Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc Lớp Một
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc Lớp Một", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_doc_tho.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc Lớp Một
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. vào. Sang học kỳ 2, học sinh bắt đầu làm quen với môn Tập đọc. Trong đó có đọc các đoạn văn, các bài thơ ngắn, nhưng nhìn chung chủ yếu là thơ. Hiện nay, việc đọc các văn bản của học sinh còn sai rất nhiều. nhất là đọc thơ các em thường không đọc đúng vần điệu, ngắt nhịp lấy hơi không đúng nên khi nghe một bài thơ sẽ kém thuyết phục. Việc giúp các em đọc đúng nhất là đọc đúng các bài thơ sẽ làm tăng nhận thức Tiếng Việt của các em. Đồng thời khi nghe một bài thơ đọc đúng các em sẽ cảm nhận được phần nào tâm hồn của bài thơ từ đó các em hứng thú hơn nữa trong việc học tập của mình. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong từ, trong câu, đọc đúng ngữ điệu, biết cách ngắt nghỉ hơn trong văn bản thơ, cũng như văn bản văn xuôi. Những băn khoăn này chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một”. II. THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG 1. Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 09 năm 2018 đến tháng 03 năm 2019. 2. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 1, trường Tiểu học. 3. Đối tượng nghiên cứu: “Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một”. III. SỐ LIỆU KHẢO SÁT Khi bắt đầu vào học kỳ hai tôi đã tiến hành khảo sát khả năng đọc các bài thơ của học sinh có trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt - Lớp 1. Bảng 1: Mức độ hứng thú và yêu cầu cần đạt về kĩ năng đọc và mức độ hứng thú với môn Tập đọc trước khi áp dụng sáng kiến (Số liệu lấy vào thời điểm tháng 9/2018) Sĩ số Mức độ hứng thú Yêu cầu cần đạt về kĩ năng đọc Thích Bình thường Không thích Đọc chậm, ngọng Đọc đúng Đọc lưu loát SL % SL % SL % SL % SL % SL % 67 15 22,4 20 29,8 32 47,8 23 34,3 32 47,8 12 17,9 Nhìn vào số liệu trên chúng tôi nhận thấy kĩ năng đọc của các em còn chưa tốt, nhất là đọc thơ. Vào giai đoạn này để đọc được các câu thơ theo đúng là cả một vấn đề rất lớn đối với các em. Vì vậy, việc rèn đọc đúng cho học sinh trong các tiết Tập đọc ở lớp Một nói chung và đọc thơ nói riêng là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết. 2/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. PHẦN II - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN Tập đọc là một phân môn có vị trí hết sức quan trọng trong môn Tiếng Việt nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. Đọc thông viết thạo là một yêu cầu đặt ra với bất cứ học sinh Tiểu học nào, ngay từ những ngày đầu tiên đến trường các em đã phải học đọc mặc dù ở giai đoạn này việc đọc của các em mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện kí hiệu chữ viết và giải mã bằng âm thanh song đây là một giai đoạn rất quan trọng bởi đó là giai đoạn học sinh phải học để đọc và làm nền tảng cho những giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đọc để học. Càng về sau yêu cầu đặt ra trong việc đọc càng được nâng cao, từ việc đọc để hiểu được nội dung văn bản đến việc phát triển kĩ năng đọc diễn cảm. Dạy học Tập đọc ở Tiểu học là một việc làm hết sức có ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc cho học sinh, nó khẳng định sự cần thiết cho việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh. Thông qua phân môn Tập đọc mà trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn học văn và phát triển tư duy, mở rộng vốn hiểu biết của học sinh về cuộc sống. Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm trong sáng, yêu cái đẹp, cái thiện, có thái độ ứng xử tốt trong cuộc sống, yêu Tiếng Việt. II. THỰC TRẠNG DẠY HỌC Qua nhiều năm giảng dạy và trao đổi với đồng nghiệp tôi đã có những nhận xét chung về thực trạng dạy học như sau: 1. Đối với giáo viên Nhìn chung giáo viên tiểu học đều rất coi trọng tiết tập đọc. Giáo viên đã nghiên cứu phương pháp dạy Tập đọc để dạy tốt song chưa đi sâu lựa chọn phương pháp cho phù hợp để tiết dạy đạt kết quả cao nhất. Bên cạnh đó một số giáo viên chưa chú ý và coi trọng tính luyện tập, thực hành của học sinh. Tôi thấy trách nhiệm của người giáo viên rất quan trọng trong sự nghiệp trồng người. Mục tiêu của giáo dục tiểu học là hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu về môn Tiếng Việt trong đó có phân môn Tập đọc. Tập đọc là phân môn thực hành vì vậy nhiệm vụ của nó là hình thành kĩ năng đọc cho học sinh. Dạy đọc giáo dục lòng ham đọc sách cho học sinh giúp cho các em thấy được đây chính là con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ phát triển. Tập đọc góp phần là giàu vốn kiến thức ngôn ngữ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy cho các cách tư duy có hình ảnh. Xuất phát từ nhiệm vụ của môn học ,động cơ dạy học của môn học người giáo viên phải luôn nhiệt tình trong giảng dạy. Người giáo viên phải hiểu rõ nội dung bài tập đọc dể truyền đạt cho học sinh kĩ năng đọc đúng. Người giáo viên phải đọc tốt, đọc hay thì mới rèn khả năng đọc cho học sinh . 3/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. 2. Đối với học sinh Qua nắm bắt chất lượng đọc của học sinh trong những năm học trước đây, tôi nhận thấy kĩ năng đọc của một số học sinh còn tồn tại. Đó là hiện tượng đọc chậm so với yêu cầu tốc độ đọc, đọc ngọng thanh (hỏi, ngã, sắc) đọc ngọng vần (vần anh, inh, ach); phát âm sai phụ âm (tr/ch, s/x, l/n); đặc biệt ngọng nhiều nhất là l/n; n đọc là l). Ví dụ : - Sai vần: anh/ăn và ach/ăt. Tiếng “Anh” học sinh đọc là “ăn” Từ “Anh em” học sinh đọc là “ăn em” Từ “Tờ tranh” học sinh đọc là “ tờ trăn” Từ “Có khách” học sinh đọc là “có khắt” - Sai thanh: Thanh ngã và thanh sắc Từ “Ăn cỗ” học sinh đọc là “ăn cố” Từ “Lọ mỡ” học sinh đọc là “lọ mớ” Từ “Hộp sữa” học sinh đọc là “hộp sứa” Từ “Cũng” học sinh đọc là “cúng” Từ “Anh dũng” học sinh đọc là “anh dúng” Từ “Quên vở” học sinh đọc là “quên vợ” - Sai phụ âm: tr/ch; s/x; l/n Từ “Sáng nay” học sinh đọc là “xáng lay” Từ “Lúc nào” học sinh đọc là “lúc lào” Từ “Con trâu” học sinh đọc là “con châu” Từ “Chói chang” học sinh đọc là “trói trang” Chính vì sự phát âm sai nên tốc độ đọc và đọc hiểu văn bản của học sinh rất hạn chế. Mặt khác theo yêu cầu học sinh còn phải đọc đúng. Yêu cầu tiếp theo đó là đọc nhanh, lưu loát cần có giọng đọc phù hợp với từng câu, từng đoạn, từng bài sao cho phù hợp với từng nhân vật đó là điều hết sức khó khăn với học sinh lớp Một. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy tốc độ đọc và đọc đúng các dòng thơ, đúng câu thơ của học sinh còn rất hạn chế. Đọc đúng nhịp điệu, đọc hay các bài thơ sao cho phù hợp là điều khó khăn với học sinh lớp Một. III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN Trước tình hình thực tế dạy học để luyện đọc thơ đúng cho học sinh trong các tiết Tập đọc ở lớp Một. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh luyện đọc để nâng cao chất lượng tiết học tập đọc đó là : - Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho tiết học. - Giáo viên cần đọc mẫu diễn cảm. - Hướng dẫn học sinh đọc đúng tiếng, từ khó trong bài thơ. 4/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. - Rèn kỹ năng đọc ngắt, nghỉ giọng đúng chỗ cho học sinh. - Tổ chức linh hoạt trò chơi học tập. 1. Biện pháp thứ nhất: Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho tiết học. Mỗi tiết Tập đọc muốn đạt hiệu quả cao thì yêu cầu đối với người giáo viên là phải có sự chuẩn bị bài chu đáo, lập kế hoạch dạy học chi tiết, chuẩn bị những đồ dùng cần thiết. Khi dạy bất kì một bài Tập đọc nào, bao giờ tôi cũng dành một khoảng thời gian nhất định để tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của bài mà tác giả muốn gửi gắm trong tác phẩm. Đọc bài một vài lần để tìm hiểu cách đọc, dự đoán trước các tình huống có thể xảy ra để lập kế hoạch dạy học phù hợp. Đối với các bài Tập đọc học thuộc lòng ở lớp 1 thì chủ yếu là thơ, do vậy trước khi dạy tôi luôn tìm hiểu cách ngắt nhịp thơ, cách gieo vần, thể loại thơ,.... để từ đó xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức tổ chức sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Giáo viên có nghiên cứu kĩ bài trước thì mới cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái hồn của tác phẩm mà tác giả muốn gửi gắm trong bài và phần giảng bài của giáo viên mới hấp dẫn, thu hút học sinh hứng thú với bài học. Để chuẩn bị cho việc đọc, trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh ngồi đọc sao cho đúng tư thế. Khi ngồi đọc cần phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách tứ mắt đến sách nên nằm trong khoảng từ 30 - 35 cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không vội vàng đọc ngay. Học sinh cần đọc to, rõ ràng. Khi đọc thành tiếng, học sinh có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cả hai. Đọc cùng với phát biểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên phải coi khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng, giáo viên cho các em hiểu rằng đọc không chỉ cho mình, cho cô giáo mà là cho tất cả. Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp đòi hỏi quá trình luyện tập lâu dài. Đối với học sinh lớp 1, việc rèn luyện kĩ năng kĩ năng phải tính từ điểm xuất phát đầu tiên: luyện đọc từng con chữ ghi âm, ghi vần tiến tới luyện đọc từng tiếng, từng từ, từng câu Ở lớp 1 giáo viên cần dành nhiều thời gian cho học sinh luyện tập đọc thông thạo văn bản trước khi kết hợp tìm hiểu nội dung văn bản. Song lưu ý nếu trình độ học của học sinh chưa tốt, các em đọc chưa lưu loát văn bản: Mục đích cuối cùng của việc đọc là để thông hiểu văn bản. Có nhiều cấp độ tạo nên sự thông hiểu toàn bộ nội dung văn bản: hiểu nghĩa của từ ngữ, nghĩa của câu, của đoạn, của toàn văn bản. Ngay ở mức độ đọc thầm việc phát lại các thông tin thành âm thanh ngôn ngữ vẫn được thực hiện trong trí não người đọc. Vì thế người bên ngoài không thể nghe được các âm thanh này. Cơ chế trên cho ta thấy có thể dạy cho học sinh từ việc luyện đọc thành tiếng thành thạo chuyển dần sang tập đọc nhẩm và đọc thầm, đọc to cho 5/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho tất cả những người này nghe rõ. Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên. Giáo viên nên cho học sinh trên bảng để đối diện với những người nghe. Tư thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay. Để giúp học sinh đọc tốt một bài Tập đọc, tôi thường hướng dẫn học sinh chuẩn bị một cách chu đáo, cụ thể đó là: - Đọc bài trước 1-2 lần. - Tìm xem bài tập đọc có mấy đoạn (khổ thơ), có mấy câu (dòng thơ) - Tìm tiếng có vần mới trong bài. - Tập trả lời miệng các câu hỏi về tìm hiểu nội dung trong bài. Ví dụ: Khi dạy bài Cái Bống tôi đã hướng dẫn học sinh chuẩn bị như sau: Cái Bống Cái Bống là cái bống bang Khéo sảy, khéo sàng cho mẹ nấu cơm. Mẹ Bống đi chợ đường trơn Bống ra gánh đỡ chạy cơn mưa ròng - Đọc thành tiếng 1-2 lần, dùng bút chì ghi số dòng thơ đầu trong bài tập đọc. - Nói câu chứa tiếng có vần anh hoặc ach M: Nước chanh mát và bổ Quyển sách này rất hay - Học sinh tập trả lời miệng các câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài. Phần tìm hiểu này giúp học sinh nhớ được nội dung bài. 6/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. + Bống đã làm gì để giúp mẹ nấu cơm? + Bống đã làm gì khi mẹ đi chợ về ? Việc chuẩn bị bài kỹ của học sinh như vậy nên ở trên lớp dưới sự gợi mở, dẫn dắt, hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ đọc đúng, tiến tới đọc hay, các em chủ động trong việc nắm bắt nội dung bài đọc, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong tiết học. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng để dạy thành công một tiết Tập đọc, truyền thụ được kiến thức một cách khoa học, sâu sắc giáo viên cần chuẩn bị kỹ những việc sau: + Soạn bài cụ thể, chi tiết thể hiện rõ hoạt động của thầy, của trò. Xây dựng được các phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với các phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại một cách linh hoạt để giờ dạy nhẹ nhàng và đạt hiệu quả. + Nắm chắc yêu cầu rèn đọc ở từng bài. Đọc kĩ bài tập đọc sắp dạy, trao đổi học tập cách dạy của đồng nghiệp, dự kiến các tình huống học sinh sẽ mắc phải và cách sửa các tình huống đó. + Tìm hiểu kĩ nội dung bài để hiểu được các biện pháp nghệ thuật tác giả đã dùng, từ đó xác định cách đọc đối với từng đoạn, từng bài để thể hiện đúng tình cảm của từng bài. + Nắm vững hệ thống câu hỏi trong bài tập đọc, đưa ra thêm những câu hỏi dẫn dắt để giúp học sinh phân tích, khai thác nội dung. + Soạn bài trên giáo án PowerPoint trình chiếu các slide phù hợp với nội dung bài học. Tự quay hoặc tham khảo một số tư liệu phục vụ cho bài học. 2. Biện pháp thứ hai: Giáo viên cần đọc mẫu diễn cảm bài thơ. Đọc mẫu của giáo viên vô cùng quan trọng vì muốn học sinh đọc đúng, đọc hay giáo viên phải giới thiệu mẫu đúng. Lời đọc mẫu của giáo viên nhằm định hướng cho học sinh đọc đồng thời giúp học sinh nhận thức đúng nội dung bài học. Nếu là văn bản nghệ thuật còn có tác dụng khơi gợi hứng thú và sự tưởng tượng của học sinh - giúp các em dễ đi vào thế giới của tác giả, tác phẩm dưới một ánh sáng hấp dẫn hơn. Với văn