Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt môn Giáo dục thể chất

docx 28 trang Chăm Nguyễn 07/02/2026 200
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt môn Giáo dục thể chất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_2_h.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt môn Giáo dục thể chất

  1. 3 cơ bản và khả năng phối hợp động tác còn chưa bền chắc, thường có những sai lệch nhất định. Trong khi đó, khả năng thích ứng của cơ thể còn nhiều hạn chế, so với yêu cầu của đời sống, học tập thì sự phát triển đó còn thấp, cần phải được quan tâm giúp đỡ của người lớn và sự rèn luyện tốt hơn.Vì vậy mà tôi luôn nghĩ làm thế nào để có thể giúp các em yêu thíc môn học, nâng cao chất lượng và đem lại hiệu quả trong quả học tập, do đó mà tôi đã chọn dề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Giáo dục thể chất”. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cở sở việc nghiên cứu lý luận và thực trạng học tập môn Giáo dục thể chất lớp 2 trong nhà trường để đề ra những biện pháp hợp lý nhằm khắc phục những khó khăn, tồn tại trong quá trình giảng dạy, điều chỉnh phương pháp cho phù hợp với đối tượng học sinh. Khơi gợi, khích lệ sự hứng thú với môn học cho các em. Rèn luyện tác phong, kỉ luật trong giờ học, nếp sống lành mạnh. Hình thành cho học sinh những kĩ năng vận động cơ bản. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu trên tôi đặt ra các nhiệm vụ cơ bản sau đây: - Nghiên cứu lý luận GDTC; đặc điểm tâm sinh lý vận động của học sinh lứa tuổi 7 - 8. - Thực trạng dạy- học môn GDTC trong nhà trường. - Đề ra những biện pháp cụ thể, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng day học môn GDTC. 4. Thời gian nghiên cứu Năm học: 2021-2022, 2022-2023 5. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Giáo dục thể chất. 6. Phạm vi nghiên cứu Học sinh khối lớp 2 trường Tiểu học Cam Thượng.
  2. 4 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Mục tiêu giáo dục tiểu học Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản.Góp phần hình thành và phát triển những cơ sở nền tảng về nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sản phẩm của giáo duc tiểu học có giá trị cơ bản, lâu dài, có tính quyết định đối với cuộc đời mỗi con người. Bất kì ai cũng phải sử dụng các kĩ năng nghe, nói, đọc viết và tính toán được học ở tiểu học để sống để làm việc. Trường tiểu học là nơi đầu tiên dạy trẻ em biết yêu gia đình, quê hương, đất nước và con người, biết đọc, biết viết biết làm tính, biết tìm hiểu tự nhiên, xã hội và con người. Bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. 1.2. Đặc điểm về mặt cơ thể lứa tuổi 7 - 8 - Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,...Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các bài tâp, trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn. - Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,...Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em các nhà giáo dục cần chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn. - Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. - Trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng khoảng 3 – 4 kg. Trung bình, ở độ tuổi này, chiều cao có thể tăng từ 5 đến 6,5 cm/năm. Cụ thể, chiều cao cân nặng của trẻ 7 -8 tuổi sẽ vào khoảng 121.7 cm và 22,9 kg với bé trai; 120.8 cm và 22,4 kg với bé gái. 1.3. Đặc điểm về hoạt động lứa tuổi 7-8 Quá trình phát triển thể chất phần lớn là hoàn thiện các kỹ năng, sự phối hợp và kiểm soát cơ bắp. Những trẻ có tiềm năng thể thao có thể thể hiện khả năng của mình ở giai đoạn phát triển này vì đây là độ tuổi các kỹ năng vận động của trẻ được hoàn thiện dần. Trên thực tế, đây thường là độ tuổi mà trẻ nhận ra
  3. 5 được mình có thích các hoạt động thể chất hay không và có muốn tham gia môn thể thao nào không. Ở độ tuổi này, trẻ đạt được những mốc phát triển thể chất quan trọng như: + Kết hợp linh hoạt hơn các kỹ năng vận động (xoay người, chạy nhảy và các hoạt động cần thiết trong thể thao) + Cải thiện khả năng phối hợp + Cải thiện khả năng kiểm soát các cơ nhỏ cần thiết cho các hoạt động. 1.4. Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ) lứa tuổi 7-8 1.4.1. Nhận thức cảm tính Các cơ quan cảm giác: Tri giác của học sinh lứa tuổi này mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - tri giác có chủ định. 1.4.2. Nhận thức lý tính * Tư duy Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng. * Tưởng tượng Tưởng tượng tái tạo đã và đang bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,.... Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em. 1.4.3. Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh, dịu dàng,...Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập. 1.5. Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học Nhân cách của học sinh tiểu học nổi bật ở những nét sau: - Khả năng nhận thức phát triển nhanh chóng nhờ hoạt động học tập. - Đời sống cảm xúc, tình cảm chiếm ưu thế hơn và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động, nhận thức của trẻ. - Tính hồn nhiên, vui tươi hướng về những cảm xúc tích cực.
