Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hoat_do.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” 2. Thực trạng vấn đề: Việc dạy học của bộ môn Sinh học trong các trường Trung học cơ sở hiện nay so với trước đã có những chuyển biến đáng kể. Đa số giáo viên dạy Sinh học đã chú ý đến tính khoa học chính xác, tính thực tiễn của kiến thức, nhất là đảm bảo tính hệ thống và khối lượng kiến thức mà chương trình sách giáo khoa đã quy định. Gần đây trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học nhiều giáo viên đã cố gắng cải tiến phương pháp dạy học và phát huy tính tích cực tư duy của học sinh. Giáo viên ở nhiều địa phương đã phấn đấu để có nhiều tiết dạy tốt, phối hợp các phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn và sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để phát huy tính tích cực sáng tạo, tư duy logic. Từ đó tạo được sự hứng thú học tập cho học sinh. Tuy nhiên vẫn còn hạn chế trong việc dạy học của bộ môn Sinh học như: + Đa số các tiết dạy giáo viên rất ít yêu cầu học sinh hoạt động nhóm để các tự em đi đến kết luận đúng. Tình trạng phổ biến hiện nay là nhiều giáo viên vẫn dạy theo phương pháp đàm thoại hoặc với những lời thuyết giảng triền miên. + Những câu hỏi hoặc vấn đề giáo viên nêu ra chỉ yêu cầu học sinh dựa vào kiến thức trong sách giáo khoa để trả lời mà không đòi hỏi học sinh phải có sự tư duy độc lập, sáng tạo; giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh được học tập một cách chủ động; các em vẫn còn chờ đợi vào sự gợi ý dẫn dắt của giáo viên. + Thời gian tiết dạy có giới hạn. Vì sợ mất nhiều thời gian nên giáo viên cũng có thói quen chỉ cần dựa vào ý kiến phát biểu của một số học sinh khá giỏi để tóm tắt, kết luận đúng. Giáo viên thường rất ngại học sinh nêu ra những ý kiến chưa trùng khớp với ý kiến đã chuẩn bị sẵn của mình. Do đó, kết quả tất yếu vẫn chỉ là thay thế sự áp đặt của giáo viên bằng sự áp đặt của một số học sinh khá giỏi với đa số học sinh khác mà thôi. + Mặt khác do chế độ kiểm tra, thi cử cũng vẫn chưa có nhiều thay đổi đáng kể, việc đánh giá kết quả học tập và thi cử của học sinh vẫn chủ yếu dựa vào khả năng ghi nhớ học thuộc theo sách giáo khoa. + Khi thảo luận, chỉ có số ít học sinh làm việc thật sự (nhóm trưởng và HS khá, giỏi trong nhóm), còn lại các em thường ngồi chơi, nói chuyện, làm việc riêng. Một số học sinh không ý thức được sự cần thiết phải hợp tác để chiếm lĩnh tri thức nên nhiều khi các em biến hoạt động thảo luận thành cơ hội để tán gẫu, lãng phí thời gian, gây ồn ào, ảnh hưởng tới lớp khác. 3/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” + Số lượng học sinh trong lớp quá đông cũng là nguyên nhân dẫn đến việc giáo viên ít vận dụng phương pháp này. + Vì những hạn chế trên mà phương pháp thảo luận nhóm thường được vận dụng mang tính hình thức, chủ yếu trong các giờ thao giảng, hội giảng hoặc thi giảng, hầu như ít được vận dụng trong những giờ học bình thường. => Với tất cả những lí do nêu trên, cách dạy “đàm thoại” hay “thuyết trình” được duy trì ở hầu hết các tiết học, qua nhiều năm đã làm mất dần tính năng động vốn có của học sinh cấp Trung học cơ sở. Thực tế đó đã cho thấy từ lớp đầu cấp cho đến lớp cuối cấp số học sinh hăng hái tích cực trong học tập, tích cực tham gia xây dựng bài giảm