Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường tuổi ở Trường Mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường tuổi ở Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giao_duc_ky_nang_cho.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường tuổi ở Trường Mầm non
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. dụng một cách khoa học thì môi trường có thể bị ô nhiễm và nguồn năng lượng sẽ bị cạn kiệt. Như vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống sức khỏe của con người chúng ta. Việc giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường nó có quan hệ mật thiết với nhau nó là tiền đề vững chắc cho sự phát triển của đất nước. Mà con người ta khi sinh ra và lớn lên bẩm sinh không phải ai cũng thích và đã yêu môi trường và thân thiện với môi trường. Mà phải qua ảnh hưởng tiếp cận của môi trường giáo dục tốt trên thực tế là môi trường xung quanh trẻ. Chính vì vậy ngay từ bây giờ chúng ta phải giáo dục thế hệ trẻ nói chung và giáo dục trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi nói riêng thông qua các hoạt động học tập và vui chơi có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn đối với trẻ. Vì thông qua giáo dục ngay từ nhỏ trẻ biết sống thân thiện và có tình cảm đối với môi trường và biết giữ gìn vệ sinh và BVMT và sử dụng năng lượng tiết kiệm một cách có hiệu quả. Thực tế hiện nay trong trường trong các trường mầm non chưa thấy chú trọng tới công tác giáo dục cho trẻ ý thức kỹ nămg giữ gìn vệ sinh và BVMT sạch sẽ. Còn nhiều giáo viên và học sinh còn vứt rác bừa bãi. Đặc biệt là rác thải công nghiệp như túi ni lon vỏ ống trai nước bằng nhựa, chưa biết tận dụng để làm ra các đồ dùng, đồ chơi dễ làm dễ kiếm để phục vụ cho các hoạt động học và hoạt động vui chơi. Nhằm tạo môi trường trong lành sạch sẽ có ý nghĩa quan trọng to lớn đối với trẻ em lúa tuổi mầm non. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường tuổi ở trường mầm non”. Tôi muốn gửi một thông điệp tới tất cả mọi người rằng “ Mỗi chúng ta hãy cùng chung tay góp sức nhỏ bé của mình để giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường. Tất cả vì tương lai hạnh phúc tươi đẹp của chúng ta” II. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm mục đích nhắc nhở người lớn, những bậc cha, mẹ và đánh thức ở họ ý thức kỹ năng giữ gìn vệ sinh và BVMT cho con em và cho chính bản thân mình. Nâng cao chất lượng giữ gìn vệ sinh và BVMT đạt hiệu quả cao nhất ở trường mầm non tôi làm việc. Từ đó đề ra cách khắc phục nhằm hình thành và nâng cao chất lượng giáo dục những ý thức kỹ năng thói quen tốt cho tập thể giáo viên biết cách tạo dựng một môi trường sống an toàn, sạch sẽ lành mạnh cho trẻ. III. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi nơi tôi công tác 3/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. IV. Đối tượng khảo sát - thực nghiệm Khảo sát thực trạng trên trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua các hoạt động học, qua chế độ sinh hoạt một ngày giáo dục trẻ một số kỹ năng giữ gìn vệ sinh và BVMT. V. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp trực quan minh họa Phương phát thực hành, trải nghiệm Phương pháp dùng lời nói, giảng giải trò chuyện Phương pháp nêu gương VI. