Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi

doc 23 trang Chăm Nguyễn 06/04/2026 110
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giao_duc_ky_nang_song.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi

  1. cách trẻ. Phát triển về các mặt thể chất, tình cảm-xã hội, ngôn ngữ, nhận thức , giúp trẻ sẵn sàng đi học lớp một ở trường phổ thông sau này. Cụ thể là: Giúp trẻ được an toàn , khỏe mạnh, khéo léo bền bỉ, có khả năng thích ứng với thay đổi của điều kiện sống. Giúp trẻ biết kiểm soát cảm xúc, thể hiện tình yêu thương, đồng cảm với mọi người xung quanh. Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, tôn trọng người khác, có khả năng giao tiếp tốt với mọi người. Giúp trẻ ham hiểu biết, sáng tạo, có những kỹ năng thích ứng với hoạt động học tập ở lớp một như : sẵn sàng hòa nhập, vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ 1.3.Những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non Các nhóm kỹ năng có thể dạy cho trẻ mầm non như : Kỹ năng nhận thức về bản thân, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội,kỹ năng học tập, kỹ năng tương tác Từ đó, chương trình giáo dục mầm non đã đưa ra các nội dung đơn giản và hết sức gần gũi với trẻ như: dạy trẻ có kỹ năng hợp tác với mọi người, kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ , kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng kiểm soát cảm xúc các kỹ năng này không tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ với nhau, được thể hiện đan xen vào nhau, có thể thực hành trong bất cứ tình huống nào xảy ra hàng ngày. Cho nên việc giáo dục và vận dụng tốt sẽ giúp trẻ có nhân cách tốt. Khi giáo dục kỹ năng sống còn góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn ngữ... cho trẻ. Nội dung dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non đã triển khai được một số năm học, tuy nhiên kết quả đạt trên trẻ chưa cao và chưa đồng đều giữa các trẻ. Nếu giáo viên thực hiện chuyên sâu và có phương pháp giáo dục phù hợp thì kết quả trên trẻ sẽ có bước tiến bộ nhanh chóng. II. Cơ sở thực tiễn: Đối với giáo viên mầm non thường tập trung lo lắng cho những trẻ có những vấn đề về hành vi và khả năng tập trung trong những năm tháng đầu tiên trẻ đến trường. Đơn giản là vì những trẻ này thường không có khả năng chờ đến lượt, không biết chú ý lắng nghe và làm việc theo nhóm, điều này làm cho trẻ không thể tập trung lĩnh hội những điều cô giáo dạy. Vì vậy, giáo viên phải tốn 3/21
  2. rất nhiều thời gian vào đầu năm học để giúp trẻ có được những kỹ năng sống cơ bản ở trường mầm non. Trong năm học 2022- 2023 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công phụ trách lớp Mẫu giáo nhỡ ( trẻ 4-5 tuổi.). Đây là lứa tuổi trẻ bắt đầu nhận thức, phân biết được những hành vi đúng sai, biết được những gì mình nên hay không nên, thậm chí bước đầu trẻ còn biết tự giải quyết được một số tình huống do cô tạo ra trong các hoạt động. Vì thế , tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi” để trao đổi cùng các bạn. Khi nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi”, bản thân tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau: 1. Thuận lợi: Trường rất khang trang, rộng rãi, là môi trường lý tưởng cho mọi hoạt động của cô và trẻ. Ban giám hiệu vững về chuyên môn, luôn sát sao chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt chuyên môn. Là giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy, nắm vững chuyên môn, luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề ham học hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, qua đó nắm được tâm sinh lý của trẻ và những thói quen của trẻ hàng ngày. Đa số trẻ đều học qua lớp mẫu giáo bé nên trẻ lớp tôi tương đối ngoan, có nề nếp trong các hoạt động. Phụ huynh luôn quan tâm, ủng hộ nhiệt tình mọi hoạt động của lớp. 2. Khó khăn: 2.1. Về phía giáo viên. Giáo viên còn phụ thuộc nhiều vào tài liệu chỉ chú trọng dạy các môn học mà chưa chú ý đến việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ hàng ngày. Còn ngại trong việc tổ chức các hoạt động tập thể, trò chơi nhằm hình thành rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. 