dần. Hoạt động học tập chủ yếu của học sinh trong một tiết học là chú ý nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ để về nhà học thuộc lòng và tái hiện lại khi giáo viên kiểm tra. Có thể nói cách dạy của nhiều giáo viên đã tạo nên thói quen học tập thụ động của học sinh. Chất lượng dạy bộ môn Sinh học không thể được cải thiện nếu tình trạng trên cứ kéo dài, việc dạy bộ môn Sinh học không thể góp phần đào tạo được những con người năng động sáng tạo đáp ứng được yêu cầu của xã hội với nền kinh tế thị trường. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp, nhất là việc làm sao học sinh tự mình biết làm việc theo nhóm để giúp giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học trong trường Trung học cơ sở đã trở thành một yêu cầu cấp bách, đặc biệt là dạy theo mô hình dạy học hiện nay. Trên cơ sở những kết quả đã đạt được trong những năm qua, tôi xem công tác giảng dạy cũng chính là một phần không thể tách rời trong công tác giáo dục của bản thân. Nhằm phát huy các biện pháp hữu hiệu của bản thân cũng như học hỏi từ bạn bè, đồng nghiệp, tôi áp dụng một số biện pháp cải tiến cho phù hợp với thực tế. Thông qua kế hoạch và chỉ đạo của Ban giám hiệu trong việc giảng dạy theo mô hình hiện nay, tôi có kế hoạch cụ thể gắn với tình hình thực tế của khối lớp 8 ở trường Trung học cơ sở Bồ Đề trong việc tìm: “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” với những biện pháp cụ thể sau: 3. Các giải pháp thực hiện: Trong dạy học hình thức thảo luận nhóm đang được nhiều giáo viên quan tâm. Cho dù người thầy có chuẩn bị nội dung phong phú và chu đáo đến đâu đi nữa mà sử dụng không đúng phương pháp, chắc chắn sẽ làm cho khả năng tiếp thu kiến thức của học trò bị hạn chế và kết quả đạt được sẽ không như ý muốn. Trong quá trình đứng lớp tôi luôn tìm hiểu phải làm thế nào để tạo sự yêu thích và hứng thú cho học sinh. Theo tôi quan trọng nhất là phải phát huy được 4/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” sự chủ động tích cực của học sinh khi tiếp nhận kiến thức bằng hoạt động nhóm ngay trên lớp học. Đây là vấn đề mang nhiều thử thách mà người giáo viên cần phải nghiên cứu giải quyết. Trong dạy học tích cực, hoạt động nhóm là phương pháp có nhiều ưu điểm. Trong đó người học được phát huy tối đa được bộc lộ những khả năng của bản thân. Đồng thời qua đó, các em còn có điều kiện học hỏi lẫn nhau, tạo không khí thoải mái trong học tập. Điều đặc biệt là luôn có được cảm giác tự do, thoải mái không bị áp đặt, hoạt động nhóm khiến cho giờ học sinh động hơn. Trong quá trình nghiên cứu và từ thực dạy hay học hỏi từ bạn bè, đồng nghiệp tôi ghi nhận được một số ưu nhược điểm trong tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh như sau: * Ưu điểm: - Tạo được không khí vui tươi, sinh động cho giờ học. - Phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo sự đoàn kết, hợp tác giữa các thành viên trong nhóm và mở rộng giao lưu với các học sinh khác, góp phần tích cực trong quá trình xây dựng nội dung bài học. - Giáo viên rèn luyện dần phương pháp học tập, nghiên cứu và thái độ học tập tập thể, trên cơ sở đó sẽ tạo điều kiện tốt cho các em học tập cao hơn. - Rèn luyện vốn ngôn ngữ cho các em trong giao tiếp, kết chặt tình bạn bè qua những lời nói sẻ chia, yêu thương và giúp đỡ nhau. - Giúp các