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu. Tại lớp mẫu giáo tôi đang chủ nhiệm tổng số 35 học sinh. Thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018 4/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. PHẦN B NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Nội dung lý luận của vấn đề: Giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường nói chung. * Giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng. Vì các em sau sẽ này là những chủ nhân tương lai của đất nước. Như chúng ta đã biết Việt Nam chúng ta dân số gia tăng nhanh cộng với ý thức của một số người dân về giữ gìn vệ sinh và BVMT lại kém chỉ thấy lợi trước mắt cho cá nhân là làm. Mà không nghĩ tới hậu quả về lâu dài có ảnh hưởng tới môi trường. Phần thì do kinh phí chi cho những người làm công tác bảo vệ môi trường chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Phần do kỹ thuật khai thác khoáng sản và sử lý rác, nước thải không phù hợp sử dụng phân bón thuốc trừ sâu lạm dụng quá mức cho phép. Phần do nhận thức thiếu hiểu biết của con người. Chính vì vậy hàng năm rừng của chúng ta bị khai thác và tàn phá nặng nề Nạn khai thác gỗ lậu, chặt phá rừng bừa bãi, phá đốt rừng làm nương rẫy, diện tích rừng bị thu hẹp để sử dụng đất rừng vào mục đích canh tác và đất ở. Rất nhiều cánh rừng già bị tàn phá nặng nề cộng với khói bụi, khói thuốc từ các nhà máy. Dẫn tới hậu quả rất nghiêm trọng làm cạn kiệt rừng và tài nguyên suy thoái ô nhiễm đất, nước biển và không khí. Mất cân bằng sinh thái tài nguyên thiên nhiên như: Một số động vật, thực vật Có nguy cơ bị tuyệt chủng nguồn nước bị cạn kiệt và suy thoái. Khí hậu biến đổi gây nắng nóng cục bộ, lũ quét lốc xoáy sạt lở đồi gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của con người. Hạn hán sảy ra không những thế nguồn nước suy thoái và cạn kiệt thiếu nước sử dụng người dân đổ xô đi khoan giếng bừa bãi vừa tốn kém lại ảnh hưởng rất lớn đến môi trường nước bị ô nhiễm nặng và thiếu nước trong sinh hoạt trầm trọng. Ảnh hưởng tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống như. Nhiều bệnh tật do ô nhiễm môi trường gây nên các bệnh về “Đường hô hấp tai mũi họng cấp và mãn tính rất nhiều các bệnh ngoài da, các bệnh truyền nhiễm. Đặc biệt do ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường các loại bệnh rất nguy hiểm trong đó có bệnh ung thư”. Tỷ lệ mắc rất cao và ở độ tuổi còn rất trẻ tiêu tốn không ít tiền của nhà nước và bản thân của nhà có người mắc bệnh và nó còn ảnh hưởng rất nặng nề về mặt tâm lý. Ảnh hưởng tới nền kinh tế và nguồn nhân lực của đất nước về tương laimai sau. Làm thế nào để giảm thiểu thiểu tối đa ô nhiễm môi trường, chống biến đổi khí hậu giảm hiệu ứng nhà kính và biết sử dụng năng lượng tiết kiệm đang là vấn đề rất nóng bỏng và cấp bách không chỉ của riêng ai. 5/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. Giữ gìn vệ sinh và BVMT xuất phát từ những hành động rất nhỏ bé như: Vứt rác đúng nơi quy định quét nhà, vệ sinh sân lớp xếp gọn gàng đồ dùng ngăn nắp. Chung tay giữ gìn vệ sinh và BVMT hiệu quả chính là chúng ta đang giữ gìn và bảo vệ cuộc sống cho một hành tinh xanh. * Để làm được điều này ngay từ bây giờ mỗi con người trong xã hội phải ý thức được hành động của mình trong việc giữ gìn vệ sinh và BVMT. Để đạt được hiệu quả bền vững và lâu dài giáo dục thế hệ trẻ nói chung. Đặc biệt giáo dục trẻ mầm non nói riêng biết giữ gìn vệ sinh và BVMT. * Giáo dục mầm non mang một vai trò và vị trí hết sức quan trọng đây là thời điểm mấu chốt. Vì ngay từ tuổi còn thơ trẻ cần được giáo dục một cách toàn diện về các mặt