2.2. Về phía phụ huynh. Một số gia đình còn nuông chiều con thái quá, luôn sẵn sàng phục vụ trẻ nên con có thái độ ngang bướng, ỷ lại, hay làm nũng bố mẹ. Một số phụ huynh cho rằng cứ lo cho con đầy đủ, chiều chuộng theo ý thích của con, còn việc dạy dỗ thì phó mặc cho giáo viên. 4/21
  3. Mặc dù rất quan tâm đến con nhưng đa số phụ huynh là công chức nhà nước nên ít có thời gian dành cho con, phần lớn đều nhờ cậy ông bà và người giúp việc, vì vậy việc thống nhất quan điểm, biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ giữa giáo viên và phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn. 2.3. Về phía trẻ. Số lượng trẻ trong lớp quá đông. Nhiều trẻ mới đi lớp chưa có nề nếp. Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống phát triển hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh Thực trạng kĩ năng sống của trẻ Qua điều tra thực tế về vốn kỹ năng sống của trẻ tôi nhận thấy kết quả khảo sát trước khi thực hiện như sau: Nội dung Tổng Tốt Khá Trung Yếu số bình cháu SL % SL % SL % SL % Trẻ mạnh dạn trong giao tiếp, tự tin thể 68 15 22,0 18 26,47 30 44,1 5 7,35 hiện mình Trẻ biết nhường nhịn,chia sẻ, hợp tác 12 17,64 15 22.0 35 51,47 6 8,82 giúp đỡ bạn Trẻ biết cất dọn, sắp xếp đồ dùng đồ chơi 16 23,5 19 27,9 28 41,17 5 7,35 đúng nơi quy định Trẻ biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh 15 22,0 20 29,41 30 44,1 3 4,41 môi trường (Bảng khảo sát đầu năm – Tháng 9) Từ những số liệu trên cho thấy kỹ năng sống và việc thực hiện các kỹ năng sống của trẻ là rất thấp. Vì vậy tôi đã mạnh dạn tìm cách trang bị, các kiến thức về kỹ năng sống và bền bỉ tận tâm rèn luyện những kỹ năng sống cơ bản 5/21
  4. nhất cho trẻ lớp tôi thông qua đề tài “Một số biện pháp giúp trẻ 4 - 5 tuổi hình thành kỹ năng sống”. 3. Biện pháp thực hiện 3.1.Biện pháp 1. Nâng cao nhận thức tự học, tự bồi dưỡng về việc dạy trẻ kỹ năng sống Là một giáo viên được nhà trường phân công giảng dạy lớp 4-5 tuổi nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, tôi không ngừng tự học tự bồi dưỡng bản thân để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của mình. Đặc biệt tôi đi sâu vào nghiên cứu những kỹ năng sống cơ bản dạy trẻ 4 -5 tuổi ở trường mầm non, nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 4-5 tuổi bằng nhiều hình thức như tự học qua sách báo, chuyên san, tạp chí, học hỏi bạn bè đồng nghiệp, khai thác qua mạng Thực tế cho thấy, việc xác định các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng nội dung trọng tâm để dạy trẻ.Để có thể thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục đã đề ra thì trước tiên mỗi giáo viên phải trang bị cho mình hệ thống kiến thức phong phú chính xác, và trải nghiệm các kỹ năng giáo dục thực tế. Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi có đặc thù tâm lý tính cách riêng nên để thấu hiểu và tiếp cận với trẻ tôi đã dành nhiều thời gian đọc các tài liệu về tâm lý học trẻ em, đặc biệt là tâm lý lứa tuổi của nhà xuất bản đại học sư phạm, và tìm hiểu nhiều nguồn tư liệu trên các kênh giáo dục khác, trên mạng enternet. Để thiết kế các bài dạy, hoạt động sinh động hiệu quả tôi đã đăng ký tham gia các lớp học về giá trị sống do viện nghiên cứu chiến lược trẻ em tổ chức và trực tiếp tham gia cộng tác giảng dạy tại các Trung tâm dạy kỹ năng sống cho trẻ em như: Trung tâm Eveil có địa chỉ tại phường Định Công, Trung tâm Smiles House địa chỉ tại số nhà 20 ngõ 12-Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội. Thông qua việc tự học tự bồi dưỡng tôi hiểu rằng: Để dạy trẻ các kỹ năng thì cô giáo phải luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu trẻ, cô cần: Tạo cơ hội cho trẻ chia sẻ đồ chơi hay món ăn mà trẻ ưa thích với bạn bè. Lắng nghe trẻ, giúp chúng bày tỏ thái độ. Dạy trẻ cách giải quyết vấn đề. Tôn trọng đồ đạc của trẻ. Dạy trẻ ở mọi lúc mọi lúc mọi nơi, tận dụng mọi tình huống và hoạt động có thể tích hợp. 6/21
  5. 3.2. Biện pháp 2: Xác định, xây dựng nội dung, kỹ năng sống cơ bản cần dạy trẻ lứa tuổi mẫu giáo 4-5 tuổi. 3.2.1. Xác định nội dung, kỹ năng sống cơ bản; Để xác định được những nội dung giáo dục kỹ năng sống cơ bản , trước hết chúng ta cần phải hiểu được kỹ năng sống là gì? mục đích của việc dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non? Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh, cho phép bạn đối mặt với những thách thức của cuộc sống hàng ngày. Mục đích của việc dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. Từ đây, chúng ta xác định được những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi bao gồm: Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn. Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. Biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biết mình đang học lớp nào? Cô nào? Thích cái gì? Địa chỉ nhà mình ở đâu? Nhận biết được các ưu điểm cũng như khuyết điểm của bản thân mình Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cách lắng nghe mọi người và đối đáp. Nhận biết được hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơi công cộng ( sân trường, công viên, siêu thị....) Kỹ năng giao tiếp tự tin : Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi. Kỹ năng hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn. Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: 7/21
  6. Đây là một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này là sự khát khao được học. Giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước được. Kỹ năng giao tiếp: Giáo viên cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh nó. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ. Nó có vị trí chính yếu khi so với tất cả các kỹ năng khác như đọc, viết, làm toán và nghiên cứu khoa học. Nếu trẻ cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào đó, trẻ sẽ trở nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẵn sàng học mọi thứ. Ngoài ra, ở trường mần non giáo viên cần dạy trẻ nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa hoặc biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất. không làm ảnh hưởng đến người xung quanh. 3.2.2 Xây dựng nội dung các tiêu chí giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Việc xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp tôi lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm để dạy trẻ. Qua đó tôi đã xây dựng nội dung tiêu chí giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động cụ thể : Thứ tự Nội dung kỹ năng sống 1 Kỹ năng giao tiếp: 2 Kỹ năng thích nghi 3 Kỹ năng tự phục vụ và biết giúp đỡ người thân 4 Kỹ năng nhận thức. 5 Kỹ năng vận động. 8/21