  4. 6 - Hay bắt chước những người gần gũi, có uy tín với trẻ (cha mẹ, thầy cô, bạn bè ) - Hành vi ý chí chưa cao, bản tính hiếu động, khó kiềm chế, kém tự chủ nên dễ phạm lỗi, nhất là đối với các yêu cầu có tính nghiêm ngặt, đòi hỏi sự tập trung cao độ, gây căng thẳng. - Nhân cách của học sinh tiểu học chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: gia đình, nhà trường, xã hội trong đó những ảnh hưởng từ cha mẹ, thầy cô là rất quan trọng vào đầu tuổi và sau đó là các ảnh hưởng từ bạn bè và phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, phim ảnh - Đặc điểm nổi bật nhất là đời sống tình cảm của học sinh tiểu học, các em đang ở lứa tuổi ngây thơ, trong trắng, rất dễ xúc cảm trước hiện thực, rất dễ hình thành những tình cảm tốt đẹp. Các em dễ xúc cảm mạnh, đã có ấn tượng khá sâu sắc và khá bền vững. Các em sống nhiều bằng tình cảm và bị ảnh hưởng nhiều bởi tình cảm. - Tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc. Nó không chỉ biểu hiện trong đời sống sinh hoạt mà còn trong cả hoạt động trí tuệ, các em tiếp thu kiến thức không đơn thuần bằng lý trí, mà còn dựa nhiều vào cảm tính và đượm màu sắc tình cảm, các em dễ bị “lây” những cảm xúc của người khác. Năng lực tự kiềm chế những biểu hiện tình cảm còn yếu, tình cảm cũng dễ thay đổi, dễ dịu đi nhưng cũng dễ bị kích động, vừa khóc đã có thể cười ngay. - Tình cảm của các em đã có nội dung phong phú và bền vững hơn tuổi mẫu giáo. Những tình cảm cao cấp đang hình thành. Đặc biệt tình cảm gia đình giữ vai trò khá quan trọng, nhiều khi lòng yêu thương cha mẹ trở thành động cơ học tập của các em. Những tình cảm đạo đức, thẩm mĩ thường gắn với những sự vật cụ thể, gần gũi với các em. Tình bạn và tính tập thể được hình thành và phát triển cùng với tình thầy trò. Tình bạn còn dựa vào hứng thú chung đối với một hoạt động vui chơi hay học tập. Nó chưa có cơ sở lí trí vững vàng nên dễ thay đổi: thân nhau, giận nhau, làm lành với nhau là hiện tượng thường xuyên xảy ra. Tình cảm tập thể có ý nghĩa lớn đối với các em. Các em dễ dàng gắn bó với nhau, những người có vai trò lớn trong tập thể là thầy, cô giáo. Đó là trung tâm của những mối quan hệ giữa các em, là biểu hiện ý kiến chung của trẻ. Những tình cảm rộng lớn hơn như lòng yêu tổ quốc, yêu lao động, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm cũng đang được hình thành. - Những phẩm chất ý chí và tình cảm của học sinh cấp I cũng bắt đầu nảy sinh và phát triển. Các em có thể rèn luyện để có tính kế hoạch, tính kiên trì, nhẫn nại, tính mục đích nhưng nó chưa trở thành những nét tính cách vững chắc, tính độc lập còn yếu, các em chưa vững tin ở bản thân và dựa nhiều vào ý kiến của cha