như Đức - Trí - Thể - Mỹ - Lao động - Lao động tự phục vụ. Vì nó là nền móng quyết định tới sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho con người sau này. Ở lứa tuổi này trẻ học cách ăn, nói, ứng xử, giao tiếp với bạn bè, người lớn và mọi người xung quanh. Giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và BVMT ở lứa tuổi này trẻ rất dễ tiếp thu và hình thành những kỹ năng thói quen nề nếp tốt về việc giữ gìn vệ sinh và BVMT. Hình thành và ăn sâu trong con người trẻ có ý thức quan tâm, thân thiện và có tình cảm với môi trường xung quanh trẻ đang sinh sống. Từ đó hình thành ở trẻ những kỹ năng, những hành vi, thói quen biết giữ gìn vệ sinh và BVMT, sử dụng năng lượng tiết kiệm có hiệu quả. Biết tham gia bảo vệ môi trường cho hôm nay và mai sau.Tham gia các hoạt động làm xanh, sạch, đẹp môi trường. Nhưng hiện nay trong các trường mầm non chưa chú trọng đến công tác giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinhvà BVMT sạch sẽ, nhiều giáo viên và học sinh còn vứt rác bừa bãi, đặc biệt là rác thải công nghiệp như túi ni lon và vỏ ống chai bằng nhựa, chưa biết tận dụng nguyên vật liệu đã qua sử dụng để làm ra các đồ dùng, đồ chơi để phục vụ cho hoạt động học và hoạt động vui chơi. Tạo môi trường trong lành, sạch sẽ. Thông qua các hoạt động học tập và vui chơi có ý nghĩa quan trọng to lớn đối với trẻ em lứa tuổi mầm non. II. Cơ sở thực trạng: 1. Khảo sát thực tế: Trường mầm non tôi làm việc là một trường ở miền núi, gồm có 11 lớp từ nhà trẻ đến mẫu giáo với tập thể giáo viên toàn là nữ nhưng luôn đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Hiện nay trường có 40 cán bộ, giáo viên, nhân viên trong đó có 3 đồng chí cán bộ, giáo viên 24 đồng chí 21 biên chế 3 đồng chí còn hợp đồng nhân viên 3 đồng chí bảo vệ 3 đồng chí còn cô nuôi 7 đồng chí. Với tổng số trẻ 325 và được chia ra làm ba khu: 1 khu trung tâm 2 khu lẻ tỷ lệ trẻ đến lớp cao 6/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. chiếm 92,2%. Riêng trẻ 5 tuổi đến lớp đạt 100%.Trong những năm qua,việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong trường mầm non tôi làm việc còn có phần hạn chế: Do trình độ, chuyên môn, tay nghề của giáo viên chưa đồng đều phần nữa: Một số giáo trẻ vừa về trường nhận công tác chưa có nhiều kinh nghiệm còn lại một số chị em đang ở độ tuổi sinh đẻ thực tế trong năm học 2017-2018 có tới 6/24 đồng chí giáo viên nghỉ thai sản, một số giáo viên vừa học vừa làm. Bên cạnh đó có phần nhiều phụ huynh thiếu quan tâm, chăm sóc giáo dục con, cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục. Mặc dù còn có phần hạn chế nhưng nhà trường đã có một môi trường sư phạm lành mạnh trong sạch và nghiêm túc có đội ngũ giáo viên trẻ khỏe, yêu nghề. Với quyết tâm của nhà trường phấn đấu đạt trường tiên tiến cấp huyện, lớp phấn đấu đạt danh hiệu tiên tiến cấp trường. Để thực hiện mục tiêu đó đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng của lớp mình với số trẻ là 35 cháu tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn như sau: 2. Điều kiện thuận lợi: Trong những năm học vừa qua được sự chỉ đạo sát sao bên chuyên môn của ban giám hiệu nhà trường cũng như cơ sở vật chất, phòng học rộng thoáng mát, bàn ghế đúng quy cách lớp tôi phụ trách giảng dạy có một ti vi và một máy chiếu dùng chung cho cả trường. Thuận lợi cho việc phục vụ giảng dạy của giáo viên. Trường có một số tài liệu tạp trí phong phú để