  7. 6 Kỹ năng tự giải quyết vấn đề 7 Kỹ năng hợp tác, hoạt động cùng nhóm. 8 Kỹ năng tự kiểm soát cảm xúc và tạo niềm vui 9 Kỹ năng và tự bảo vệ 10 Kỹ năng giữ gìn đồ dùng trong sinh hoạt hàng ngày 11 Kỹ năng chăm sóc, bảo vệ động vật nuôi, cây trồng 12 Kỹ năng giữ gnf về sinh môi trường 3.3. Biện pháp 3: Dạy trẻ các kỹ năng sống vào các hoạt động hàng ngày: 3.3.1: Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động học: * Mục đích: Trẻ ở lứa tuổi này, học mà chơi, chơi mà học. Trẻ dễ nhớ nhưng cũng rất nhanh quên nên việc lồng nội dung giáo dục kỹ năng sống vào hoạt động học có nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hoá. Giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực của trẻ, giáo viên cần phải biết khai thác phát huy năng khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi trẻ. Vì mỗi đứa trẻ là một nhân vật đặc biệt, phải giáo dục trẻ như thế nào để trẻ cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống. Giáo viên cần thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục chăm sóc giáo dục trẻ một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát triển đồng đều các lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ. Phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tim tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tinh huống khác nhau. * Cách thực hiện: Thông qua hoạt động học, trẻ có cơ hội chia sẻ với các bạn thông qua hoạt động nhóm. Mặt khác, trẻ cũng tự tin, mạnh dạn khi thể hiện khả năng của mình cũng như giới thiệu về bản thân, gia đình mình ....trước cô giáo và các bạn trong lớp. Ví dụ: Hoạt động khám phá: Các con vật sống trong rừng: Khi cô đưa ra bộ tranh về con voi và yêu cầu 1 nhóm tìm hiểu con voi qua bộ tranh, ngay lập tức trẻ đã biết ngồi gần nhau hơn và cùng nhau xem tranh rồi trao đổi với nhau về những gì mình thấy trong bức tranh được xem. Như vậy 9/21
  8. ta thấy, trẻ đã biết cách hoạt động nhóm, có tinh thần hợp tác với nhau và cùng nhau chia sẻ những cảm nhận về con voi thông qua bộ tranh đó. Cũng với tiết học này, khi cô yêu cầu trẻ của 1 nhóm khác quan sát con voi thông qua xem video clip. Sau khi xem xong trẻ đã gắn được lô tô những đặc điểm đặc trưng của con voi và cử 1 bạn lên trình bày. Qua đây, chúng ta thấy chỉ qua 1 hoạt động khám phá con voi, nhưng chúng ta thấy trẻ vừa được hoạt động nhóm, vừa có thể lên thuyết trình trước cả lớp. ( Ảnh 1 + 2) Hoạt động khám phá: Tôi là ai? ( chủ đề nhánh Tôi là ai) Khi tổ chức tiết học này, tôi yêu cầu từng trẻ tự lên giới thiệu về tên, tuổi,giới tính, học lớp nào, trường nào, cô giáo nào, sở thích của mình.Tôi nhận thấy, trẻ rất hào hứng lên giới thiệu. Những trẻ mạnh dạn đã nói được đầy đủ những thông tin tôi đưa ra. Nhưng đáng mừng hơn là có những trẻ rất nhút nhát, thiếu tự tin nhưng cũng vẫn có thể đứng dậy và giới thiệu được 1 vài thông tin của mình. Điều đó chứng tỏ rằng, nếu như chúng ta không gọi đến những trẻ nhút nhát thì có lẽ những trẻ đó sẽ chẳng bao giờ dám làm một việc gì trước đám đông cả, và sẽ chẳng bao giờ trẻ tự tin lên được.( Ảnh 3) Hoạt động khám phá: Gia đình của bé. Trước khi thực hiện tiết học này, tôi đã nhờ phụ huynh ủng hộ những bức ảnh chụp cả gia đình mình. Khi vào tiết học, tôi cho cả lớp xem tất cả những bức ảnh đó -> trẻ rất hào hứng, phấn khởi khi những bức ảnh của nhà mình được cô giáo đưa ra trưng bày.Sau đó tôi cho trẻ kể về gia đình minh bằng những bức hình đó.Tôi nhận thấy những trẻ lên kể rất vui vẻ, rất tự hào khi kể cho cô giáo và các bạn nghe về những thành viên trong gia đình mình, và kỷ niệm gắn với bức ảnh đó. ( Ảnh 4) Ví dụ: Với chủ đề nhánh sự kiện về giao thông Với tiết khám phá tôi cung cấp cho trẻ các kiến thức về an toàn giao thông, đồng thời tôi dạy trẻ các kĩ năng qua đường như: - Khi đi muốn qua đường con phải làm gì? - Nếu có nhiều xe cộ qua lại con sẽ làm như thế nào? - Khi nào thì con được qua đường? - Các bạn nhỏ khi qua đường phải có ai đi cùng? Sau đó tôi cho trẻ chơi đóng vai bé và mẹ qua đường. Ngoài ra giao lưu tình cảm, tiếp xúc gần gũi với trẻ là cách tạo ra sự tin tưởng, gắn bó giữa trẻ với người xung quanh. Tăng cường sự phát triển các giác quan, 10/21