bản nghệ thuật đọc mẫu của giáo viên là đọc diễn cảm. Còn văn bản thông thường đọc mẫu là đọc đúng. Yêu cầu đọc diễn cảm chưa đặt ra với học sinh lớp 1 nhưng việc đọc diễn cảm bài thơ của Giáo viên là cần thiết. Giáo viên biết khích lệ động viên thì học sinh sẽ bắt chước giọng đọc của Giáo viên. Người Giáo viên có giọng đọc tốt diễn cảm, chuẩn mực thì không có gì đáng ngại nếu như học sinh bắt chước thầy cô. * Đọc mẫu của GV bao gồm: 7/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. - Đọc toàn bài: thường nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế học đọc cho học sinh. - Đọc câu, đoạn: Nhằm hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống” để học sinh nhận xét, giải thích nội dung bài đọc. - Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng cho học sinh Vấn đề đặt ra trước tiên, để đọc mẫu diễn cảm bài thơ, giáo viên cần tìm hiểu và cảm thụ bài thơ, tìm hiểu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác, vị trí của tác phẩm, tác giả... tiếp đến là việc tìm hiểu nội dung, hình thức bài đọc: thể loại, bố cục, kết cấu, nghệ thuật. Hiểu được nội dung cảm thụ: cảm thụ sâu sắc, tính lôgic sẽ đọc diễn cảm tốt. Giọng đọc mẫu diễn cảm hay sẽ bắt đầu từ cảm xúc của lòng mình, người đọc phải nhập vai lúc đó khả năng truyền cảm người nghe lớn hơn. Ví dụ : Bài: Ngôi nhà Em yêu nhà em Hàng xoan trước ngõ Hoa xao xuyến nở Như mây từng chùm. Em yêu tiếng chim Đầu hồi lảnh lót Mái vàng thơm phức Rạ đầy sân phơi. Em yêu ngôi nhà Gỗ, tre mộc mạc Như yêu đất nước Bốn mùa chim ca. Tô Hà - Đọc toàn bài với giọng đọc chậm rãi, tha thiết, tình cảm. Đọc ngắt hơi từng dòng thơ. - Luyện đọc một số tiếng, từ khó: hàng xoan, xao xuyến nở, lảnh lót, thơm phức. Như vậy qua gợi ý bằng câu hỏi, bằng hình ảnh của từ khó, luyện đọc từ khó giúp các em ghi nhớ đúng từ phát âm đúng. + Đối với từ : xao xuyến nở, lảnh lót, thơm phức. Giáo viên gợi mở bằng hình ảnh sau đó giải nghĩa từ. Học sinh hiểu nghĩa của từ sẽ giúp các em đọc đúng, đọc lưu loát. 8/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. hàng xoan hoa xao xuyến nở Tóm lại, việc giáo viên đọc mẫu diễn cảm bài thơ là rất cần thiết vì muốn học sinh đọc đúng phải giới thiệu cho các em mẫu đúng. Lời đọc mẫu đúng và hay của giáo viên có tác dụng định hướng cách đọc cho học sinh, đồng thời giúp các em nhận thức đúng hơn nội dung bài đọc. Nếu bài đọc là một văn bản nghệ thuật thì lời đọc của giáo viên còn có ý nghĩa khơi gợi hứng thú và tưởng tượng của học sinh, làm cho các em dễ đi vào thế giới của tác phẩm và thấy tác phẩm dưới một ánh sáng hấp dẫn hơn. Giáo viên cần hướng dẫn để học sinh đọc sao cho phù hợp với nội dung chính của bài văn, bài thơ. Đọc mẫu diễn cảm bài thơ của giáo viên chính là cái đích, mẫu hình kĩ năng đọc mà học sinh cần đạt được. Do đó yêu cầu đọc thành tiếng của giáo viên phải đảm bảo chất lượng đọc chuẩn: đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy, đọc đủ lớn, nhanh vừa phải và diễn cảm. Giáo viên phải ổn định trật tự, tạo cho học sinh tâm thế ngồi đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc, giáo viên đứng ở vị trí bao quát được cả lớp, không nên đi lại trong khi đọc, cầm sách mở rộng, đọc đủ lớn để em học sinh xa nhất cũng nghe rõ và thỉnh thoảng mắt phải rời sách nhìn lên học sinh nhưng không làm cho bài đọc bị gián đoạn. 3. Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn đọc đúng tiếng, từ khó. Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc đúng không phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc chính âm. Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu). Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng Việt cụ thể như sau: a/ Đọc đúng phụ âm đầu: * Học sinh đọc sai “s” với “x”. “X” đọc là “xờ” không đọc là “sờ” “Xe ô tô” không đọc là “se ô tô” 9/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. “S” đọc là “sờ” không đọc là “xờ” “Su su” không đọc là “xu xu” - Giáo viên phải đọc mẫu, phát âm thật chuẩn X phát âm nhẹ S phát âm nặng, đọc cong lưỡi( phụ âm đầu lưỡi – răng) Ví dụ: Trong bài tập đọc “Lũy tre” Giáo viên cần luyện cho học sinh luyện phát âm “s” và “x”. * Học sinh đọc sai “tr” thành “ch” Giáo viên hướng dẫn học sinh phát âm tiếng có âm “ch” thật rõ ràng. Sau đó luyện cho các em phát âm một số tiếng như: cha, cho, chúng, chanh, chân , chưa, chắc... Tiếp đó cho học sinh phát âm “t”( âm “t” làm âm trung gian, có cùng phương thức phát âm và tiêu điểm cấu âm đầu lưỡi – lợi gần với vị trí của “ch” và “tr”. Giáo viên hướng dẫn học sinh đặt vị trí đầu lưỡi và lưỡi quặt. Cho học sinh bật hơi mạnh để phát âm “tr” sau đó đưa âm về âm tiết như: “tra”, “trúng”, “tranh”, “trâm”, “trưa”. Tiếp đó giáo viên giúp học sinh đặt từ vào ngữ cảnh, vào hình ảnh cụ thể : Cha (mẹ) - Tra (hạt) Chanh (quả) - Tranh (vẽ ) Chân (tay) - Trân (trọng) Chưa (\xong) - Trưa (buổi trưa) Từ đó giúp học sinh cần phát âm đúng để người nghe hiểu rõ mục đích nói đúng và khi cần đọc cần phát âm đúng để người nghe hiểu rõ nội dung văn bản. * Học sinh đọc “r” thành “d” Cho học sinh phát âm d. Sau đó cho học sinh phát âm tiếng: da, do, danh, dung, dâu, dinh, dưỡng Hướng dẫn học sinh giữ nguyên vị trí của lưỡi khi phát âm “d” sau đó giữ nguyên mặt lưỡi. Sau đó phát âm “r”( lưỡi rung) tiếp đó đưa về âm tiết như : ra, rung, rinh. Tiếp đến giúp học sinh đưa từ vào văn cảnh : Ví dụ: Da (thịt) - Ra (vào) Danh(dự) - Ranh (ma) Dâu (quả) - Râu (chòm) * Học sinh đọc “l” thành “n” và “n” thành “l” Với học sinh việc phát âm sai l và n là phổ biến nên việc sửa l/n là việc làm cần thiết song không thể một sớm một chiều mà có kết quả ngay được. Bởi vì trẻ tiếp cận với quá nhiều người nói ngọng. Muốn sửa cho học sinh phát âm chuẩn hai âm này đòi hỏi giáo viên phải kiên trì và sửa cho các em mọi lúc mọi nơi, phải có sự giúp đỡ lẫn nhau để cùng khắc phục, phải có phương pháp, cách thức 10/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. luyện tập tốt nhất. Trong thực tế, học sinh hay đọc (nói) ngọng âm l thành n và ngược lại. Trước tiên, phải cho học sinh biết bộ phận phát âm chủ yếu của người là khoang miệng, lưỡi, lợi, môi, răng Muốn phát âm đúng, trước hết cần thấy sự giống nhau của hai âm này. - Điểm giống nhau: cả l và n đều là âm đầu lưỡi - lợi (hàm trên) - Điểm khác nhau: l là âm khe bên (âm xát), n là âm tắc. Muốn phát âm đúng thì âm l thì phải nâng mặt lưỡi cong lên, chặn luồng khí đi lên mũi, đồng thời hai bên lưỡi hạ xuống để luồng không khí từ phổi lên bên phải lách qua hai bên, cọ xát vào thành má, qua miệng mà thoát ra ngoài. Khi phát âm n, hai bên lưỡi phải áp sát vào hai bên miệng, đồng thời lưỡi con hạ xuống