em tự tin qua những lần thảo luận, thuyết trình, đồng thời rèn luyện năng lực tư duy và phát hiện vấn đề. - Thảo luận nhóm là cơ hội tốt cho các em học tập, trao đổi lẫn nhau. Học sinh sẽ đóng góp những ý kiến của mình để hoàn chỉnh dần kiến thức của cả nhóm. - Qua quan sát hoạt động của các nhóm, giáo viên có thể đánh giá chính xác năng lực của từng học sinh từ đó kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp, đồng thời cũng kịp thời chấn chỉnh thái độ học tập không tốt của học sinh. * Nhược điểm: - Nếu trình độ học sinh trong nhóm không đều nhau thì những học sinh giỏi, khá sẽ lấn lướt những học sinh trung bình, yếu. Các em trung bình, yếu sẽ không có những điều kiện để nói lên ý kiến riêng của mình. Từ đấy, các em dễ mặc cảm, bất mãn, lơ là và không chú ý vào việc thảo luận. - Giáo viên thường bị động về thời gian. - Lớp thường có số lượng quá đông (khoảng trên 30 học sinh), gây trở ngại rất nhiều trong tổ chức, quản lí các nhóm. 5/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” - Đa phần học sinh ít chuẩn bị trước ở nhà, vào lớp thì không chú ý tới việc thảo luận nên ít mang lại hiệu quả như mong muốn. Vì thế, muốn hoạt động thảo luận nhóm thành công, giáo viên phải nắm vững phương pháp, biết cách tổ chức, kết hợp nhiều phương tiện, kỹ thuật hỗ trợ. Sau đây là một số biện pháp tôi thực hiện khi tổ chức hoạt động nhóm trong giảng dạy chương trình Sinh học 8 ở trường Trung học cơ sở Bồ Đề như sau: 3.1. Giải pháp 1: vạch ra cụ thể các bước hoạt động nhóm: + Giới thiệu trọng tâm vấn đề cần thảo luận. + Xác định nhiệm vụ của các nhóm. + Thành lập các nhóm, tránh xây dựng nhóm lớn phải di chuyển vị trí gây mất thời gian và ồn ào. + Lập kế hoạch làm việc cụ thể cho từng nhóm. + Các nhóm tiến hành giải quyết nhiệm vụ. + Báo cáo kết quả thảo luận trước nhóm hoặc trước cả lớp. Muốn thành công trong hoạt động nhóm giáo viên phải nắm vững phương pháp thực hiện và có sự chuẩn bị trước. Để chuẩn bị tốt, giáo viên cần trả lời những câu hỏi sau: + Vấn đề đặt ra trong bài học có phù hợp với dạy học nhóm không? + Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống nhau hay khác nhau? + Học sinh đã có đủ kiến thức và tài liệu cho công việc nhóm chưa? + Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào? + Cần chia nhóm theo tiêu chí nào? + Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào? + Thời gian học có đảm bảo cho việc hoạt động nhóm không? 3.2. Giải pháp 2: Phân chia các dạng bài tập/câu hỏi thảo luận trong giờ dạy: Như đã nói ở trên, việc lựa chọn vấn đề thảo luận là khâu then chốt quyết định sự thành công hay thất bại của phương pháp này. Khoảng 80% thành công của hoạt động nhóm là giáo viên đưa ra được các vấn đề thảo luận thú vị. Để vận dụng thành công phương pháp này vào giờ dạy, giáo viên cần xây dựng được các dạng bài tập/câu hỏi thảo luận phù hợp với từng nội dung, từng đơn vị kiến thức bài học. - Dạng bài tập/câu hỏi thảo luận trên lớp: + Dạng bài tập thảo luận so sánh: So sánh cấu tạo, chức năng giữa các hệ cơ quan người với động vật thuộc lớp Thú; so sánh cấu tạo, chức năng giữa các loại não bộ ở người với nhau 6/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” Ví dụ 1: So sánh bộ xương và hệ cơ của người với thú để thấy được đặc điểm của bộ xương và hệ cơ người tiến hóa so