tham khảo. Trường cũng đã mua sắm đồ dùng và trang thiết theo thông tư 02 thông tư Bộ Giáo Dục và Đào Tạo bị để phục vụ cho công tác vệ sinh và bảo vệ môi trường. Tuy nhà trường điều kiện còn rất khó khăn nhưng ban giám hiệu nhà trường vẫn cố gắng tạo điều kiện mua được 3 chiếc máy để lọc nước đảm bảo có đủ nước sạch phục vụ trong sinh hoạt. Ngoài ra nhà trường đã mua sắm một tủ cơm ga để nấu cơm không còn phải nấu bếp củi gây khói mù mịt như trước đây nữa. Về môi trường xanh sạch đẹp nhà trường đã trồng nhiều cây xanh và cây ăn quả ở xung quanh và ở sân trường tuy còn rất nhiều khó khăn nhưng nhà trường vẫn tạo điều kiện mua được 150m cỏ nhân tạo ở sân trường dưới những bóng cây tạo được không khí trong lành bóng mát cho trẻ hoạt động ngoài trời và trải nghiệm. Bản thân tôi đã nhiều năm liền phụ trách giảng dạy lớp 5 - 6 tuổi tôi luôn yêu nghề mến trẻ luôn luôn nhiệt tình với công việc. Đặc biệt tôi luôn luôn trăn trở trong lòng, làm thế nào để giữ cho không khí môi trường xanh sạch và sử dụng năng lượng tiết kiệm để giảm bớt được tiền bạc và những bệnh tật do ô nhiễm môi trường gây nên để đỡ được một khoản chi phí của nhà nước bản thân của từng cá nhân và trong mỗi gia đình chúng ta. 7/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. Trẻ trong lớp 100% số trẻ cùng độ tuổi hầu hết đã học qua lớp mẫu giáo nhỡ do đó cũng thuận lợi trong việc giáo dục trẻ. Lãnh đạo nhà trường luôn luôn quan tâm tới giáo viên trong việc bồi dưỡng và tham gia các chuyên đề để giáo viên được học hỏi và trau dồi những kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Bản thân tôi là tổ trưởng chuyên môn luôn lắng nghe và học hỏi bạn bè đồng nghiệp trong trường và trường bạn trau dồi những kiến thức thông qua những buổi tiếp thu chuyên đề,dự giờ đồng nghiệp các buổi họp chuyên môn để nâng chuyên môn nghiệp vụ. Luôn được sự quan tâm giúp đỡ của phụ huynh về việc sưu tầm tranh ảnh phế liệu để làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho giảng dạy thêm hấp dẫn và sinh động. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện tôi cũng gặp không ít những khó khăn và trở ngại sau: 3. Khó khăn: Bên cạnh những mặt thuận lợi cũng gặp không ít những khó khăn sau: Trường tôi làm việc thuộc trường nằm một trong 7xã miền núi của huyện Ba Vì là 1 trong những xã thuộc vùng khó khăn của của thành phố Hà Nội. Địa bàn rộng đường xá đi lại còn khó khăn dân cư ở mật độ thưa đa số học sinh là con em nông thôn và con em dân tộc Mường chiếm trên 60%. Phần do thiếu sự hiểu biết và chưa thực sự quan tâm đến việc gữi gìn vệ sinh và BVMT vấn đề nhận thức về môi trường còn rất kém, vậy cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và BVMT ở trong trường mầm non. Điều kiện cơ sở vật chất nhà trường còn gặp nhiều khó khăn số học sinh ở khu trung tâm đông mà phòng học còn chưa đủ số trẻ có lớp rất đông nên cũng ảnh hưởng lớn tới việc giáo dục vệ sinh và BVMT cho trẻ. Phòng làm việc của ban giám hiệu chưa có còn làm việc tạm ở gần bếp nấu nên cũng rất khó khăn. * Về phía giáo viên: Tuy nhà trường cũng đã có tài liệu về hướng dẫn bảo vệ môi trường nhưng còn ít. Bản thân rất yêu môi trường có những hiểu biết về công tác giữ gìn vệ sinh và BVMT với sự tác động của nó đối với cuộc sống của con người. Xong chưa tổ chức được linh hoạt và hợp lý các nội dung giáo dục trẻ 5 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường vào các hoạt động giáo dục trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. 