Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở Lớp 3
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_do_hoc_sinh_yeu.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở Lớp 3
- sinh biết có nhiều chữ số vận dụng những kiến thức về Toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu cần được thể hiện một cách phong phú. Nhờ vào việc học Toán mà học sinh có điều kiện phát triển năng lực tư duy, tính tích cực, rèn luyện phương pháp luận và hình thành những phẩm chất cần thiết của người lao động . Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán và các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú những vấn đề thường gặp trong đời sống. Trong chương trình toán 3 thì giải toán cũng là một mạch kiến thức khác và có ý nghĩa đặc biệt trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt qua việc giải các bài toán có nội dung hình học và bài toán liên quan đến rút về đơn vị là các dạng toán có ý nghĩa thực tiễn liên quan đến cuộc sống hàng ngày. Vì vậy nó được coi là cầu nối giữa toán học và thực tiễn, chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong chương trình toán 3. Học tốt môn Toán, học sinh sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn khác và học lên các bậc học trên. Ngoài ra, học sinh biết vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống, các vấn đề trong cuộc sống. Dựa trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu về các phương pháp dạy học toán ở tiểu học. Chuẩn kiến thức kỹ năng mà học sinh cần đạt được sau giờ học toán, những kiến thức có trong bài học, tham khảo sách hướng dẫn và một số tài liệu bồi dưỡng trong chương trình toán ở tiểu học. Bên cạnh đó còn có sự đúc kết kinh nghiệm của bản thân qua thực tế giảng dạy trong thời gian qua. 2. Căn cứ vào chương trình sách giáo khoa môn Toán – lớp 3 Như chúng ta đã biết, bậc Tiểu học có vai trò quan trọng, là bậc học nền tảng. Đặc biệt, môn toán 3 có vai trò đặc biệt vì nó vừa củng cố, vừa bổ sung, vừa hoàn thiện các kỹ năng cơ bản của môn toán ở giai đoạn đầu cấp, chuẩn bị cho việc học toán ở giai đoạn cuối cấp Tiểu học ( lớp 4 – 5).Để giáo viên tiểu học hiểu rõ cơ bản việc thực hiện giải các bài toán cho học sinh lớp 3. Nhìn chung các bài toán ở rất nhiều các tiết học được trình bày trong chương trình sách giáo khoa là hợp lý, khoa học. Mỗi một bài toán đều có phần kiến thức riêng, có phần luyện tập củng cố khắc sâu kiến thức . 3. Căn cứ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học Ở lứa tuổi học sinh lớp 3, khả năng tư duy của các em còn dừng lại ở mức tư duy đơn giản, trực quan. Chủ yếu các em nhận thức bằng cảm tính. Chính vì vậy, các kiến thức được học ở lớp 3 cũng là các kiến thức, kĩ năng ở thời điểm 3/8
- kết thúc của giai đoạn 1, chuẩn bị học tiếp giai đoạn sau, cho nên yêu cầu các em phải nắm được chắc tất cả các cơ sở ban đầu về cách giải toán , giải toán giúp học sinh phát hiện giải quyết vấn đề, tự nhận xét so sánh, phân tích, tổng hợp rút ra quy tắc ở dạng khái quát tất cả các kĩ năng khác nói chung. Đặc biệt, ở lớp 3 sang học kì II, các em bắt đầu được làm quen với các dạng bài toán khó hơn. Khi thực hiện giải toán này sẽ giúp các em vận dụng vào thực tế cuộc sống, nó đòi hỏi các em phải có kĩ năng tính toán tốt,tính nhanh, kĩ năng ứng dụng thực tế trong cuộc sống. