖ V - không bao giò đứng trước âm đệm. Tức là oa , oă , oe , uâ , uê , uy ( trừ một từ voan ). Cho nên gặp những vần đó cứ viết là D- Ví dụ : đe doạ , duyên phận , duyệt lại , ... * Về âm cuối : C / T , N / Ng Trong phát âm miền Nam, có những trường hợp như : an, át thì đọc thành ang, ác; N-và T- không còn nữa mà đều biến thành Ng-và C-. Để phân biệt an - at với vần ang - ac , ở phần lớn các từ không tìm ra quy luật cụ thể nào, do đó cần phải ghi nhớ theo nghĩa của từ . Riêng đối với từ láy có những quy luật sau : ❖ Vần ang - láy với vần ênh ; an - thì không Ví dụ: chếnh choáng, lênh láng, mênh mang, thêng thang,... ❖ Vần ang - láy với vần ơ ; an - thì không . Ví dụ : dở dang , mở mang , ngỡ ngàng , rõ ràng , ... ❖ ang - láy với ac . Ví dụ : khang khác , oang oác , quang quác , ... ❖ ang - láy với at . Ví dụ : chan chat , san sát , man mát , ... ❖ ac - láy với ơ . Ví dụ : xơ xác, gỡ gạc ... ❖ ac- cũng láy với êch . Ví dụ : lệch lạc, nhếch nhác , nghệch ngoạc , ... * Về dấu thanh + Phân biệt thanh hỏi / ngã ( ? ) / ( ~ ) Ngoài biện pháp dựa vào nghĩa của từ để xác định viết với dấu hỏi (? ) hoặc dấu ( ~ ) , còn có một số “ mẹo “ để nhớ sửa lỗi này trong từ láy và từ Hán Việt : * Thanh điệu thuôc về hai nhóm sau : + Sắc - hỏi - ngang ; Huyền - ngã - nặng Dựa vào hai nhóm thanh này ta có thể viết đúng dấu hỏi – dấu ngã- có nghĩa là gặp một từ láy có một tiếng, ta băn khoăn không biết viết dấu hỏi hay dấu ngã thì nhìn ở tiếng đi cùng : nếu tiếng này có dấu huyền , dấu ngã hoặc dấu