Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp đưa dân ca đến với trẻ 4 -5 tuổi ở Trường Mầm non

doc 24 trang Chăm Nguyễn 26/01/2026 160
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp đưa dân ca đến với trẻ 4 -5 tuổi ở Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_dua_dan_ca_den_voi_tr.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp đưa dân ca đến với trẻ 4 -5 tuổi ở Trường Mầm non

  1. ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐƯA DÂN CA ĐẾN VỚI TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. MỞ ĐẦU: 1. 1 Lý do chọn đề tài: Âm nhạc góp phần rất quan trọng đến đời sống của con người, đó là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh (chất giọng) để diễn đạt tình cảm, xúc cảm của con người. Nó gắn bó với con người và trở thành một nhu cầu không thể thiếu được. Âm nhạc phản ánh cuộc sống bằng những hình tuợng âm thanh, lời ca, nốt nhạc... những niềm vui, nỗi buồn, những khát vọng và những ước mơ tươi sáng của con người. Âm nhạc có một sức mạnh vô hình làm cho mọi đối tượng khi tiếp xúc với nó đều cảm thấy vui vẻ, sảng khoái, hứng khởi. Đặc biệt là với trẻ mầm non, thì âm nhạc là một thế giới diệu kỳ, lôi cuốn trẻ hình dung về thế giới xung quanh một cách hồn nhiên trong sáng, âm nhạc nó tác động vào con trẻ ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ, khi vừa cất tiếng khóc chào đời, trẻ đã có khả năng cảm thụ âm nhạc. Tuy nhiên mỗi con người, mỗi trẻ có những khả năng cảm thụ âm nhạc khác nhau. Có cháu yêu đến say mê, có cháu lại rất thờ ơ với âm nhạc. Mức độ cảm thụ âm nhạc, yêu âm nhạc phần lớn do hoàn cảnh cuộc sống và giáo dục tạo nên. Âm nhạc chính là phương tiện giúp ta giáo dục thẩm mỹ cho trẻ, giáo dục trẻ biết yêu cái đẹp và cảm nhận cái đẹp; âm nhạc còn giáo dục đạo đức, góp phần phát triển trí tuệ và đặc biệt là có sự tác động rất lớn đến quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ. Đối với trẻ mầm non âm nhạc là hoạt động giúp trẻ phát triển toàn diện nhất. Vì thông qua âm nhạc trẻ sẽ linh hoạt, mạnh dạn, tự tin, thông minh qua việc sáng tạo các động tác minh họa kết hợp với lời ca, thông qua vận động theo nhạc sẽ thúc đẩy sự vận động của cơ thể, sự nhanh nhẹn khéo léo, bền bỉ dẻo dai. Chính vì thế, trong phương pháp giáo dục nuôi dạy trẻ mầm non không thể thiếu đi yếu tố âm nhạc hay nói cách khác âm nhạc là một phương tiện thiết thực đối với việc phát triển toàn diện nhân cách của trẻ. 3
  2. Bên cạnh đó, âm nhạc dành cho trẻ mầm non không chỉ là những bài hát với lời ca tươi vui trong sáng, mà còn có những khúc hát dân ca ngọt ngào êm ả. Và có thể nói rằng dân ca đóng một vai trò rất quan trọng đến sự cảm thụ âm nhạc cũng như nuôi dưỡng tâm hồn của trẻ thơ. Bởi thực tế rằng từ khi trẻ lọt lòng, ít nhiều được ru bằng những câu hát à ơi, ví dầu, da diết từ ông bà, cha mẹ. Đó cũng là sự lưu giữ truyền thống dân ca Việt Nam từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cho nên, để trẻ có thể yêu được những di sản văn hóa âm nhạc đó hay không thì sự tác động để mang những khúc dân ca đến với trẻ mầm non là vô cùng cần thiết. Sự hình thành tình yêu với âm nhạc truyền thống ngay từ nhỏ mới là tiền đề vững chắc để trẻ gắn bó lâu dài, để những thế hệ tương lai có thể xây dựng một xã hội, một đất nước giàu mạnh nhưng vẫn giữ được nét truyền thống của dân tộc Việt Nam. Vậy làm thế nào để tạo điều kiện cho trẻ có được vốn sống âm nhạc phong phú? Là một giáo viên mầm non tôi luôn trăn trở và suy nghĩ tìm những biện pháp để âm nhạc dân ca đến với trẻ một cách gần gũi và tự nhiên nhất. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp đưa dân ca đến với trẻ 4 -5 tuổi ở trường mầm non.” 1.2 Mục đích nghiên cứu: Với mỗi đất nước, mỗi vùng miền, đều có một nét văn hóa đặc trưng riêng, những nét văn hóa này được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và dân ca cũng là một tài sản quý báu cần được gìn giữ. Đặc biệt, dân ca Việt Nam, có âm điệu dễ thuộc, dễ nhớ, chính vì vậy dễ dàng đi sâu vào lòng người, những bài hát dân ca đều mang những âm hưởng, nội dung gần gũi với nhân dân. Chính vì vậy, tiếp xúc với dân ca, cũng chính là giúp trẻ bảo tồn những giá trị văn hóa của đất nước Việt Nam. Bên cạnh đó, âm nhạc chính là món ăn tinh thần của trẻ, khơi dậy trong trẻ những hứng thú, say mê, tưởng tượng phong phú, yêu âm nhạc cũng là cách giúp trẻ hình thành những phẩm chất tốt đẹp trong tâm hồn. Yêu ca hát, nhảy múa thì tâm hồn trẻ sẽ như được tưới lên những nguồn sinh lực mạnh mẽ. Âm nhạc quan trọng với trẻ và âm nhạc dân ca còn quan trọng hơn nữa, bởi với những âm hưởng 4
  3. dân ca ấy, trẻ cảm thụ một cách nhẹ nhàng, không gò bó. Chính vì vậy, trẻ không chỉ thể hiện mình mà còn có thể kết nối được với mọi người xung quanh thông qua ngôn ngữ âm nhạc dân ca diệu kỳ này. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Để thực hiện biện pháp này, tôi áp dụng trên trẻ lớp chồi 1, Trường Mầm Non Sơn Ca, Huyện Krông Nô, Tỉnh Đăk Nông. Do tôi trực tiếp chủ nhiệm, để có thể theo dõi quan sát tốt hơn. Trẻ mẫu giáo với những đặc điểm tâm sinh lý đã phát triển, có thể tập trung chú ý nghe hát và vận động theo các bài hát. Ngoài ra, trẻ có thể lựa chọn được những bài hát trẻ yêu thích, có thể nói nội dung cũng như cảm nghĩ về bài hát, mà qua đó tôi có thể nắm bắt được tình hình thực hiện các biện pháp để đưa dân ca đến gần với trẻ mầm non. 1.4. Phương pháp nghiên cứu: Trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng chủ yếu những phương pháp nghiên cứu sau: 1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đa số các vấn đề của âm nhạc dân ca dành cho trẻ mầm non tôi thường nghiên cứu trên mạng. Tìm những bài hát đặc trưng của vùng miền, có nội dung phù hợp và dễ thuộc với trẻ mầm non. Vì dân ca Việt Nam rất phong phú đa dạng, không chỉ là của vùng miền mà còn ở từng dân tộc, chính vì vậy tôi phải chọn lọc những ca khúc phổ biến hơn để dạy cho trẻ. 1.4.2: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: - Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát đó chính là việc cô theo dõi tình hình hoạt động của trẻ khi áp dụng những biện pháp này vào. Cô có thể nắm bắt được những hứng thú, cảm nghĩ của trẻ trong khi làm quen với những bài hát dân ca Việt Nam. - Phương pháp đàm thoại: Phương pháp đàm thoại là việc cô sử dụng những câu hỏi để khai thác những kiến thức ở trẻ, trẻ trả lời các câu hỏi của cô thông qua đó những suy nghĩ của trẻ được bộc lộ rõ ràng hơn. - Phương pháp nêu gương – đánh giá: 5
