Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 học tốt Luyện từ và câu
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 học tốt Luyện từ và câu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_3_h.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 học tốt Luyện từ và câu.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 học tốt Luyện từ và câu
- 1/20 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Trước sự thăng trầm và đổi thay của đất nước cùng với quá trình hội nhập quốc tế, Tiếng Việt luôn khẳng định được sức sống mãnh liệt, khẳng định được sự giàu đẹp vốn có của nó. Tiếng Việt là thước đo tâm hồn người Việt, là dòng chảy bất tận trong những tác phẩm văn chương, trong bao lời ca, tiếng hát và lời ăn tiếng nói hằng ngày. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói Tiếng Việt là “thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc”. Vậy nên để giữ gìn tài sản quý báu của dân tộc không bị mai một, mỗi người chúng ta phải luôn nêu cao ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và làm phong phú hơn ngôn ngữ của mình ngay cả khi nói và khi viết. Ở bậc Tiểu học môn Tiếng Việt là môn học có vị trí nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc hình thành ngôn ngữ. Nó cung cấp những kiến thức cơ bản cho học sinh về Tiếng Việt thông qua các hình thức (nghe, đọc, nói, viết) góp phần hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Mục tiêu mà môn học hướng tới là phát triển năng lực sử dụng Tiếng Việt cho người học. Cụ thể là năng lực tiếp nhận và sản sinh ra lời nói. Dạy Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực chính là quá trình dạy học hướng tới hình thành và phát triển các năng lực sử dụng Tiếng Việt cho người học trong môi trường học tập và góp phần vận dụng vào thực tế cuộc sống. Từ đó, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc - viết - nói - nghe, tạo tiền đề học tập tốt các môn học khác. Tầm quan trọng đó phải được thể hiện theo quan điểm: “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Môn Tiếng Việt 3 có những đặc điểm như: kế thừa, khoa học, hiện đại; gần gũi, thiết thực, khả thi, gắn với thực tiễn; tích hợp, liên môn; tính mở Các bài học tạo điều kiện cho giáo viên vận dụng sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học lấy học sinh làm trung tâm; khuyến khích học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo. Nội dung thể hiện đúng, đủ, rõ mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh và yêu cầu về đánh giá kết quả giáo dục được quy định trong chương trình môn học. Với quan điểm “Học đi đôi với hành” nên ngoài phần luyện đọc, luyện viết thì học sinh phải được thực hành, luyện tập, vận dụng, từ đó giúp củng cố, khắc sâu bài đọc và góp phần mở rộng vốn từ cho học sinh. Chính vì vậy, phần Luyện tập có một vị trí quan trọng trong môn Tiếng Việt lớp 3 theo Chương trình GDPT mới, là một phần cần thiết và thường xuyên để nâng cao chất lượng dạy học, giúp cho học sinh nắm được các kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu của môn học quy định. Thực tế, do khả năng tư duy của học sinh lớp 3 còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quan nên việc tiếp thu kiến thức môn Tiếng Việt gặp nhiều khó khăn. Nhất là khi nhận biết các từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm và cách đặt câu, viết câu (phần luyện tập) học sinh còn lúng túng, đặc biệt là những em học sinh nhận thức chậm. Vì vậy, tôi đã áp dụng “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt Luyện từ và câu” nhằm giúp học sinh hứng thú với tiết Luyện từ và câu. Ngoài ra còn góp phần nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân và
- 2/20 nâng cao chất lượng Luyện từ và câu nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung của nhà trường. 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm này nhằm: - Đề xuất những biện pháp giúp học sinh học tốt Luyện từ và câu lớp 3. - Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, tích lũy thêm kinh nghiệm, giúp bản thân và các giáo viên trong khối dạy tốt Luyện từ và câu, từ đó nâng cao chất lượng của học sinh. - Làm cho tất cả các giáo viên Tiểu học thấy rõ tầm quan trọng của Luyện từ và câu, kiên trì rèn luyện cho các em có thói quen dùng từ, đặt câu chính xác ngay từ các lớp dưới. 3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu - Học sinh lớp 3A trường Tiểu học Dương Liễu A 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 3 để tìm hiểu nội dung, các dạng bài tập về phân môn Luyện từ và câu lớp 3 ở trường Tiểu học hiện nay. - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài. - Phân tích những nguyên nhân hạn chế khi học Luyện từ và câu của học sinh lớp ba. - Đề xuất một số biện pháp khắc phục những sai lầm khi dạy Luyện từ và câu nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Luyện từ và câu. 5. Giả thuyết khoa học Nếu áp dụng tốt các biện pháp: Giáo viên nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy đặc trưng của bộ môn, phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy Luyện từ và câu; Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ: so sánh; Sử dụng trò chơi củng cố kiến thức về từ ngữ thì giúp học sinh học tốt Luyện từ và câu ở lớp 3. 6. Phạm vi nghiên cứu - Tổ chức thực nghiệm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Luyện từ và câu lớp 3. 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận Thông qua các giáo trình, sách, tạp chí giáo dục và mạng internet tôi tiến hành thu thập, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu. 7.2. Phương pháp điều tra: -Dự giờ các tiết dạy Luyện từ và câu của đồng nghiệp để đúc rút kinh nghiệm. - Khảo sát, đánh giá chất lượng. 7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Soạn giáo án và trực tiếp giảng dạy các giải pháp đưa ra để dạy một số bài thuộc chương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3.