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN: 1. Đặc điểm nhà trường: -Trường tiểu học nơi tôi công tác là một ngôi trường thuộc vùng nông thôn cách xa trung tâm huyện tới hơn chục cây số. 2. Đặc điểm học sinh: - Các em đều học ở đúng độ tuổi là 34 em ,không quá đông. Các em sống tập trung cùng trên một địa bàn dân cư nên rất thuận lợi cho việc quản lý học sinh. So với trước đây và đặc biệt trong năm học 2021-2022 các con phải học trực tuyến, phụ huynh đã có sự quan tâm hơn đối với việc học tập của con em mình. -Tuy nhiên ngay từ khi nhận lớp qua khảo sát thực tế tôi thấy lo lắng vì chất lượng học sinh không đồng đều, tỉ lệ học sinh yếu môn Toán chiếm khá cao. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến viêc học tập đối với các em cũng như công tác chủ nhiệm lớp giảng dạy của giáo viên như tôi. Thực trạng vấn đề giúp học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải toán điển hình ở lớp Ba. Thứ nhất: Tìm hiểu vai trò của dạy học giải toán ở Tiểu học nói chung và giải các bài toán có lời văn ở lớp 3 nói riêng. - Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán và các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú những vấn đề thường gặp trong đời sống. - Nhờ giải toán học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phần cần thiết vì giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã 4/8
- cho và cái cần tìm. Trên cơ sở đó chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán. - Dạy học giải toán giúp học sinh phát hiện giải quyết vấn đề, tự nhận xét so sánh, phân tích, tổng hợp rút ra quy tắc ở dạng khái quát. - Trong chương trình toán 3 thì giải toán cũng là một mạch kiến thức khác và có ý nghĩa đặc biệt trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt qua việc giải các bài toán có nội dung hình học và bài toán liên quan đến rút về đơn vị là các dạng toán có ý nghĩa thực tiễn liên quan đến cuộc sống hàng ngày. Vì vậy nó được coi là cầu nối giữa toán học và thực tiễn, chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong chương trình toán 3. Thứ hai: Phân tích phân phối chương trình các bài toán điển hình có nội dung hình học và bài toán liên quan đến rút về đơn vị trong chương trình Toán lớp 3. a. Nội dung dạy các bài toán điển hình có nội dung hình học được học thành 4 tiết lý thuyết và 3 tiết thực hành, cụ thể: - Chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông. - Diện tích hình chữ nhật, diện tích hình vuông. b. Nội dung dạy các bài toán có lời văn liên quan đến rút về đơn vị được học thành 2 tiết, cụ thể:- Tiết 121: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị (giải bằng phép tính chia và phép tính nhân). - Tiết 155: Bài toán được giải bằng 2 phép tính chia. * Yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt được: a. Bài toán có nội dung hình học - Biết tính độ dài đường gấp khúc. - Biết tính chu vi diện tích hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc). b. Bài toán liên quan đến rút về đơn vị - Học sinh biết giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn, có đến hai bước tính liên quan đến rút về đơn vị. *CÁC DẠNG BÀI TẬP ĐIỂN HÌNH: a. Các bài tập có nội dung hình học - Bài tập về “Nhận biết hình” (nhận dạng hình) - Bài tập về “xếp ghép hình” chẳng hạn từ 8 hình tam giác bằng nhau xếp thành các hình ví dụ như Bài 4 (trang 71 sgk ), hay Bài 4 (trang 82 sgk ) - Bài tập về ‘Tính chu vi” hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc) - Bài tập về :Tính diện tích” các hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc) 5/8