với thú: có sự phân hóa giữa chi trên và chi dưới thích nghi với tư thế đứng thẳng, lao động và đi bằng hai chân Ví dụ 2: So sánh lượng khí bổ sung, lượng khí lưu thông, lượng khí dự trữ, lượng khí cặn giữa hít thở sâu và hít thở bình thường. Ví dụ 3: So sánh cấu tạo của trụ não và đại não để thấy được sự trái ngược nhau về vị trí chất xám và chất trắng. + Dạng bài tập phân tích: Phân tích đặc điểm cấu tạo, chức năng của các hệ cơ quan người để thấy được sự tiến hóa giữa người với động vật thuộc lớp Thú, phân tích để đi đến kết luận chung về một đơn vị kiến thức, Ví dụ 1: Phân tích đặc điểm cấu tạo mạch máu phù hợp với chức năng vận chuyển máu trong toàn cơ thể. Ví dụ 2: Phân tích mối quan hệ giữa trao đổi chất của cơ thể với môi trường ngoài và trao đổi chất của tế bào với môi trường trong. Ví dụ 3: Phân tích ví dụ cụ thể về sự phối hợp hoạt động của các tuyến nội tiết như quá trình điều hòa đường huyết trong cơ thể. + Dạng bài tập lập sơ đồ, bản đồ: sử dụng các mũi tên đường thẳng và hình vẻ để biểu thị mối quan hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ cơ quan hay bộ phận. Loại này thích hợp trong các giờ ôn tập, kiến thức khái quát, hệ thống sau một phần hoặc chương và khắc sâu kiến thức sau nội dung bài. Ví dụ 1: Khi dạy bài Giới thiệu chung hệ thần kinh, mục II.1. Hệ thần kinh (theo cấu tạo). Học sinh hoạt động nhóm hoàn thành sơ đồ sau: Não bộ (Hộp sọ) Bộ phận trung ương Tủy sống (Cột sống) Hệ thần kinh Bó sợi cảm giác Dây thần kinh Bộ phận ngoại biên Bó sợi vận động Hạch thần kinh Ví dụ 2: Khi dạy bài Tuyến tụy và tuyến trên thận, mục I. Tuyến tụy. Học sinh hoạt động nhóm hoàn thành câu hỏi lệnh sách giáo khoa: Trình bày tóm tắt quá trình điều hòa lượng đường huyết giữ được mức ổn định. Khi đường huyết tăng Khi đường huyết giảm (+) (+) Đo7/17 ty T bào T bào
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” (-) (-) Insulin Glucagôn Glucôzơ Glycôgen Glucôzơ Đường huyết giảm Đường huyết tăng đến mức bình thường lên mức bình thường + Dạng bài tập/câu hỏi thực hiện ở nhà, tiết học sau trình bày (thực hiện nội dung phiếu giao việc hay nội dung hướng dẫn về nhà) Giáo viên cho các bài tập/câu hỏi để mỗi nhóm chuẩn bị. Bài tập/câu hỏi có thể là tìm những vấn đề có liên quan đến bài học, sưu tầm tư liệu, tìm hiểu một vấn đề nào đó, hoặc toàn bộ nội dung của bài học. Bài tập/câu hỏi này có tác dụng giúp học sinh tìm hiểu trước vấn đề, khi vào lớp học, các nhóm sẽ góp ý kiến bổ sung những mảng kiến thức còn thiếu, từ đó các em sẽ hiểu vấn đề hơn. Hạn chế của dạng bài tập/câu hỏi này là giáo viên không thể nắm bắt tình hình học nhóm của các em, do vậy sẽ có những học sinh không tham gia trực tiếp với các bạn của mình để thảo luận. Ví dụ: Khi dạy xong bài Cơ quan phân tích thị giác. Giáo viên yêu cầu học sinh nhóm về thực hiện nội dung phiếu giao việc sau: PHIẾU GIAO VIỆC “Bài 50: Vệ sinh mắt, mục II. Bệnh về mắt” Em hãy quan sát hình, kết hợp thông tin sách giáo khoa phần II, hoàn thành bảng sau: Bệnh đau mắt hột: Nguyên nhân Đường lây lan Triệu chứng Hậu quả Cách phòng tránh 8/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” 3.3. Một số vấn đề cần chú ý: a. Lựa chọn nội dung cần thực hiện: Việc lựa chọn nội dung rất quan trọng. Câu hỏi quá khó hoặc quá dễ đối với học sinh đều ảnh hưởng đến