- 3/20 PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận: 1.1. Cơ sở khoa học: Mục tiêu giáo dục đặt ra là “Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở”. Mỗi chúng ta ai cũng tự nhận thấy rằng ngôn ngữ hết sức phong phú và đa dạng. Con người ngay từ khi sinh ra đến tuổi đi học đều hình thành cho mình vốn ngôn từ, quy tắc giao tiếp nhất định. Bởi vậy, để tăng nhanh được vốn từ, để chính nội dung ngữ nghĩa của từ cũng như thúc đẩy việc hình thành kĩ năng giao tiếp diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi không thể không chú ý đến việc rèn luyện, trau dồi cho các em vốn kiến thức về từ ngữ qua Luyện từ và câu. Luyện từ và câu giúp học sinh: Mở rộng hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu; rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu; bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; rèn luyện ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp. Với mục đích như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức quan trọng trong nhà trường cũng như cung cấp cho các em những tri thức hết sức cần thiết để tìm hiểu và học tốt các môn học khác. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Việc giúp học sinh có kĩ năng làm tốt các bài tập luyện từ và câu là một trong những yêu cầu quan trọng của môn Tiếng Việt, thậm chí mang ý nghĩa then chốt. Bởi với các tiết Luyện tập về luyện từ và câu giúp học sinh mở rộng vốn từ, cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại và về kiểu cấu tạo của các từ thông qua vốn từ các em sẵn có các từ mới học. Đồng thời rèn kỹ năng nói, viết thành câu, dùng một số dấu câu khi viết, cung cấp những mẫu câu cần thiết đế học sinh vận dụng trong giao tiếp và học tập. Đối với học sinh lớp 3 do vốn sống, vốn từ của các em còn quá ít, mà chúng ta đã biết từ ngữ, ngữ pháp trong tiếng Việt rất phong phú, như nhiều người thường nói “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Bởi vậy làm cho các em hiểu đúng đắn về từ, câu để có thể phát triển một cách đồng đều về mọi mặt là một việc không dễ. Chính vì nhận thức trên, chúng tôi nghĩ rằng muốn học sinh học tốt Luyện từ và câu giai đoạn đầu ở bậc tiểu học, không gì hơn phải thiết kế và giảng dạy sao cho tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo được nguyên tắc học sinh là nhân vật trung tâm, phát huy được tính chủ động tích cực của từng học sinh, của tập thể học sinh trong giờ học. 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu hiện nay: 2.1. Những thuận lợi * Nhà trường: - Ban Giám hiệu nhà trường quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục học sinh; có nhiều biện pháp bồi dưỡng, hỗ trợ giáo viên trong các hoạt động sư phạm.