- - Bài tập về “Thực hành” chẳng hạn gấp giấy để tạo thành mép vuông (ví dụ Bài 4 trang 43 sgk) hoặc gấp tờ giấy hình chữ nhật để xác định trung điểm của đoạn thẳng (Bài 2 trang 99 sgk). b. Các dạng bài toán liên quan đến rút về đơn vị. Là một dạng của toán hợp giải bằng hai phép tính. Bài toán được xây dựng từ hai bài toán đơn là ý nghĩa thực tế của phép nhân hoặc phép chia, chẳng hạn: Dạng 1: Ví dụ: Bài 2 (trang128 sgk ) “Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao đó có bao nhiêu ki-lô-gam gạo ?” Dạng 2: Ví dụ: Bài 1(trang166 sgk ) “Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi. Hỏi 15 kg đường đựng trong mấy túi như thế ? Được xây dựng từ hai bài toán đơn: “ Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi. Hỏi mỗi túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam đường ?” và bài toán: “Mỗi túi đựng 5 kg đường. Hỏi 15 kg đường đựng trong mấy túi như thế ?- Thứ ba: Hướng dẫn học sinh các phương pháp giải bài toán điển hình ở lớp3. a. Bài toán có lời văn có nội dung hình học. Ví dụ: Với hình chữ nhật có chiều dài 9 cm, chiều rộng 6 cm thì đơn vị đo của chu vi là cm, nhưng đơn vị đo của diện tích là cm2. Cụ thể là: Bài giải Chu vi hình chữ nhật là: (9 + 6 ) x 2 = 30 (cm) Diện tích hình chữ nhật là: 9 x 6 = 54 (cm2) Ví dụ: Tính diện tích và chu vi hình chữ nhật có chiều dài là 4 dm, chiều rộng là 8 cm. - Học sinh yếu còn nhầm khi bài toán cho chu vi hình vuông đi tìm cạnh, học sinh không hiểu bài toán ngược lại áp dụng công thức cạnh hình vuông bằng chu vi chia cho 4 (Ví dụ bài 3 sgk trang 154 ) b. Bài toán liên quan đến rút về đơn vị. Dạng 1: Bước 1: Rút về đơn vị, tìm giá trị một phần Ví dụ: Bài 2 (trang 128) Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao đựng được bao nhiêu ki-lô-gam gạo? Dạng 2: Bước 1: Tìm giá trị một phần thực hiện phép chia. Bước 2: Biết giá trị một phần thực hiện phép chia để tìm kết quả theo câu hỏi của bài toán. 6/8
- Ví dụ: Bài 2 (trang 166 sgk) Bước 1: Tìm giá trị một phần Vậy muốn biết 42 cúc áo thì dùng cho mấy cái áo thì ta phải đi tính gì trước? (Mỗi cái áo cần mấy cái cúc ?) Nhưng HS không nắm được bước rút về đơn vị nên trả lời sai là: Số cái cúc dùng cho bốn cái áo là: 24 : 4 = 6 (áo) - > HS phải trả lời đúng là: Số cái cúc dùng cho mỗi cái áo là: 24 : 4 = 6 (cúc) Bước 2: Khi đã tính được một cái áo cần mấy cái cúc thì học sinh sẽ tìm được 42 cúc dùng cho mấy cái áo ? (lấy 42 : 6 = 7 (áo) Như vậy ở dạng 2 học sinh chưa hiểu được ( bước rút về đơn vị) nên thường viết câu trả lời sai dẫn đến ghi danh số cũng sai 3. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài: Muốn học sinh học tập đạt kết quả thì vấn đề đặt ra cần phải đề cập đến là phương pháp giảng dạy, là cách thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh và quan trọng hơn cả là người giáo viên có trình độ kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm giảng dạy Để nghiên cứu sáng kiến này tôi đã khảo sát chất lượng học sinh ngay từ đầu năm học có kết quả như sau: TSHS Điểm giỏi Điểm khá Điểm trung Điểm yếu Lớp bình ST Tỉ lệ% TS Tỉ lệ % TS Tỉ lệ ST Tỉ lệ 3D 34 3 9% 9 26,5 % 13 38 % 9 26,5 % 4.Nguyên nhân: - Qua điều tra thực tế dạy học môn Toán của giáo viên trường Tiểu học Khánh Thượng tôi nhận thấy một thực trạng như sau: 4.1. Nguyên nhân khách quan - Do đặc thù tình hình của địa phương là vùng đất nông nghiệp 90% học sinh là con em nông dân trong đó có đến 50% là con nông dân nghèo, điều kiện kinh tế 7/8