hoạt động thảo luận của các em. Lựa chọn câu hỏi thảo luận phải hấp dẫn, có tính chất kích thích tính tích cực chủ động làm việc của học sinh. Câu hỏi thảo luận phải là vấn đề chính của bài học, vấn đề có thể có nhiều hướng khai thác khác nhau, nhiều cấp độ nhận thức khác nhau. Thường là loại cấp độ phát hiện và suy luận. Trong đó đặc biệt chú ý: - Phải đặt ra nhiệm vụ cụ thể của từng nhóm bằng một câu hỏi. Câu hỏi phải rõ ràng, không mập mờ, thách đố và phải duy nhất một cách hiểu. - Phải có hướng dẫn cụ thể về yêu cầu và định hướng cách thức làm việc. - Những vấn đề không nên cho hoạt động nhóm: những câu hỏi mà nội dung kiến thức trả lời có sẵn trong sách giáo khoa, những câu hỏi không rơi vào trọng tâm bài, những câu hỏi mà nội dung kiến thức trả lời không cụ thể còn chung chung, - Thời gian hoạt động nhóm phải tương ứng với nội dung yêu cầu của vấn đề thảo luận. b. Chia nhóm - bố trí chỗ ngồi: Khi chia nhóm cần chú ý: - Cần phải chia đều về số lượng và năng lực làm việc giữa các nhóm với nhau. Không chia nhóm này quá nhiều, nhóm kia quá ít; nhóm này tập trung học sinh giỏi, nhóm kia phần đông là học sinh yếu kém, ý thức học tập chưa cao. - Không nên chia nhóm lẻ, vì trong hoạt động nhóm lớn thì đôi khi vấn đề đặt ra trong bài học không nhiều, giáo viên có thể cho đôi bạn cùng trao đổi một vấn đề. Nhưng sau đó giáo viên có thể linh hoạt cho đôi bạn này báo cáo, đôi bạn kia theo dõi bổ sung nếu cần thiết. - Nếu số lượng quá đông: trên 30 học sinh 1 lớp, giáo viên có thể linh hoạt chia từ 5-6 nhóm/1 lớp và từ 5-6 học sinh/1 nhóm có như thế thì sự lĩnh hội kiến thức của các em mới có hiệu quả cao, tránh để học sinh phải di chuyển chỗ ngồi trong giờ học. c. Giao nhiệm vụ: Rất nhiều trường hợp tổ chức hoạt động nhóm không thành công, trong đó nguyên nhân chính thường do giao nhiệm vụ không rõ ràng, phân công không hợp lí. Nhiệm vụ được giao thì quá nhiều trong khi thời gian để làm thì quá ít, khi lại quá nhiều. Trong những lần như thế, thảo luận nhóm đa phần chỉ mang hình thức, không có giá trị thiết thực. 9/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” Vì thế, khi tổ chức chia nhóm, cần chú ý giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi nhóm, nhất là các thành viên trong nhóm. Mỗi nhóm phải có thư kí để tổng hợp ý kiến của các thành viên trong nhóm. Học sinh được giao nhiệm vụ này phải là những học sinh khá – giỏi, tích cực, năng động, có khả năng tổng hợp và trình bày vấn đề trước tập thể. Đây là kỹ năng quan trọng cần được rèn luyện thường xuyên. Kỹ năng này rất có ích cho các em sau này khi bước vào đời. Vì thế, giáo viên cũng nên tạo cơ hội cho tất cả được thử sức, không nên quá tập trung vào một em duy nhất. d. Giám sát hoạt động của từng nhóm: Do đa phần học sinh của chúng ta có ý thức học tập không cao, năng lực học tập không đều. Thường với một nhóm đông thành viên, rất dễ dẫn đến nhiều em không tập trung, làm việc riêng. Hoặc trong quá trình thảo luận, có khi do lúng túng không hiểu rõ yêu cầu của vấn đề cần thảo luận dẫn đến làm lệch hướng, không đáp ứng yêu cầu đặt ra. Vì thế, giáo viên phải giám sát thường xuyên, phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh cũng như tháo gỡ những vướn mắc của các em. e. Trình bày kết quả thảo luận: Khi kết thúc quá trình thảo