- 4/20 - Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối đầy đủ, có đồ dùng, thiết bị để phục vụ cho dạy học; cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh. Nhà trường tổ chức được việc dạy học 2 buổi/ngày. Đây cũng là một thuận lợi cho mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học * Đối với giáo viên dạy lớp 3: - Phần lớn giáo viên nắm khá tốt phương pháp, biện pháp, quy trình giảng dạy Luyện từ và câu lớp 3. - Đa số giáo viên đã dạy khối lớp 3 nhiều năm nên nắm khá tốt quan điểm chỉ đạo dạy học theo chương trình và sách giáo khoa mới; ít nhiều đã có kinh nghiệm giảng dạy các môn học lớp 3. - Giáo viên được tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về nội dung và phương pháp dạy sách giáo khoa mới. * Về học sinh: Các em đã được làm quen với phương pháp dạy học Luyện từ và câu từ lớp 2 nên có nhiều thuận lợi khi học Luyện từ và câu lớp 3. 2.2. Những khó khăn * Về phía giáo viên: - Đã có ý thức lập kế hoạch dạy học, đảm bảo mục tiêu của mỗi tiết học, phương pháp dạy theo đặc trưng của Luyện từ và câu nhưng chưa chú trọng đến việc đổi mới nội dung sách giáo khoa, còn lệ thuộc vào sách giáo viên và sách giáo khoa. Trong tiết học, quá chú trọng vào khâu truyền thụ kiến thức, xem nhẹ việc thực hành rèn luyện kĩ năng nói – viết cho học sinh theo các đối tượng khác nhau. - Giáo viên còn thụ động kiến thức ở sách giáo khoa mà không chịu tìm tòi đọc thêm tài liệu khác liên quan đến giảng dạy, đặc biệt là khi dạy Tiếng Việt nên đôi khi lý thuyết suông khiến học sinh khó hiểu. - Khi tổ chức các hoạt động trong giờ học, giáo viên chưa phân định được hoạt động nào là trọng tâm. Hình thức tổ chức dạy đôi khi còn chưa phong phú do giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chất lượng bài soạn. * Về phía phụ huynh; học sinh: - Học sinh lớp 3 vẫn đang ở lứa tuổi tò mò, ham học hỏi hay bắt chước nhưng lại chóng chán, nhanh quên, ngại tìm hiểu những văn bản dài, các em còn học thụ động, bắt buộc, trong giờ học còn tỏ ra uể oải, mệt mỏi. - Một số em học sinh còn lười đọc sách, chủ yếu đọc truyện tranh nên vốn từ còn hạn chế. - Việc tổ chức học tập trên lớp của giáo viên chưa phát huy được vốn ngôn ngữ vốn có của các em cũng như chưa khơi dậy ở học sinh sự mạnh dạn tự tin trong học tập. - Khả năng tự tin nói trước lớp của một số học sinh không tốt, còn thiếu tự tin, ngại nói trước lớp. Nhiều học sinh không tự tin giơ tay phát biểu trong giờ học, nếu được cô gọi thì miễn cưỡng đứng lên trả lời. - Vốn từ ngữ, vốn sống, vốn hiểu biết của các em hạn hẹp, chưa phong phú. - Một số phụ huynh còn chưa quan tâm đến học tập của con em đúng mức. sách vở, đồ dùng ... các em còn quên không mang đến lớp. Vẫn còn nhiều phụ huynh mang trong mình tâm lý "trăm sự nhờ thầy cô", " khoán trắng"... việc dạy học cho thầy cô, nhà trường.