làm cho không khí từ phổi lên không hoàn toàn qua đường miệng mà phải có một phần qua mũi để thoát ra ngoài. Có cảm giác lưỡi hơi thụt về sau, đè xuống. Giáo viên phát âm l - n để học sinh phân biệt qua thính giác. Sau đó yêu cầu học sinh phát âm đúng l - n, phải tiến hành từng bước: từ luyện âm, luyện tiếng đến luyện câu, luyện đoạn, luyện bài. - Luyện phát âm từng âm l và n nhiều lần. - Luyện phát âm theo thứ tự: âm l trước, âm n sau, rồi đảo lại nhiều lần. - Tốc độ ban đầu phát âm chậm sau nhanh dần: n-ơ-nờ (nờ) na, no,nô, nơ Tiếp đó cho học sinh phát âm lo, la, lô, lơ - Giáo viên ghép từ vào văn cảnh để học sinh có ý thức đọc đúng, đọc hiểu. Ví dụ : Quả na - bao la Ăn no - lo lắng Nô nức - sông lô - Sau đó, tìm tư liệu là những câu thơ có l - n để luyện cho học sinh. + Lúa nếp là lúa nếp làng Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng. + Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. + Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền. + Một cây làm chẳng lên non Ba cây chụm lại lên hòn núi cao. + Con cò, con vạc, con nông Ba con cùng béo vặt lông con nào. Vặt lông con cốc cho tao 11/30
- Một số biện pháp giúp học sinh đọc thơ đúng và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp Một. Tao nấu, tao nướng, tao xào, tao ăn. b/ Đọc đúng phần vần. - Học sinh ở lớp tôi chủ nhiệm nói riêng và học sinh khối Một nói chung hay phát âm sai các vần sau: + Anh đọc sai thành an + Ach đọc sai thành ăt + Ươu đọc sai thành ưu hoặc iêu + Ưu đọc sai thành iu + Ay đọc sai thành ây nhảy dây đọc sai thành nhẩy dây + Áo bẩn đọc sai thành áo bửn - Thực tế khi học sinh đọc vần sai thì khi ghép vào tiếng cũng sai, vậy thì muốn học sinh đọc đúng tiếng có vần hay sai thì đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn học sinh đọc vần đúng. Việc làm đầu tiên giáo viên cần sử dụng phương pháp luyện theo mẫu để rèn cho học sinh theo đúng chuẩn chữ viết. Sau đó dùng kiến thức ngữ âm học để phân tích sự khác nhau cơ bản lỗi phát âm và chuẩn âm. Có thể sửa lỗi này bằng cách khi phát âm phải kết thúc bằng yếu tố ngậm miệng ở phụ âm cuối kèm theo tốc độ phát âm nhanh. Trong các nguyên âm đôi, yếu tố đầu bao giờ cũng rõ hơn. Ta có thể sử dụng điều này để sửa lỗi: đọc lướt, chuyển từ nguyên âm đôi thành nguyên âm đơn. Ví dụ: “ Rượu” là phát âm đúng đối lập với “rựu” giáo viên cho học sinh phát âm “ư” trước sau đó tạo nên sự đối lập giữa các âm tròn môi và không tròn môi bằng cách cho một loạt từ như mười- rươi-dưới-rựu-rượu. Sự tương đối này giúp học sinh nhanh nhận biết và dễ phát âm. c/ Đọc đúng thanh điệu. - Đối với học sinh lớp 1 các em hay ngọng thanh ngã nên khi đọc tiếng sai hẳn chữ ghi âm. Ví dụ: Bài Lũy tre- Sách Tiếng Việt 1-Tập 2- trang 121: từ “ngã” trong câu: “Những trưa đồng đầy nắng Trâu nằm nhai bóng râm” Giáo viên giúp học sinh từ đúng từ “những”. Như chúng ta biết thanh ngã có âm vực cao, độ cao bắt đầu gần ngang thanh huyền. Đường nét vận động bị gãy giữa do quá trình phát âm có hiện tượng tắc thanh hầu. Nên người ta có thể dùng thanh huyền để tạo mức độ cao tương tắc thanh hầu. Nên người ta có thể dùng thanh huyền để tạo mức độ cao lúc bắt đầu. Kết hợp với thanh nặng có yếu tố tắc ngậm giống hiện tượng tắc tương hầu của thanh ngã . Cuối cùng dùng thanh sắc để tạo đường nét vút cao. 12/30