  5. 7 mẹ và thầy cô giáo. Các em thường bắt chước họ một cách máy móc, và coi họ là mẫu mực phải noi theo. - Năng lực tự chủ đã có nhưng còn yếu, tính tự phát còn nhiều, do đó khó giữ kỹ luật, trật tự, nhiều khi các em vi phạm kỷ luật một cách vô ý thức. Các em có tính hiếu động cao, thích vận động chạy nhảy, hò hét, vật lộn Các em rất hay bắt chước, có thể bắt chước khá tỉ mỉ chi tiết, nhưng lại hay chú ý những đặc điểm bên ngoài và bắt chước thiếu lựa chọn: kẻ say rượu, người điên khùng, người tàn tật nói chung là những cái gì ly kỳ, mới lạ. vì thế nếu giáo dục không tốt, trẻ có thể có những hành vi không tốt, như nói tục, đánh nhau, chửi thề, trêu chọc mọi người, phá phách nghịch ngợm, tác quái
  6. 8 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC GDTC LỚP 2 2.1. Mục đích của điều tra thực trạng Nhận biết được nguyên nhân vì sao kết quả giảng dạy, giáo dục môn thể dục trong trường tiểu học là chưa cao. Chưa phát triển thể chất đồng đều ở tất cả các đối tượng học sinh. Làm cơ sở để điều chỉnh, đưa ra các biện pháp giúp sáng kiến được hoàn thiện hơn. Giúp các em có hứng thú tham gia vào giờ học và đạt kết quả cao hơn trong giờ học. 2.2. Tình hình chung. GDTC là môn học cần nhiều đồ dùng trực quan. Sách giáo viên chỉ là gợi ý chung cho tất cả vùng miền, muốn dạy – học có hiệu quả cần có nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với từng vùng, miền. Trước đây một số giáo viên quan niệm môn GDTC không quan trọng bằng các môn khác, nên chưa có sự đầu tư đúng mức cho môn học, chưa thực hiện tốt các phương pháp giảng dạy, không có sự chuẩn bị kĩ về bài dạy kể cả về việc luyện tập trước các bài tập, động tác kĩ thuật. Những năm gần đây hầu hết các quận, huyện đã tuyển giáo viên thể chất vào các trường. Và ở các trường Tiểu học đều đã có giáo viên chuyên dạy bộ môn GDTC, vì vậy kĩ năng sáng tạo sẽ có những bước tiến triển để bổ sung vào bộ sách giáo viên. 2.3. Thực trạng về việc giảng dạy phân môn GDTC 2.3.1 Thuận lợi: - Ban giám hiệu nhà trường luôn động viên, quan tâm sát sao đến việc dạy và học bộ môn GDTC để bồi dưỡng sức khỏe, năng lực phẩm chất và tinh thần cho các em. - Hầu hết các em học sinh ở lứa tuổi này trong nhà trường đều rất ngoan và biết nghe lời. 2.3.2 Khó khăn: - Phạm vi nhà trường nhỏ hẹp, cơ sở vật chất phục vụ cho môn thể dục còn thiếu thốn, chưa có nhà đa chức năng, học sinh vẫn phải tập ngoài trời, các tiết học còn bị phụ thuộc vào thời tiết, cùng với đó sân bãi để tập luyện lại không có. Học sinh chỉ có thể hoạt động trong một khoảng sân nhỏ gây khó khăn cho việc học tập vì nhiều hoạt động, nhiều trò chơi mang tính năng động không thể áp dụng. Vừa tổ chức hoạt động học tập vừa phải chú ý để không làm ảnh hưởng đến các lớp khác đang học. - Về học sinh: ở lớp 2, tư duy của các em còn mang tính hình ảnh cụ thể, trong suy nghĩ đối với môn thể dục chỉ là những tiết học giúp các em được chạy nhảy, vui chơi, việc học môn thể dục rất thụ động.