- 5/20 2.3. Kết quả điều tra, khảo sát học sinh đầu năm học 2022 - 2023: Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt Luyện từ và câu”, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế việc dùng từ, đặt câu của học sinh ngay từ đầu năm học. Cụ thể khảo sát chất lượng Luyện từ và câu đầu năm, tôi thống kê kết quả như sau: (35 học sinh) Tốt Đạt Chưa đạt Nội dung đánh giá SL (%) SL (%) SL (%) 1) Vốn từ 4 11,4 26 74,3 5 14,3 2) Nắm nghĩa của từ 6 17,1 26 74,3 3 8,6 3) Phân loại và quản lí vốn từ 5 14,3 24 68,6 6 17,1 4) Kĩ năng sử dụng từ 5 14,3 24 68,6 6 17,1 Qua khảo sát đầu năm tôi thống kê học sinh còn mắc dùng từ, đặt câu rất nhiều, có một số học sinh dùng từ chưa chính xác, chưa hiểu nghĩa từ, đặt câu chưa đúng ngữ pháp. Vì vậy cần thường xuyên tiến hành nghiên cứu, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy luyện từ cho học sinh. 3. Các biện pháp: Với thực trạng nêu trên, ngay từ đầu năm, tôi đề ra Biện pháp nâng cao chất lượng Luyện từ và câu theo các biện pháp đã đề ra: 3.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu kĩ về nội dung chương trình và tiến trình dạy học tiết Luyện từ và câu trước khi lên lớp. 3.1.1. Về nội dung chương trình: Trong chương trình tiểu học mới, môn Tiếng Việt đạt được mục tiêu rèn luyện kỹ năng lên hàng đầu, các bài học không có tiết học lý thuyết riêng. Cách đặt vấn đề của chương trình mới tỏ ra phù hợp với đặc điểm, với trình độ nhận thức của học sinh Tiểu học. Luyện từ và câu được biên soạn theo quan điểm giao tiếp, tích hợp, tích cực hóa hoạt động của người học. Mặt khác, học sinh lớp 3 phải hoàn thành tốt kiến thức đã học ở lớp 2 về từ loại, các kiểu câu, các thành phần câu và dấu câu. Học sinh lớp 3 tiếp tục được trang bị những hiểu biết đầu tiên về biện pháp tu từ so sánh để phục vụ việc đọc hiểu các loại văn bản và làm văn. Như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu để đạt mục tiêu trên cần cho học sinh tiếp xúc với các loại bài tập cụ thể, để qua đó các em được rèn luyện những kỹ năng cần thiết và bước đầu tiếp xúc với ngôn ngữ hình tượng văn học, rung động trước cái hay, cái đẹp của cuộc sống của con người, của thiên nhiên, từ đó hình thành và phát triển nhận thức, tình cảm, thái độ đúng đắn trước cuộc sống. Nội dung kiến thức được sách giáo khoa trình bày rõ ràng, khoa học, có hệ thống tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tổ chức giờ học. Chương trình Luyện từ và câu ở lớp 3 có những loại bài tập sau: ❖ Mở rộng vốn từ: - Gắn với các chủ điểm được học: Những trải nghiệm thú vị, cổng trường mở rộng, mái nhà yêu thương, cộng đồng gắn bó, những màu sắc thiên nhiên, bài học từ cuộc sống, đất nước ngàn năm, trái đất của chúng mình. - Thông qua các bài tập:
- 6/20 + Tìm từ ngữ theo chủ điểm. + Tìm hiểu, giải nghĩa của từ; + Hệ thống, phân loại vốn từ; + Luyện cách sử dụng từ. ❖ Ôn luyện kiến thức đã học ở lớp 2 - Ôn về các từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm (chủ yếu thông qua các bài tập có yêu cầu nhận diện) - Ôn tập về các câu giới thiệu, câu nêu hoạt động, câu nêu đặc điểm, câu hỏi, câu cảm, câu khiến, câu kể (chủ yếu thông qua các bài tập có yêu cầu nhận diện) - Ôn về một số dấu câu cơ bản: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than. Thông qua các bài tập: + Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống; + Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ trông; + Điền dấu câu đã cho vào chỗ thích hợp; + Tập ngắt câu. ❖ Bước đầu làm quen với các biện pháp tu từ so sánh - Về biện pháp so sánh, sách giáo khoa có nhiều loại bài tập như: + Nhận diện (tìm) những sự vật được so sánh, những hình ảnh so sánh, các vế so sánh, các từ so sánh, các đặc điểm được so sánh, + Tập nhận biết tác dụng của so sánh. + Tập đặt câu có dùng biện pháp so sánh. 3.1.2. Tiến trình tiết dạy Luyện từ và câu ở lớp 3: Các hoạt động chủ yếu: thời gian cho tiết dạy 40 phút. * Hoạt động 1: Củng cố kiến thức (thời gian 5 phút) Chọn 1 trong 2 cách sau: - Giáo viên kiểm tra và nhận xét cụ thể một số học sinh làm lại các bài tập của tiết trước, chú ý đến kiến thức trọng tâm, giáo viên đánh giá ghi điểm. - Gọi 2 học sinh lên bảng làm bài tập của tiết trước, sau đó cho lớp nhận xét chú ý đến kiến thức trọng tâm, giáo viên sửa sai (nếu có). * Hoạt động 2: Bài mới (thời gian 30 phút) - Giới thiệu bài: Chọn 1 trong 2 cách sau: (tối đa 2 phút) + Giới thiệu trực tiếp: Giáo viên nêu nội dung kiến thức trọng tâm để đưa ra tên bài dạy. (1 phút) + Giới thiệu gián tiếp: Giáo viên nêu tình huống có vấn đề (dựa trên việc làm bài tập hoặc bước hình thành kiến thức) cần giải quyết và sau đó giải quyết xoay quanh vấn đề đã nêu, cho học sinh tự rút ra nội dung kiến thức cần cung cấp. - Tìm hiểu, thực hành luyện tập: 28 phút Dạng bài có 3 bài tập: Bài 1 : (miệng) 9 phút – đây là dạng bài tập luyện nói. - 1 học sinh đọc yêu cầu của bài tập, lớp đọc thầm bài tập ở SGK. - Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý, học sinh tự tìm ra những nội dung, yêu cầu cần thực hiện. - Giáo viên chốt lại các yêu cầu cần làm, chú ý những bài tập làm theo mẫu. - Học sinh (5 đến 7 em) lần lượt phát biểu ý kiến của mình.