8/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. Chưa làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường tới các thành viên trong gia đình, tới phụ huynh và các ban nghành đoàn thể trong cộng đồng khu dân cư. Chưa dành nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu về luật bảo vệ môi trường. Nội dung giáo dục giữ gìn vệ sinh và BVMT ở trong trường mầm non. Kinh phí còn hạn chế để mua đồ dùng cho các cháu học, thực hành.Vì vậy tôi luôn khắc phục sáng tạo làm bổ sung đồ dùng tự tạo... * Về phía phụ huynh: Do điều kiện kinh tế khó khăn và công việc của phụ huynh đa số là dân lao động chiếm trên 90% cuộc sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và làm nương rẫy. Phần lớn cũng do sự nhận thức còn rất hạn chế chưa đầy đủ của các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của việc giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở mọi nơi cũng như ở nhà. Chưa tích cực phối hợp cùng giáo, đa phần là cô cung cấp kiến thức cho trẻ. Vì chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường nên còn nhiều hiện tượng: Chưa gương mẫu giữ gìn vệ sinh và BVMT trong sinh hoạt hàng ngày. Chưa xử lý tốt chất thải trong sinh hoạt và chăn nuôi, còn để chất thải tràn lan ra môi trường khiến cho không khí càng ô nhiễm, sử dụng các loại phân gia cầm: Như phân gà để làm phân bón với số lượng rất lớn và để đắp đống phân bốc mùi rất nặng. Ngoài ra còn nhiều thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Vứt rác và xác động vật ra ngoài đường, ao, hồ một cách tùy tiện. Vứt và sử dụng túi ni lon, vỏ trai nhựa,thủy tinh bừa bãi ra khắp những rãnh mương, cống thoát nước trong khắp khu dân cư sân cổng các trường học. * Về phía trẻ : Vẫn còn một số cháu : Khi đến lớp còn mang quà bánh đến lớp ăn và vứt rác bừa bãi ra lớp và sân cổng trường học. Chưa có ý thức giữ gìn và bảo quản đồ dùng. Đồ chơi, còn hái hoa, bứt lá. Chưa có ý thức biết sử dụng tiết kiệm điện và nước mà cứ sử dụng bừa bãi rất lãng phí. * Về phía địa phương: Chưa kết hợp chặt chẽ với thôn tuyên truyền đến các ban ngành, đoàn thể trong công tác giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường cho trẻ và người dân sống trên địa bàn. 9/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. 4. Với phương pháp dạy học cũ: Như chúng ta đã biết với những phương pháp dạy học cũ trước đây dạy và hướng dẫn trẻ giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường còn chỉ mới đưa ra và nói chung chung. Mà chưa giáo dục trẻ những kỹ năng thói quen cụ thể chưa đưa được các phương pháp giáo dục tích hợp vào các môn học và các chủ đề trong năm học. Kết quả chưa đạt được theo mong muốn. Đa số trẻ còn chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường. Còn lại một số trẻ chỉ thực hiện theo một cách thụ động chưa có kỹ năng và thói quen, tính tự giác. Còn lại số rất ít các cháu có biết nhưng còn nhút nhát và hoạt động còn độc lập chư biết giúp đỡ lẫn nhau. 5. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài : Tổng số trẻ là 35 cháu. Trong 2 tháng đầu năm học (tháng 9-10 năm 2017) và sử dụng một số câu hỏi và một số bài tập về kỹ năng giữ gìn vệ sinh và BVMT. Qua khảo sát chất lượng đầu năm tôi hoàn toàn thất vọng với kết quả đạt được Số trẻ Mức độ đạt được STT Khả năng khảo Đạt Chưa đạt sát 13 Trẻ 22 trẻ 1 Trẻ có kỹ năng và ý thức giữ gìn vệ sinh 35 37,14 % 62,85 % 14 trẻ 21 trẻ 2 Trẻ biết và có ý thức bảo vệ môi trường 35 40 % 60 % Trẻ tích cực tham gia vào hoạt động giữ gìn 13Trẻ 22 trẻ 3 35 vệ sinh và BVMTcùng cô 37,14 % 62,85 % * Đứng trước những thuận lợi và khó khăn trên tôi luôn trăn trở với một suy nghĩ làm thế nào? “Mình phải có những biện pháp gì” để giáo dục trẻ có kỹ năng và ý thức giữ gìn vệ sinh bảo vệ môi trường đạt được hiệu quả. Sau khi nghiên cứu những tài liệu và qua thực tế môi trường diễn ra hàng ngày xung quanh tôi đã mạnh dạn đề ra một số những biện pháp và hướng giải quyết như sau: III. Một số biện pháp đổi mới tiến hành giải quyết vấn đề 1. Những biện pháp 1.1. Biện pháp1: Thống nhất với giáo viên trong tổ khối lên kế hoạch giáo dục hoạt động phù hợp với điều kiện của trường lớp, địa phương và lứa tuổi của trẻ. 1.2. Biện pháp 2: Tích hợp các nội dung giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và BVMT vào các nội dung giáo dục hàng ngày. 1.3. Biện pháp 3: Thực hiện thường xuyên kiểm tra công tác giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và BVMT ở lớp học hàng ngày. 10/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. 1.4. Biện pháp 4: Nêu gương khuyến khích tính tự giác là một trong những biện pháp không thể thiếu khi giáo dục trẻ. 1.5. Biện pháp 5: Tổ chức tích hợp các nội dung giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và BVMT vào các môn học, hoạt động khác rất quan trọng. 1.6. Biện pháp 6: Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh trong công tác giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và BVMT là một biện pháp không thể thiếu khi giáo dục trẻ. 1.7. Biện pháp 7: Kết hợp với địa phương và các ban ngành đoàn thể, hội phụ nữ trong các chi hội. 2. Biện pháp thực hiện (Biện pháp từng phần) 2.1* Biện pháp1: Thống nhất với giáo viên trong tổ khối lên kế hoạch giáo dục hoạt động phù hợp với điều kiện của trường lớp, địa phương và lứa tuổi của trẻ. Ngay từ đầu năm tôi đã chủ động xây dựng và lên kế hoạch thống nhất các phương pháp giáo dục những kỹ năng giữ gìn vệ sinh và BVMT họp cùng với các giáo viên trong tổ khối. Nội dung đặt ra mục tiêu vì chất lượng cuộc sống và sức khỏe môi trường xanh sạch. Từ đó có sự phối kết hợp để cùng tuyên truyền phương pháp giáo dục tới tất cả các giáo viên, phụ huynh và học sinh trong toàn trường một cách đồng bộ. Tìm hiểu quan tâm tới tính cách tâm sinh lý hoàn cảnh và ý thức của từng trẻ để có biện pháp giáo dục cho trẻ một số kỹ năng thói quen giữ gìn vệ sinh và BVMT. Sao cho phù hợp với từng chủ điểm, chủ đề phù hợp với trẻ thực tế của lớp và địa phương. Lên kế hoạch trồng thêm cây xanh vào mùa xuân. Để thực hiện theo lời dạy của Bác “Mùa xuân là tết trồng cây” Mỗi chúng ta trồng thêm một cây ở những nơi như trường học, gia đình và nơi công cộng như: Hội trường và nhà văn hóa ở các thôn để có cây xanh tỏa bóng mát cho mỗi khi hội họp, hoặc giao lưu văn ghệ, bóng đá có bóng mát tạo cho không khí trong lành mát mẻ cho tất cả mọi người. Vận động phụ huynh thu gom những trai lọ, hộp sữa, can dầu, những phế liệu đã qua sử dụng. Cô đem rửa sạch phơi khô bản thân tôi suy nghĩ cộng với đôi bàn tay khéo vào giờ hoạt động tạo hình hướng dẫn cho trẻ làm cùng cô những đồ dùng như máy bay, tàu thủy, ô tô do chính tự tay mình làm ra. Gợi mở để phát triển óc sáng của trẻ đồng thời tạo sáng tạo ra được nhiều đồ dùng đồ chơi phù hợp với từng chủ đề với thực tế mang tính giáo dục cao. Tận dụng