  7. 9 Nhìn chung về thực trạng nhà trường hiện tại mà nói việc dạy và học môn thể dục còn nhiều khó khăn. Do đó,bắt buộc người giáo viên GDTC phải có những giải pháp thiết thực để khắc phục những khó khăn, có phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện của nhà trường, đồng thời vẫn đảm bảo đem lại hiệu quả dạy và học môn thể dục nhằm đáp ứng các yêu cầu: + Phát triển toàn diện cơ thể, đặc biệt là sức khỏe. + Bồi dưỡng một số kỹ năng hoạt động cần thiết trong sinh hoạt, đời sống. + Bồi dưỡng những tư thế cơ bản, ngay ngắn, khẩn trương và trật tự. 2.4. Các vấn đề cần được giải quyết Học sinh luyện tập thiếu nhiệt tình, thiếu chủ động, tinh thần luyện tập của các em không cao, không khí buổi tập không được hào hứng và sôi nổi, không lôi cuốn các em vào bài tập một cách chủ động. Muốn khắc phục những vấn đề trên trong quá trình giảng dạy môn thể dục giáo viên cần tạo cho học sinh có sự ham thích, say mê hứng thú trong giờ học. Qua tiết học giúp các em hiểu được lợi ích, tác dụng của việc tập luyện thể dục để đáp ứng vào thực tế. Trong cuộc sống hàng ngày rèn luyện cho các em có sức khoẻ dẻo dai, tinh thần minh mẫn, tạo cho các em có đức tính tốt như: khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, trung thực và tự giác ngày càng được hoàn thiện hơn. Do vậy giáo viên cần chuẩn bị tốt, thật đầy đủ và chu đáo về sân bãi, đồ dùng dạy học: Giáo viên phải có còi, tranh ảnh trực quan, đồ dùng dạy học có như vậy thì học sinh mới ham thích, say mê, tự giác trong luyện tập không chỉ để cho cơ thể phát triển một cách hài hoà cân đối khoẻ mạnh mà còn có những đức tính tốt, một tinh thần minh mẫn, một thể lực cường tráng.
  8. 10 CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 HỌC TỐT MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT Mỗi tiết học thể dục có thể coi là mỗi bước đi bằng hành động cụ thể trong quá trình biến mục đích, nội dung giáo dục thành kết quả thực tế. Để giúp các em học tốt môn GDTC, khi lên lớp giáo viên phải biết vận dụng và kết hợp các phương pháp giảng dạy cho phù hợp, giúp các em hứng thú hơn với môn học, đăc biệt phải tạo cho các em có tâm lý thoải mái “học mà chơi, chơi mà học”. Như vậy, mới đem lại hiệu quả cho buổi học thể dục. Trước mỗi giờ lên lớp giáo viên cần nghiên cứu các tài liệu liên quan như sách giáo viên, các sách báo giáo dục để nắm được mục tiêu, yêu cầu của nội dung bài học. Sau đó định ra lượng vân động cho từng nội dung và cả giờ học. Tiếp theo xây dựng kế hoạch cụ thể thông qua soạn bài, xác định mục tiêu kiến thức, kỹ năng và các phương pháp cho từng nội dung. Trong quá trình giảng dạy qua những lần áp dụng thành công và thất bại tôi đã rút ra kinh nghiệm và đưa ra một số biện pháp sau: 3.1. Biện pháp thứ 1: Đổi mới công tác chuẩn bị của giáo viên trước khi lên lớp. Trước khi lên lớp giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung kiến thức, yêu cầu cần đạt của từng tài, từ đó lựa chọn, đưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp, đem lại hiệu quả cao nhất. Giáo viên phải có ý thức chuẩn bị bài, thiết kế bài học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh: - Xác định mục tiêu bài học. - Xác định và lựa chọn nội dung bài học. - Lựa chọn và vận dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học. - Lựa chọn phương tiện, thiết bị dạy học. - Thiết kế kế hoạch dạy học. Đặc biệt, ở mỗi giờ học giáo viên cần dự kiến trước những tình huống sư phạm có thể xảy ra, để có biện pháp xử lý phù hợp và kịp thời. Tham khảo nhiều trò chơi hấp dẫn, bổ ích để lồng ghép vào phần khởi động của giờ dạy tạo hứng thú cho học sinh tập luyện. Trong quá trình giảng dạy môn GDTC ở trường tiểu học công tác chuẩn bị của giáo viên trước khi lên lớp góp phần giúp tiết học được sinh động hơn, giúp học sinh hứng thú hơn trong tập luyện.