- 7/20 - Cho lớp nhận xét lần lượt từng ý kiến của bạn, chú ý đến nội dung có đầy đủ không? rõ ràng mạch lạc chưa? Giáo viên bổ sung, sửa sai (nếu có) và đánh giá, động viên kịp thời những học sinh có tiến bộ so với các tiết học trước. - Giáo viên chuyển ý để thực hiện bài 2. Bài 2: (miệng) 9 phút - Cách làm tương tự bài 1, chú ý trong chương trình có một số bài tập ở dạng luyện viết thì thực hiện như cách làm bài 3. - 1 học sinh đọc yêu cầu của bài tập, lớp đọc thầm bài tập ở SGK. - Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý, học sinh tự tìm ra những nội dung, yêu cầu cần thực hiện. - Giáo viên chốt lại các yêu cầu cần làm, chú ý những bài tập làm theo mẫu. - Học sinh (5 đến 7 em) lần lượt phát biểu ý kiến của mình. - Cho lớp nhận xét lần lượt từng ý kiến của bạn, chú ý đến nội dung có đầy đủ không? rõ ràng mạch lạc chưa? Giáo viên bổ sung, sửa sai (nếu có) và đánh giá, động viên kịp thời những học sinh có tiến bộ so với các tiết học trước. - Giáo viên chuyển ý để thực hiện bài 3. Bài 3: (viết) 10 phút - đây là dạng bài tập luyện viết. - 1 học sinh đọc yêu cầu của bài tập, lớp đọc thầm bài tập ở SGK. - Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở để học sinh tự rút ra những nội dung yêu cầu trọng tâm cần luyện viết. - Giáo viên dùng thước gạch dưới những yêu cầu trọng tâm, chốt lại các yêu cầu để học sinh luyện viết cần chú ý. - Học sinh làm bài vào vở bài tập (hoặc vở), giáo viên theo dõi uốn nắn. - Giáo viên thu và chấm một số bài sau đó nhận xét cụ thể và sửa sai cho học sinh trước lớp. Đồng thời dưới lớp học sinh đổi vở kiểm tra lẫn nhau. - Dạng bài có 4 bài tập: Quy trình thực hiện các dạng bài tương tự như trên. Bài 1: (miệng) 5 phút Bài 2: (miệng) 6 phút Bài 3: (viết) 8 phút Bài 4: (viết) 9 phút * Hoạt động 3: Hoạt động nối tiếp: (5 phút) - Giáo viên dùng hình thức dạy học phù hợp để giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức trọng tâm mới học, học sinh phải nắm được kiên thức ngay tại lớp. Ví dụ dùng các hình thức sau: Thi tiếp sức, trò chơi học tập - Cho học sinh liên hệ, áp dụng thực tế (nếu được). - Giáo dục học sinh theo mục tiêu bài học (nếu thấy cần thiết). - Dặn những học sinh chưa làm bài kịp cho tiếp tục làm ở nhà. 3.2. Biện pháp 2: Vận dụng phương pháp thực hành giao tiếp để tổ chức dạy học Nội dung dạy học Luyện từ và câu ở lớp 3 được xây dựng qua một hệ thống bài tập, không có phần lý thuyết nên tổ chức thực hiện tốt các bài tập Luyện từ và câu có vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học môn này. Chính vì thế phương pháp thực hành là phương pháp giảng dạy bắt buộc trong các tiết Luyện từ và câu ở lớp 3. Nó tạo cơ hội cho học sinh tự hình thành kĩ năng, còn giáo viên lại có ngay thông tin phản hồi về kết quả học tập của học sinh. Cụ thể giáo viên có thể dùng phương pháp thực hành giao tiếp để truyền đạt tri thức luyện từ và câu, để dạy sử dụng từ và câu.