những phế liệu đã qua sử dụng vừa tiết kiệm được kinh phí vừa phần nào giảm bớt rác thải ra làm ô nhiễm môi trường mà tạo ra được những đồ dùng phục vụ vào các hoạt động học hấp dẫn và sinh động. 11/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. Trong cuộc thi đầu năm nhà trường phát động phong trào giáo viên sưu tầm làm đồ dùng tự tạo theo lớp có nội dung bảo vệ môi trường lớp tôi đã đạt giải nhất cấp trường. Từ đó góp phần giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và BVMT có hiệu quả. VD: Tạo hình Từ những chai nhựa, hộp sữa, can nhựa trẻ làm “đồ dùng trong chủ đề phương tiện giao thông như thuyền máy bay, ô tô bằng nguyên vật liệu mở” . Trẻ làm đồ dùng từ phế liệu Kế hoạch đã được ban giám hiệu nhà trường duyệt và bổ xung qua từng chủ điểm. Bằng các biện pháp tích cực tôi luôn thực hiện theo đúng và đủ kế hoạch đề ra. Mặt khác tôi luôn trau dồi kiến thức luôn tạo ý thức tự học tập, tự rèn luyện và bồi dưỡng, tham khảo qua các sách báo và qua thực tế. Vì thế trọng tâm sát thực cụ thể và đã thu được nhiều những kết quả rất tốt. * Vai trò và tác dụng của biện pháp trên qua thực tế giáo viên của các nhóm lớp đã kết hợp các phương pháp trao đổi tới tất cả các bậc phụ huynh và trẻ nắm bắt rất là tốt. 2.2. Biện pháp 2: Tích hợp các nội dung giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và BVMT vào các nội dung giáo dục hàng ngày. * Giờ hoạt động đón và trả trẻ: Trò chuyện với trẻ, giúp trẻ hiểu biết cách giữ gìn sức khỏe và vệ sinh cho mình khi đi ra ngoài đường. VD: Đeo kính, đeo khẩu trang, đội mũ. Hoặc bài thơ “Bé này bé ơi” “Đi nắng ” 12/29
- “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ 5- 6 tuổi giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở trường mầm non”. *Giáo dục trẻ giữ vệ sinh và BVMT qua hoạt động học tập. + Lồng ghép các nội dung giáo dục giữ vệ sinh và BVMT vào các bài học một cách linh hoạt. hợp lý, sáng tạo. VD1: Trong tiết học hoạt động học giáo dục âm nhạc tôi lồng ghép các bài hát về giữ gìn vệ sinh cơ thể sạch sẽ để cháu dễ hiểu hơn như bài hát “ Đôi bàn tay” chủ đề Bản thân. Bài hát “ Em yêu cây xanh. Lý cây xanh’ chủ đề Thực vật VD2: Để giáo dục trẻ giữ vệ sinh và BVMT một cách có hiệu quả ở hoạt động làm quen với văn học tôi đã tự sáng tác bài thơ “ Môi trường xanh sạch”. Kết quả là trẻ rất hứng thú và nhớ sâu và lâu hơn. Môi trường xanh sạch Môi trường không của riêng ai Mình cùng nhau giữ vệ sinh môi trường. Rác thải ta bỏ tập trung Chúng mình chung sức trồng nhiều cây xanh. Mình không hái lá bẻ cành Cây cho bóng mát, tiếng ồn giảm đi. Để thêm không khí trong lành Con người tuổi thọ có nhiều niềm vui. Gữi cho trái đất mãi xanh Mình cùng chung sức vệ sinh môi trường. Tác giả: Tôi tự sáng tác * Hoạt động lao động ngoài trời: Cô trò chuyện với trẻ cây hoa trong vườn trường muốn làm cho không gian thêm đẹp và sạch chúng mình làm gì. Qua đó trẻ rất thích thú tham gia vào các hoạt động lao động như: Cô tổ chức cho trẻ thực hành trẻ rất hứng thú và hăng say lao động như: Chăm sóc cây tưới cây, nhổ cỏ, bắt sâu nhặt lá vàng, gom rác vào đúng nơi quy định. Lau chùi đồ dùng, đồ chơi hàng ngày ... Từ đó trẻ thấy đồ dùng đồ chơi cất chưa đúng chỗ là trẻ tự đi cất. Dọn và tự giác lau chùi đồ dùng đồ chơi cùng cô và bạn.Tôi rất vui khi thấy những việc làm của trẻ là động lực giúp tôi có thêm sức mạnh cùng đóng góp nhằm nâng cao ý thức giữ vệ sinh và bảo vệ môi trường. 13/29