  9. 11 3.2. Biện pháp thứ 2: Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất: * Phương pháp dùng lời nói và trực quan: + Lời nói: Là phương pháp dùng các hình thức lời nói để chỉ đạo học sinh học tập nhằm đạt yêu cầu dạy học. Sử dụng chính xác phương pháp ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học. Nó có thể giúp học sinh tường minh nhiệm vụ học tập. Phương pháp dùng lời nói được sử dụng linh hoạt trong suốt giờ học từ phần mở đầu giới thiệu bài, khởi động đến hình thành kiến thức, luyện tập, vận dụng. Khi sử dụng lời nói, giáo viên cần nêu ngắn gọn, sinh động, hình tượng, hấp dẫn nhưng phải đảm bảo đủ nội dung. Tránh nói dài dòng, khó hiểu khiến học sinh bị nhàm chán. Ví dụ: Khi dạy học sinh các động tác của bài thể dục. Kết hợp với việc chỉ tranh từng động tác là giáo viên sẽ phân tích động tác theo từng nhịp trên tranh. Phân tích đến nhịp nào khó, học sinh dễ mắc sai lầm giáo viên sẽ nói chậm, chỉ rõ, nhấn mạnh để học sinh có thể chú ý hơn và lường trước những khó khăn khi thực hiện động tác. Việc giảng giải giúp học sinh nắm vững những nét cơ bản kĩ thuật, tránh được sai sót mắc phải trong tập luyện. Vì vậy việc chỉ dẫn của giáo viên có ý nghĩa đáng kể trong quá trình tập luyện, học tập. Bên cạnh đó đàm thoại là hình thức hỏi và trả lời. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần có sự tương tác thường xuyên với học sinh. Câu hỏi dùng trong đàm thoại nhằm kích thích sự quan sát, tích cực sáng tạo trong suy nghĩ, giúp học sinh nắm được quy tắc đánh giá được hành động của mình và của bạn. Ví dụ: Các em thấy bạn thực hiện động tác thế nào? Tư thế của bạn đúng chưa? Tay đã thẳng chưa?.... + Trực quan (làm mẫu): Phương pháp trực quan là một phương thức thông qua trực quan tác động đến các cơ quan cảm giác con người để tiến hành dạy học TDTT. Nó có ý nghĩa to lớn đối với học sinh trong việc nắm vững nội dung dạy học. Trước hết giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy. Giáo viên phải tập làm mẫu từng động tác, thao tác nhuần nhuyễn, phân tích rõ ràng từng chi tiết, yếu lĩnh kỹ thuật động tác trước khi lên lớp để học sinh hiểu và nắm bắt ngay. Đã gọi là làm mẫu thì động tác phải đạt yêu cầu chính xác, đẹp, đúng kỹ thuật. Vì những động tác ban đầu dễ gây ấn tượng sâu trong trí nhớ các em. Đối
  10. 12 với giáo viên không chuyên, giáo viên không có khả năng làm mẫu thì nên cho học sinh quan sát kỹ tranh ảnh hoặc có thể bồi dưỡng cán sự, chọn những em có năng khiếu tốt về mặt này để làm mẫu thay cho giáo viên khi giảng dạy động tác. Khi làm mẫu, giáo viên phải chọn vị trí đứng thích hợp để tất cả học sinh đều nhìn thấy các chi tiết của động tác. Tránh không nên để học sinh đứng ngược gió, quay mặt về hướng mặt trời, hay có những hoạt động khác trước mặt. Làm mẫu phải kết hợp với giảng giải, nhắc nhở các em tập trung quan sát những khâu chủ yếu mà giáo viên yêu cầu, lời nói khi giảng giải phải rõ ràng để cho toàn thể học sinh đều nghe thấy. Ví dụ: Trước khi giảng dạy một kĩ thuật động tác nào tôi thường tự tập ở nhà trước để luôn tự tin rằng khi mình làm mẫu trước học sinh, các động tác luôn đúng kỹ thuật, đẹp. Khi phân tích từng cử động kỹ thuật động tác tôi thường vừa tập chậm và vừa phân tích để học sinh vừa được nghe vừa được quan sát làm tăng sự tiếp nhận thông tin của học sinh. Hay khi làm mẫu động tác của bài thể dục tôi thường cho học sinh quan sát được cả 2 hướng( hướng chính diện, và hướng nghiêng) để học sinh quan sát và nắm rõ hơn từng nhịp của động tác. * Phương pháp tập luyện: Phương pháp tập luyện giúp học sinh rèn luyện thân thể tốt, có sức khỏe đảm bảo trong việc học tập. Kích thích các em ham thích môn học thể dục. Sau hoạt động hình thành kiến thức, giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh luyện tập để rèn luyện các kĩ năng trong nội dung bài học. Trong giờ học GDTC giáo viên tránh làm lạm dùng việc làm mẫu, phân tích quá nhiều và nên dành nhiều thời gian cho học sinh được luyện tập. Khi tổ chức cho học sinh luyện tập, để tăng hứng thú tập luyện cũng như phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh, giáo viên nên sử dụng nhiều hình thức tập luyện khác nhau phù hợp hợp với yêu cầu và hiệu quả như: Tập đồng loạt, tập theo nhóm, tập theo cặp, tập cá nhân. Ví dụ: Khi dạy động tác chân của bài thể dục, sau hoạt động hình thành kiến thức giáo viên điều khiển cả lớp tập 1 – 2 lần. Sau đó cho cho mỗi cá nhân tự hô và thực hiện động tác, giáo viên nhắc nhở, sửa sai. Tiếp theo cho hai hàng quay mặt vào nhau tạo thành từng cặp luân phiên hô – tập và sửa sai cho bạn. Kế đó chia tổ để học sinh tập luyện các động tác đã học của bài thể dục, tổ trưởng điều khiển tổ tập theo vị trí được phân công ôn từ động tác vươn thở đến động tác chân vừa học, giáo viên bao quát, giúp đỡ.