- 8/20 Để đảm bảo thành công cho các hoạt động thực hành trong các tiết học Luyện từ và câu, giáo viên phải dành thời gian chuẩn bị các nội dung thực hành sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh; phải kiểm tra được các hoạt động thực hành của học sinh để tránh tình trạng học sinh làm sai từ đầu đến cuối hoặc không tham gia thực hành. Ví dụ: Tiết Luyện từ và câu ở tuần 4; bài tập 3 giúp học sinh ôn luyện dùng dấu chấm dùng để kết thúc câu. Giáo viên có thể đưa ra 3 cách thực hiện phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp. Ba cách đó là: - Cách 1: Hệ thống câu hỏi gợi mở (thường sử dụng hướng dẫn đối tượng học sinh yếu, kém); - Cách 2: Phiếu sơ đồ trợ giúp (thường sử dụng hướng dẫn đối tượng học sinh trung bình); - Cách 3: Khai thác sử dụng ngữ cảm của học sinh (đối tượng học sinh khá, giỏi) Ba cách trên giáo viên sử dụng một cách linh hoạt. Một bài tập, giáo viên có thể chia nhóm cùng trình độ để sử dụng cả ba cách để hoàn thành bài tập phù hợp với đối tượng học sinh. Với những bài khó giáo viên có thể sử dụng cách 1, 2 để hướng dẫn đối tượng học sinh khá, giỏi khi các em lúng túng, không làm được bài. Đối với những bài tập mức độ không quá khó đối với học sinh trung bình, giáo viên có thể sử dụng cách khai thác khả năng ngữ cảm của học sinh. Như vậy cả ba cách trên sẽ được sử dụng mềm dẻo, linh hoạt tùy thuộc vào nội dung bài tập và đối tượng học sinh cả lớp. 3.3. Biện pháp 3: Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong tiết Luyện tập về Luyện từ và câu Nội dung và phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau. Mỗi nội dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp. Các kĩ năng giao tiếp không thể được hình thành và phát triển bằng con đường truyền giảng thụ động. Muốn phát triển những kĩ năng này, học sinh phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của thầy, cô. Các kiến thức về ngôn ngữ văn học, văn hóa, tự nhiên xã hội có thể được tiếp thu qua lời giảng, nhưng học sinh chỉ làm chủ được những kiến thức này khi các em chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình. Cũng như vậy, những tư tưởng, tình cảm và nhân cách tốt đẹp chỉ có thể được hình thành chắc chắn thông qua sự rèn luyện trong thực tế. Đó là những lý do cắt nghĩa sự ra đời của phương pháp mới – phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học. Tích cực hóa hoạt động của người học được hiểu là phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, trong đó thầy, cô đóng vai trò người tổ chức hoạt động của học sinh; mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong tiết học. Học sinh được giáo viên tạo mọi điều kiện để tham gia vào tiết học (trả lời câu hỏi, phát biểu về nghĩa, đặt câu, ); đề xuất cách làm bài tập, biết lắng nghe và nhận xét ý kiến của các bạn; được tham gia làm bài tập; tham gia các trò chơi học tập,