  9. góp phần tích cực phát triển các kĩ năng xã hội, trong đó có kĩ năng sống tự tin. Tôi luôn tạo nhiều thời gian nhất có thể để giao lưu với trẻ bằng lời nói, cử chỉ thể hiện cảm xúc, ánh mắt, nét mặt đặc biệt là ánh mắt sẽ khiến trẻ cảm nhận được thái độ, tình cảm của người cùng giao tiếp. Và những cuộc trò chuyện này mang ý nghĩa nhiều mặt: phát triển ngôn ngữ, tư duy, các chức năng tâm lí, tình cảm,kĩ năng giao tiếp ứng xử. Thông qua giờ hoạt động chiều, trẻ được làm quen và nhận biết những hình ảnh cảnh báo, những biển báo nguy hiểm để từ đó trẻ biết cách phòng tránh, cách giữ an toàn cho bản thân mình. 3.3.2: Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động vui chơi, hoạt động góc. * Mục đích: Thông qua hoạt động vui chơi trẻ được trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau trong cuộc sống từ đó biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. * Cách thực hiện: Qua các góc chơi khác như: xây dựng, tạo hình, sách truyện .. Cô giáo luôn là người bạn chơi cùng trẻ để hướng dẫn trẻ giao lưu với nhau trong từng góc, từng nhóm. Cô giáo gợi ý, hướng dẫn trẻ cách chơi, cách xưng hô khi chơi. Cô chơi với trẻ như người bạn thật sự của trẻ để cho trẻ học cách ứng xử với nhau khi chơi, biết đối đáp trong quá trình chơi. .(Ảnh 5) Qua góc chơi nấu ăn- gia đình: Trẻ được làm quen với những đồ dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ, ăn uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu tất cả những yếu tố trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỹ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. Như kỹ năng biết quan tâm và chia sẻ với nhau để tổ chức các sự kiện trong khi chơi.(Ảnh 6) Ví dụ: Qua góc chơi “bán hàng” thông qua trò chơi này ngoài việc trẻ hiểu được công việc của người bán hàng và mua hàng trẻ còn phải biết thưa gửi lễ phép. Giai đoạn đầu trẻ còn chưa mạnh dạn trong khi chơi, tôi nhập vai làm người bán hàng khi cháu mua hàng tôi chủ động hỏi trẻ “ Bác ơi bác mua thứ gì nào? Trẻ nói mua rau - trả tiền nè. Tôi phải sửa ngay cho trẻ. Khi mua hàng con phải hỏi bác ơi bao nhiêu tiền một mớ rau, bán cho tôi một mớ ạ, nếu trẻ đã biết 11/21
  10. thưa gửi lễ phép tôi sẽ thưởng cho trẻ một bông hoa và cuối ngày nhận xét trước lớp. Với hình thức này các cháu rất thích. (Ảnh 7) Thông qua hoạt động vui chơi: Tôi đưa kỹ năng sống hợp tác cho trẻ: Ở độ tuổi này trẻ bắt đầu quan tâm đến bạn trong nhóm. Tình bạn ổn định bắt đầu nảy sinh. Chúng sẵn sàng chia sẻ với bạn và tình bạn trở nên quan trọng với trẻ. Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn. Ở kỹ năng này tôi sử dụng trò chơi để dạy trẻ: Ví dụ: Ở trò chơi đóng vai. Với góc chơi xây dựng chủ đề nhánh sự kiện về giao thông trong khi xây dựng thì tất cả trẻ trong nhóm phải cùng nhau thảo luận, phân công công việc cho nhau và cùng làm công việc được giao cuối cùng trẻ hoàn thành công trình đã xây dựng. Đó là một cách hợp tác cùng làm việc Qua các Trò Chơi Dân Gian Trẻ em được tiếp cận và trực tiếp tham gia chơi các trò chơi dân gian sẽ giúp cho trẻ sớm hình thành các thói quen hoạt động có hệ thống, tính tập thể giúp trẻ tự tin, linh hoạt hơn