  11. 13 * Phương pháp trò chơi: Mỗi giờ học nên tổ chức cho các em chơi từ 1-2 trò chơi với nội dung khác nhau phù hợp với từng lượng vận động trong tiết học. Đảm bảo phát triển hài hòa các tố chất: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo, mềm dẻo. Trong quá trình tổ chức các trò chơi chúng ta cần phải quan tâm đến đồ dùng dạy học phục vụ cho trò chơi, sân chơi bãi tập phải đảm bảo tuyệt đối tính an toàn và sự cân đối, đồng đều giữa các đội thi đua như: Số lượng giữa nam và nữ phải tương đương nhau, thể trạng sức khỏe phải đồng đều và nếu như số lượng giữa các đội trên lệch nhau thi đội thiếu sẽ có 1 em thực hiện 2 lần trên động tác đó hoặc những học sinh có sức khỏe yếu sẽ được cho ra làm trọng tài của cuộc thi. Như thế sẽ giúp cho các em hoàn thiện tốt nội dung của các trò chơi và thực hiện tốt theo chuẩn kiến thức kĩ năng cũng như việc dạy học theo hướng phân hóa đối tượng học sinh mà chương trình đã qui định. Giáo viên sử dụng phương pháp này cho hoạt động khởi động để tạo không khí thoải mái cho lớp học trước khi vào bài mới. Ví dụ: Một số trò chơi như “Kết bạn”, “Nhóm ba, nhóm bảy”, “Đèn xanh, đèn đỏ”, “Làm theo hiệu lệnh”, “Chẵn, lẻ”, “Nhảy ô tiếp sức”.... đều là những trò chơi có tính hấp dẫn, rèn luyện phản xạ, sức nhanh,... thường được tôi đưa vào phần khởi động. Trong hoạt động luyện tập, giáo viên sử dụng trò chơi như công cụ bổ trợ để rèn các kĩ năng của bài học. Ví dụ: Các trò chơi rèn đội hình đội ngũ : Lăn bóng tiếp sức, Điểm số nhanh, Đi nhanh về đích, Ai quay đúng hướng,...Các trò chơi bổ trợ khéo léo: Chuyển bóng nhanh, Đội nào nhanh hơn, Ném trúng đích,...Trò chơi rèn luyện kĩ năng vận động và phản xạ: Thi tung và bắt bóng, Đi theo vạch, Đoàn tàu về ga, Mèo đuổi chuột, Chạy nhanh theo số,... *Phương pháp thi đấu: Ở lứa tuổi này các em rất thích được thầy cô khen ngợi, tuyên dương. Được khen ngợi, tuyên dương các em sẽ hứng thú và cố gắng phát huy nhiều hơn. Trong giờ học, giáo viên nên dùng phương pháp thi đua khen thưởng để động viên các em. Sau mỗi nội dung tập luyện, giáo viên nên cho các tổ, hoặc từng cá nhân thi đấu sau đó tuyên dương khen thưởng để tạo không khí thi đua cùng tập luyện của học sinh. Giáo viên cũng không quên tuyên dương khen thưởng cho những học sinh có sức khỏe yếu, những học sinh khuyết tật sau mỗi lần các em