- 9/20 Trong tiết học, giáo viên giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài và làm bài tập; lắng nghe và sửa chữa, uốn nắn cho từng học sinh nhưng không áp đặt và gò ép. Ví dụ: Tổ chức cho học sinh tìm hiểu, khai thác kiến thức bài mới (Đi từ ý tưởng đến phương pháp, biện pháp và hệ thống câu hỏi cụ thể). * Ý tưởng: Phân tích dữ liệu đã cho dựa trên cơ sở tổng hợp các phân tích sau: - Phân tích theo gợi ý cho sẵn trong sách giáo khoa. - Phân tích theo hướng các kết luận trong bài. - Phân tích ở các khía cạnh khác nhau theo các dạng của nội dung bài tập vận dụng thực hành (Đây là cách thức khai thác bài quan trọng nhất, hiệu quả nhất). Ví dụ cụ thể: Khi dạy bài “Mở rộng vốn từ về bạn trong nhà – biện pháp so sánh” (Tuần 13.Trang 109- SGK TV3), tôi tiến hành như sau: Bài 2: Giáo viên mời 2 -3 học sinh đọc yêu cầu bài - Bài 1 yêu cầu làm gì? - Giáo viên mời học sinh đọc đoạn văn (2-3 HS) Học sinh cả lớp đọc thầm. - Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm đôi: + Cánh buồm trên sông được so sánh với sự vật nào? + Nước sông được ví với sự vật nào? (Giáo viên yêu cầu nhiều nhóm trả lời. Sau đó giáo viên mới chốt lại ý đúng) - Giáo viên có thể mở rộng thêm: + Ngoài nước sông nhấp nháy như sao bay thì theo em có thể so sánh nước sông với cái gì khác? + Học sinh có thể thảo luận nhóm 3 và trả lời. (Giáo viên gợi ý: nước sông có thể so sánh với ánh đèn trang trí; đèn của những con đom đóm ) 3.3.1.Tổ chức tốt các hoạt động khởi động Hình thức khởi động bài dạy là một trong những hoạt động thể hiện năng lực cốt lõi của một giáo viên trong thế kỉ XXI, đồng thời đây cũng là một trong những hoạt động quan trọng góp phần quyết định sự thành công hay thất bại của một tiết dạy theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Qua quá trình trực
- 10/20 tiếp giảng dạy trên lớp, tôi thường sử dụng một số hình thức khởi động trong dạy học Luyện từ và câu lớp 3 là: Khởi động bằng một bài hát kết hợp với vận động nhẹ nhàng tại chỗ; khởi động bằng cách đưa ra tình huống có vấn đề hay khởi động bằng cách nhắc lại kiến thức ở bài cũ rồi giới thiệu bài mới... Ví dụ: Khi dạy bài Luyện từ và câu ở tuần 22, tôi cho học sinh trong lớp khởi động bằng xem video về các cảnh vật thiên nhiên ở Việt Nam - HS khởi động. - GV nêu câu hỏi: Nêu những sự vật và đặc điểm của những sự vật đó? - HS trả lời: sông - uốn lượn, núi sừng sững, biển trong xanh, ruộng bậc thang mênh mông.... - GV nhận xét và chuyển ý vào tiết học với nội dung về: Trong tiết học hôm nay cô trò mình cùng nhau tìm hiểu về các từ chỉ sự vật trong tự nhiên, từ ngữ chỉ đặc điểm của các sự vật và thực hành đặt câu với các từ ngữ. Ngoài ra trong tiết học này con còn được thực hành đặt và trả lời câu hỏi về thời gian, địa điểm. (Ảnh chụp từ powerpoint phần khởi động bằng một video) 3.3.2. Sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học Đồ dùng dạy học thông thường trong tiết Luyện từ và câu là tranh phóng to minh họa của sách giáo khoa, bảng phụ hay một số vật thực hoặc mô hình để giảng từ và ý. Ngoài ra, nếu có điều kiện, trong tiết Luyện từ và câu cũng có thể sử dụng các trang thiết bị hiện đại như ti vi chiếu các video, các âm thanh để nghe, xem, minh họa cho nội dung bài Luyện từ và câu. Tuy nhiên, không nên lạm dụng nếu không thật cần thiết, làm mất thời gian trong tiết dạy.
- 11/20 Ví dụ : (Ảnh: GV sử dụng trong việc dạy học) Với những tranh ảnh khó sưu tầm, tôi thường dùng một giải pháp để trang bị cho mình hình ảnh để phục vụ bài dạy đó là truy cập trên mạng. Ví dụ: Khi dạy bài: “Mở rộng vốn từ về rừng núi; Đặt và trả lời câu hỏi Ở đâu?, Khi nào?” (tuần 22) Ở bài tập này, sau khi cho học sinh chơi trò chơi để tìm từ ngữ chỉ sự vật và từ ngữ chỉ đặc điểm thì tôi sẽ đưa ra 1 số hình ảnh minh họa ví dụ như thác nước, núi Như vậy học sinh sẽ dễ hình dung hơn.