- gia đình eo hẹp dẫn đến điều kiện học tập của các em cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. - Đa số các em là con em dân tộc thiểu số phát âm chưa chuẩn nên khi đọc đầu bài còn gặp khó khăn huống chi là hiểu được yêu cầu của bài toán. - Một số gia đình chưa thực sự quan tâm động viên các em kịp thời cũng như tạo điều kiện tốt hơn để các em học tập. - Thực trạng của học sinh hiện nay có thể khẳng định rằng học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng còn yếu về khả năng phân tích, tư duy để giải bài toán có lời văn. 4.2. Về phía giáo viên: + Về trình độ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Trong quá trình giảng dạy có nhiều cố gắng đạt mục tiêu bài dạy, có ý thức nâng cao tay nghề. + Xong việc vận dụng những kiến thức đã có vào việc giảng dạy còn có nhiều hạn chế, lúng túng, vụng về, thiếu linh hoạt đặc biệt trong năm học 2021- 2022 chủ yếu là học trực tuyến qua (Zoom). + Năng khiếu sư phạm còn hạn chế dẫn đến việc hướng dẫn học sinh giải bài toán đôi khi còn thiếu chính xác. Kiến thức cơ bản nhiều khi còn bị lãng quên, sự đầu tư vào chuyên môn chưa nhiều dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao. VD: Khi hướng dẫn học sinh giải toán, giáo viên chưa khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải khác nhau, chưa cho học sinh thấy được ý nghĩa thực tiễn của nó trong cuộc sống. + Một số giáo viên còn chịu ảnh hưởng của phương pháp dạy học truyền thống. 4.3. Về phía học sinh Trong khi nghiên cứu đề tài này tôi đã điều tra đối chứng hai lớp 3 của trường Tiểu học Khánh Thượng Tôi nhận thấy học sinh yếu, kém giải toán có lời văn có 8/8
- nội dung hình học và bài toán liên quan đến rút về đơn vị hay mắc phải sai lầm như sau: - Học sinh chưa đọc kỹ đề bài, xác định yêu cầu bài toán chưa đúng, không biết bài toán thuộc loại toán nào dẫn đến việc áp dụng công thức, quy tắc nhầm, lẫn lộn với nhau, kết quả giải toán bị sai. + Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình chữ nhật thì lại áp dụng quy tắc tính chu vi hình vuông và ngược lại khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông thì lại áp dụng quy tắc quy tắc tính chu vi hình chữ nhật. + Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông và chu vi hình chữ nhật thì học sinh yếu, kém không nắm chắc quy tắc để vận dụng quy tắc tính, nhầm giữa tính chu vi hình vuông sang tính diện tích hình vuông, nhầm giữa tính chu vi hình chữ nhật sang tính diện tích hình chữ nhật. + Trong bài giải bài toán về chu vi, diện tích các hình (Bài 3 trang 155- Toán 3) khi viết tên đơn vị đo, các em còn bỏ sót, nhầm lẫn. Thông thường kích các cùng đơn vị đo nào thì chu vi có cùng đơn vị đo đó, nhưng với diện tích thì đơn vị đo lại khác. Chẳng hạn: Với hình chữ nhật có chiều dài 9 cm, chiều rộng 6 cm thì đơn vị đo của chu vi là cm, nhưng đơn vị đo của diện tích là cm 2. Cụ thể là: Chu vi hình chữ nhật là: (9 + 6 ) x 2 = 30 (cm) Diện tích hình chữ nhật là: 9 x 6 = 54 (cm2) + Trong trường hợp số đo các cạnh không cùng đơn vị thì học sinh chưa biết đổi ra cùng đơn vị đo. VD: Tính diện tích và chu vi hình chữ nhật có chiều dài là 4 dm, chiều rộng là 8 cm. 9/8