luận, mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Thường, công việc này do thư kí hoặc nhóm trưởng trình bày. Tùy vào điều kiện hoặc nội dung giáo viên có thể cho các nhóm tham gia phản biện. Khi ấy, giáo viên chính là trọng tài có nhiệm vụ dẫn dắt, định hướng vào nội dung câu hỏi thảo luận, tránh lệch hướng. Điều cần chú ý, tất cả các nhóm phải được trình bày kết quả thảo luận của mình. Tất cả các học sinh trong nhóm cũng được thay phiên nhau trình bày kết quả thảo luận trước nhóm. Thực tế qua dự giờ một số đồng nghiệp, do không có thời gian, một số thầy cô chỉ chọn những học sinh khá giỏi trình bày. Điều này là không công bằng. Có thể hình thành ở các em thái độ không cố gắng trong những lần sau. Cũng như giáo viên không nhận ra được những ưu và khuyết điểm của các em. Và như thế sẽ không đánh giá một cách toàn diện được từng học sinh. f. Tổng kết đánh giá: Tổng kết đánh giá là khâu cuối cùng của hoạt động thảo luận. Vấn đề cốt lõi của khâu này là phải tìm ra được vấn đề - có thể xem như chân lý mà mỗi nhóm hay mỗi cá nhân trong nhóm đã đạt được hoặc chưa đạt được. Nếu chưa giáo viên cần hướng dẫn học sinh đi đến kiến thức đúng về vấn đề đặt ra. Và so sánh giữa các nhóm để làm cơ sở đánh giá năng lực của từng nhóm cũng như rút kinh nghiệm cho lần sau. 10/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” Ngoài ra cũng cần đánh giá khả năng làm việc của nhóm hay cá nhân, làm việc có khoa học hay không, những ai tích cực, những ai lười biếng, hay làm chuyện riêng, cần rút kinh nghiệm gì, Giáo viên nên nhận xét cụ thể, khách quan để khích lệ tinh thần học tập của các em. 3.4. Một vài kỹ thuật phối hợp trong hoạt động nhóm: Việc tổ chức hoạt động nhóm có thành công hay không, phần lớn tùy thuộc rất nhiều vào kỹ thuật tổ chức. Qua quá trình học tập, rút kinh nghiệm từ bản thân và đồng nghiệp tôi nhận thấy trong tổ chức hoạt động nhóm nên có thể vận dụng kết hợp những kỹ thuật dạy học sau: a. Đặt câu hỏi, tình huống có vấn đề: Câu hỏi phải kích thích sự hứng thú của học sinh, phải vừa tầm khả năng làm việc của nhóm. Vì thế giáo viên nên lựa chọn câu hỏi phải đạt cấp độ vừa mang tính phát hiện vừa có sự tư duy sâu. Ví dụ: Khi dạy bài Tiêu hóa ở dạ dày, giáo viên có thể đặt câu hỏi cho nhóm như sau: Trình bày các hoạt động biến đổi thức ăn ở dạ dày. Yêu cầu: Học sinh lựa chọn các mảnh bìa có ghi sẵn thông tin hoàn thành nội dung bảng 27. Các hoạt động biến đổi thức ăn ở dạ dày Biến đổi thức Các hoạt động Các thành phần Tác dụng của hoạt động ăn ở dạ dày tham gia tham gia hoạt động Biến đổi lí - Sự tiết dịch vị - Tuyến vị - Hòa loãng thức ăn học - Sự co bóp của - Các lớp cơ của dạ - Đảo trộn thức ăn cho dạ dày dày thấm đều dịch vị Biến đổi hóa Hoạt động của Enzim pepsin Phân cắt prôtêin chuỗi học enzim pepsin dài thành các chuỗi ngắn gồm 3-10 axit amin b. Kỹ thuật “Khăn trải bàn” hay kỹ thuật “Bàn tay nặn bột”: Ví dụ: Chia tờ giấy ra thành nhiều phần xung quanh tờ giấy. Tùy thuộc vào số lượng của nhóm sẽ có số lượng khung tương ứng. Các thành viên sẽ ghi ý kiến tìm được của mình vào trong khung đó. Phần chính giữa là ý chung, được thống nhất của cả nhóm. Phần này do thư kí nhóm ghi lại. Sử dụng kỹ thuật này giáo viên sẽ dễ dàng đánh giá từng thành viên một. Đánh giá khả năng làm việc của nhóm, đặc biệt là về mặt hình