trong mọi hoạt động cũng như sự phát triển sau này của trẻ. Thông qua trò chơi dân gian, trẻ sẽ phát triển được các giác quan (thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác, khứu giác), phát triển trí nhớ, phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ. Trò chơi trí tuệ còn được gọi là trò chơi học tập, nhằm thúc đẩy hoạt động trí tuệ, giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh thông qua các thao tác trí óc kết hợp với hành động chơi như: Ô ăn quan, Cờ hùm, Cờ chiếu tướng.... Trò chơi vui - khỏe - khéo léo là những trò chơi dân gian tổng hợp vì mỗi trò chơi kết hợp nhiều kỹ năng vận động thể lực. Mục đích của các trò chơi loại này nhằm phát huy tính tích cực chủ động của trẻ, giúp trẻ mở rộng các mối quan hệ như : Hái quả, Trồng nụ trồng hoa, Câu ếch, Chui vào hang bắt chuột đồng hoặc chuột túi nhảy qua rãnh nước tới đích lấy cờ. Cả trò chơi là phương tiện giáo dục thể lực một cách tích cực và thoải mái, giúp trẻ hoàn thiện sức khỏe, hoàn thiện các vận động như chạy, nhảy, đứng lên, ngồi xuống, hình thành và phát triển các tố chất của thể lực (nhanh nhẹn, khéo léo) và những phẩm chất nhân cách như tính kỉ luật, tính tập thể; như trò chơi: Kéo co, rồng rắn lên mây (Ảnh 8,9) * Hiệu quả: 12/21
  11. Qua hoạt động vui chơi trẻ mạnh dạn dần, thành thạo dần trong giao tiếp, trong ứng xử đối với mọi người xung quanh. Từ đây trẻ cũng biết nói và trả lời đầy đủ câu từ, biết xưng hô chuẩn mực. Trò chơi dân gian mang tính tập thể cao. Vì vậy giáo viên cần chú ý giáo dục và rèn luyện cho trẻ biết phối hợp nhịp nhàng, ăn ý với nhau khi tham gia chơi thì mới đạt được kết quả mong đợi Ví dụ: Trò chơi dân gian “Rồng rắn lên mây” ở trò chơi này ngoài rèn cho trẻ một số tố chất thì nó cũng rèn cho trẻ tinh thần đoàn kết hợp tác với nhau. Tất cả trẻ làm con rắn phải đoàn kết, đồng lòng với nhau để “cái đuôi” không bị bắt. Ví dụ : Trò chơi dân gian “Kéo co” ở trò chơi này trẻ phải biết dùng sức mạnh của bản thân và tập thể để kéo cho được bên kia ngã về phía mình. Một vạch đích để ở giữa sân chơi, có dây thừng căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một người cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho người bên kia kéo về bên mình là thắng. nếu trẻ không đồng lòng, hợp tác với nhau thì đội của mình bị thua vì vậy để chiến thắng trong trò chơi này thì trẻ phải cùng hợp tác với nhau. 3.3.3 Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: Để giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi, luôn làm gương cho trẻ noi theo. Khi trẻ vào lớp tôi nhắc trẻ chào cô, chào bố mẹ, tôi luôn chủ động chào hỏi trao đổi với các bậc phụ huynh giúp cho trẻ nhận thấy sự gần gũi, quan tâm của cô giáo với phụ huynh giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn. Vì đặc điểm của trẻ mầm non là luôn có tính bắt chước nên người lớn, giáo viên phải là tấm gương sáng, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ và đặc biệt phải đảm bảo an toàn cho trẻ. Ví dụ: Thời gian đầu nhiều trẻ chưa có kỹ năng chào hỏi và giao tiếp với cô cùng bạn bè, tôi chủ động chào trẻ trước “ cô chào bạn Công Khanh” Thì lúc đó trẻ sẽ biết đáp lại câu “ Con chào cô ạ’ và tôi nhắc trẻ con chào bố, mẹ đi để vào lớp với cô nào. Hoặc khi trẻ đang chơi mà có khách đến lớp tôi nhắc trẻ “ các con chào bác, cô, chú .. đi nào” cứ như vậy dần dần trẻ có thói quen chào cô, chào bố mẹ và chào khách, khi đến lớp, khi ra về. Còn với trẻ chưa có kỹ năng giao tiếp nhiều với cô, với bạn tôi thường xuyên gần gũi trẻ hơn, trò chuyện với trẻ nhiều hơn về những người thân của trẻ, về thế giới xung quanh từ 13/21