- - Học sinh yếu kém nhận diện hình chậm, không hiểu thuật ngữ toán học, không biết bài đã cho dữ kiện nào để áp dụng vào giải toán. Không nắm được các thao tác giải toán, không biết tư duy bài toán (bằng lời hoặc hình vẽ) nên trình bày sai lời giải, sai bài toán, đáp số sai, thiếu. - Học sinh yếu còn nhầm khi bài toán cho chu vi hình vuông đi tìm cạnh, học sinh không hiểu bài toán ngược lại áp dụng công thức cạnh hình vuông bằng chu vi chia cho 4. - Ngoài ra còn một số bài toán đòi hỏi học sinh phải tư duy tìm các công thức đã cho để giải. Khả năng giải bài toán mang tính chất tồng hợp kiến thức của các em còn kém, các em quên mất kiến thức cũ liên quan nên giải bài toán bị sai. VD: Bài toán + Cho cạnh hình vuông tính chu vi và diện tích, học sinh nhầm giữa hai cách tính nên kết quả bị sai. + Cho chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật. Tính chu vi, diện tích. Học sinh lại nhầm hai công thức tính dẫn đến kết quả sai. VD: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị Dạng 1 + Bước 1: Rút về đơn vị, tìm giá trị một phần - Học sinh nhầm khi trả lời chưa rõ ràng - Sau khi thực hiện phép tính chia ghi danh số sai với câu trả lời VD: Bài 2 trang 128 “Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao có bao nhiêu ki-lô-gam gạo?” Học sinh trả lời sai: Danh số kết quả sau: 28 : 7 = 4 (bao) Học sinh phải làm đúng là: 28 : 7 = 4 (kg) Bước 2: Tìm 5 bao có số ki-lô-gam gạo là: 10/8
- 4 x 5 = 20 (kg) Học sinh hay đặt ngược phép tính là: 5 x 4 = 20 (bao) Như vậy: Khi học sinh giải bài toán dạng 1 hay trả lời sai hoặc sai danh số, phép tính sai vì đặt ngược. Dạng 2: Bước 1: Tìm giá trị một phần thực hiện phép chia Bước 2: Biết giá trị một phần thực hiện phép chia để tìm kết quả theo câu hỏi của bài toán. - Học sinh thường sai: Trả lời sai, ghi danh số nhầm VD: Bài toán 2 trang 166 Bước 1: tìm giá trị một phần - Học sinh trả lời sai Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả dạy và học xong đây chỉ là một số nguyên nhân mà trong chương trình công tác và nghiên cứu làm đề tài tôi phát hiện ra. Những nguyên nhân trên tác động lẫn nhau làm giảm hứng thú học tập của học sinh, làm cho cac em thiếu tự tin cố gắng vươn lên dẫn đến kết quả học tập không tốt. Để khắc phục những tồn tại trên cần phải có biện pháp khắc phục hợp lí. III. CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC. Việc dạy học gải toán ở tiểu học là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả quan hệ đó bằng cấu trúc ghép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải bài toán. Giáo viên cần phải tổ chức cho học sinh nắm vững khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật 11/8
- ngữ Tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải toán. Vậy qua quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài tôi xin đưa ra một số biện pháp sau đây: Biện pháp 1: Trang bị những công thức, quy tắc, kỹ năng giải toán. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng trong việc truyền tải kiến thức cho học sinh, thay thế cho việc giáo viên áp đặt kiến thức cho học sinh buộc học sinh phải thuộc lòng những điều giáo viên thuyết trình (phương pháp dạy học truyền thống) bằng việc giáo viên là người dẫn dắt các em tự mình tìm tòi khám phá kiến thức mới (phương pháp dạy học tích cực).Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần vận dụng triệt để biện pháp này vì học sinh muốn giải được các bài toán thì cần phải được trang bị đầy đủ những kiến thức có liên quan đến việc giải toán mà những kiến thức này chủ yếu được cung cấp qua các tiết lý thuyết. Do vậy dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh cần tìm ra được cách giải bài toán và cần phải được chính xác hóa nhờ sự giúp đỡ của giáo viên. Qua quá trình tự tìm tòi,khám phá kiến thức mới dựa trên những cái đã biết giúp các em hiểu sâu hơn,nhớ lâu kiến thức ấy hơn nếu như tự mình tìm ra kiến thức ấy Học sinh cần nắm chắc quy tắc, công thức tính, các bước tính của một phép tính từ đó mới rèn luyện được kỹ năng tính toán. Đối với loại toán có nộidung hình học thì khả năng nhận biết các đặc điểm cuả một hình vẽ là rất quan trọng. Ví dụ: Khi dạy về “Diện tích hình chữ nhật” giáo viên cần cho học sinh nhắc lại đặc điểm của hình chữ nhật thông qua hình vẽ. + Khả năng cắt ghép hình tam giác thành hình chữ nhật. Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh nhớ rõ các ký hiệu hình vẽ. Chẳng hạn, đâu là cạnh chiều dài của hình, đâu là cạnh chiều rộng của hình chữ nhật. Từ đó học sinh biết vận dụng vào giải các bài toán áp dụng trực tiếp quy tắc đã xây dựng để vận dụng tính. Bài tập VD: Cho hình chữ nhật có cạnh dài là 8cm, cạnh ngắn là 5cm. Tính diện tích hình chữ nhật đó? Với bài tập này học sinh chỉ cần vận dụng đúng quy tắc, công thức đã được trang bị là giải được ngay. Cũng có những bài toán đòi hỏi học sinh phải có khả năng tư duy thì mới giải được. Do vậy, giáo viên cần rèn cho các em kỹ năng này. -Ví dụ: Bài toán: Cho hình chữ nhật có nửa chu vi là 22cm, cạnh ngắn là 9 cm. Tính diện tích hình chữ nhật đó ? -Ví dụ: Bài2 (trang 89 sgk) Khung của một bức tranh là hình vuông có cạnh 50 cm. Hỏi chu vi của khung bức tranh đó bằng bao nhiêu mét?. * Giáo viên cần lưu ý cho học sinh: + Với hình chữ nhật có số đo chu vi là cm, thì đơn vị đo của diện tích là cm2 12/8
- + Với hình vuông có số đo chu vi là cm thì đơn vị đo của diện tích hình vuông là cm2. *Với bài toán liên quan đến rút về đơn vị: Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết đề bài yêu cầu tính cái gì? Bài toán thuộc dạng 1 hay dạng 2 để giải bài toán.Ví dụ: + Bài toán ở dạng 1 thì phải tìm giá trị của một phần là thực hiện phép chia rồi mới tìm được giá trị của nhiều phần (thực hiện phép tính nhân). + Bài toán chia ở dạng 2 thì: Bước 1 cũng phải tìm giá trị một phần (thực hiện phép tính chia) nhưng ở bước 2 thì lại khác với bước 2 ở dạng 1 đó là biết giá trị một phần rồi lại tiếp tục thực hiện phép chia để tìm kết quả theo yêu cầu của bài toán. Biện pháp 2: Hình thành và rèn luyện kĩ năng giải toán điển hình . * Với bài toán về hình học. Ví dụ: Bài toán 3 (trang 166) Một hình chữ nhật có chiều dài 12cm, chiều rộng bằng 1/3 chiều dài. Tính diện tích hình chữ nhật đó?. 12cm Tóm tắt: Chiều dài : Chiều rộng : Diện tích HCN: ? . cm2 * Với bài toán liên quan đến rút về đơn vị. Ví dụ: Bài 2 (trang 167) : Có 45 học sinh xếp thành 9 hàng đều nhau. Hỏi có 60 học sinh thì xếp được bao nhiều hàng như thế ?. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải. Bài giải Đổi 4 dm = 40 cm Diện tích hình chữ nhật là: 40 x 8 = 320 (cm2) Chu vi hình chữ nhật là: (40 + 8 ) x 2 = 96 (cm) Đáp số: 320 cm2 ; 96cm - Khi học giải toán xong thì giáo viên phải cho học sinh kiểm tra cách giải và kết quả là yêu cầu không thể thiếu khi giải toán và trở thành thói quen đối với học sinh ngay từ tiểu học. Biện pháp 4: Sử dụng trò chơi học tập. 13/8