thức. c. Sử dụng phiếu học tập: Phiếu học tập là những tờ giấy rời có nội dung hướng dẫn, yêu cầu học sinh làm việc trong một thời gian ngắn tại lớp học hoặc được làm ở nhà trước mỗi bài học. 11/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” Sử dụng kỹ thuật dùng phiếu học tập trong thảo luận nhóm là biện pháp đem lại hiệu quả tích cực nhất. Để làm tốt công việc này, đòi hỏi người giáo viên phải kì công thiết kế. Một phiếu học tập được xem là tốt phải là phiếu vừa mang tính thẩm mỹ vừa thể hiện đầy đủ các yêu cầu đăt ra từng cá nhân hoặc nhóm. Ví dụ: Khi dạy bài Vệ sinh mắt, giáo viên yêu cầu học sinh nhóm thực hiện nội dung phiếu học tập sau: PHIẾU HỌC TẬP: “Bài 50: Vệ sinh mắt, mục I. Các tật của mắt” Bảng 50. Các tật mắt, nguyên nhân và cách khắc phục Các tật mắt Cận thị Viễn thị Nguyên nhân Cách khắc phục Sau đây là một số hướng giải quyết của tôi trong quá trình lên lớp: Ví dụ: Khi dạy Bài 3 – Tế bào. Qua quá trình hướng dẫn về nhà giáo viên nêu yêu cầu của bài, học sinh phải trả lời các câu hỏi lệnh, quan sát, ghi nhớ chú thích hình vẽ để hoàn thành bài tập củng cố. Hoạt động của thầy và trò Nội dung Hoạt động 1: Cấu tạo tế bào I. Cấu tạo tế bào Giáo viên: Dùng tranh hình 3.1 yêu cầu học sinh trình bày cấu tạo của một tế bào điển hình. Học sinh: Quan sát tranh ghi nhớ chú thích, nhận xét cấu tạo của tế bào. Giáo viên: Chú ý hướng dẫn để các em rút ra kết luận cấu tạo của tế bào. - Gọi học sinh lên bảng chỉ tranh vẽ. - Đại diện 1 đến 2 học sinh chỉ tranh trình bày cấu tạo của tế bào. - Lớp nhận xét bổ sung nếu cần. Học sinh nêu được: Tế bào gồm 3 phần: Tế bào gồm: + Màng sinh chất + Màng sinh chất + Chất tế bào + Chất tế bào 12/17
- “Một số biện pháp giúp học sinh hoạt động nhóm tốt hơn trong giờ học môn Sinh học 8” + Nhân + Nhân Hoạt động 2: Chức năng của các bộ II. Chức năng của các bộ phận phận trong tế bào trong tế bào - Học sinh quan sát thông tin bảng 3.1- Chức năng của các bộ phận trong tế bào hoạt động nhóm trả lời câu hỏi: “Giải thích mối quan hệ thống nhất về chức năng giữa màng sinh chất, chất tế bào và nhân tế bào?” Bước đầu qua hoạt động này tôi nhận thấy phần lớn các em còn lúng túng, chưa xác định được chính xác nội dung cần thảo luận. Chưa thể hiện được vai trò của nhóm trưởng, thư kí, các thành viên trong nhóm còn lơ là trong thảo luận. Qua hướng dẫn các em dễ dàng rút ra kết luận về mối quan hệ chức năng giữa màng sinh chất, chất tế bào và nhân tế bào. Nhưng các em trung bình, yếu còn chậm, rất bỡ ngỡ, chưa mạnh dạn ý kiến còn e ngại, một số em chưa tập trung chú ý vào thảo luận. Hoạt động của thầy và trò Nội dung Hoạt động 4: Hoạt động sống của tế bào IV. Hoạt động sống của tế bào Giáo viên: Dùng hình 3.2- Sơ đồ mối quan hệ giữa chức năng của tế bào với cơ thể và môi trường. - Yêu cầu học sinh dựa vào sơ đồ hoạt động nhóm trả lời các câu hỏi trong phiếu học tập. 1/ Cơ thể lấy thức ăn từ đâu? 2/ Thức ăn được biến đổi và chuyển hóa như thế nào trong cơ thể? 3/ Cơ thể lớn lên được do đâu? 4/ Giữa tế bào và cơ thể có mối quan hệ như thế nào? 5/ Chức năng của tế bào trong cơ thể là gì? Học sinh: Nghiên cứu hình 3.2- Hoạt động nhóm trả lời các câu hỏi gợi ý trong phiếu học tập. Học sinh nhận thấy được: mọi hoạt động sống của cơ thể đều có ở tế bào. Kết luận: Tế bào có chức năng 13/17