  4. Phương pháp nêu gương – đánh giá là việc cô khuyến khích, động viên, nhận xét trẻ trong quá trình hoạt động, làm quen với âm nhạc dân ca. Phát huy được tính tích cực, chủ động ở trẻ hơn. 1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi, sự chú ý, lắng nghe, tập trung đã tốt hơn, trẻ có thể bộc lộ cảm xúc rõ ràng về những bài hát trẻ yêu thích, với những bài hát trẻ thích sự hứng thú thể hiện rõ ràng hơn. Thế nhưng, đa số trẻ thích những bài hát dễ nhớ, dễ thuộc chính vì vậy tôi lựa chọn những bài hát mang âm hưởng gần gũi, lời bài hát dễ hát để giúp trẻ làm quen một cách tốt hơn. Vì vậy các làn điêụ dân ca đa số được chọn là các bài hát dân ca bắc bộ, dân ca trung bộ, nam trung bộ và nam bộ. Và mở rộng cho trẻ làm quen với những bài dân ca của một số dân tộc khác như Sán Dìu, Khơ me, Nùng, Cống khao Dân ca Việt Nam vô cùng phong phú đa dạng, không chỉ riêng từng vùng miền 2. NỘI DUNG: 2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề: Khái niệm dân ca Theo GS.Trần Văn Khê: Dân ca là những bài hát truyền khẩu phát sinh trong dân chúng, được truyền tụng và phổ biến trong dân chúng. Theo Hùng Lân: Dân ca là những bài hát do dân chúng truyền khẩu cho nhau, nhiều khi không biết ai là tác giả tiên khởi, không biết ra đời từ thời nào, gốc gác từ đâu, mà chỉ biết rằng cốt cách bên trong thì khác xa với những bản tân nhạc ngày nay Như ta đã biết, dân ca là một thể loại âm nhạc cổ truyền của Việt Nam, hiện vẫn đang được sáng tác. Âm nhạc này có nhiều làn điệu từ khắp các miền cộng đồng người, thể hiện qua có nhạc hoặc không có của các dân tộc Việt Nam. Do chính người dân lao động tự sáng tác theo tập quán, phong tục. Trong sinh hoạt cộng đồng người quần cư trong vùng đất của họ, thường trong làng xóm hay rộng hơn cả một miền. Các làn điệu dân ca thể hiện phong cách bình dân, sát với cuộc sống lao động mọi người. Các dịp biểu diễn thường là lễ hội, hát làng nghề. Thường ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình 6
  5. yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người và người. Chính vì vậy dân ca là một nét truyền thống văn hoá mang tính gần gũi nhất đối với con người Việt Nam, thế nên để trẻ có thể tiếp xúc nhiều với những làn điệu dân ca cũng chính là cách ta đem đến cho trẻ những truyền thống dân tộc vô cùng quý báu. mà có những giai điệu dân ca khác nhau mà bên cạnh đó mỗi dân tộc lại có những làn điệu dân ca riêng. Người Kinh chia ra 3 vùng, Đồng bằng Bắc bộ; Trung bộ; Nam bộ: bài chòi, hò huế, ca trù, cò lả, cải lương, chầu văn, đờn ca tài tử nam bộ, hát bội, hát chèo, hát dô, hát dặm, hát đúm, hát ghẹo, hát phường vải, hát sắc bùa, hát trống quân, Hát ví, hát xoan, múa bóng rỗi, hát vè, hò, lý, lễ nhạc phật giáo, Nhạc lễ Nam Bộ, Âm nhạc cung đình Việt Nam, quan họ, tuồng, vọng cổ, xẩm. Các dân tộc khác chia theo địa lý nơi dân tộc đó ở, Tây bắc-Việt bắc; Tây nguyên; dân tộc chăm; dân tộc khơ me; dân tộc hoa: hát Ayray, hát À day, hát ba sắc, hát Bơk weng non, Hht cà lơi - Cha chấp, Hát cúng tìm vía, hát dù kê, hát duê, hát đồng dao Kuh nrau, R’bàng nrau, hát Êmê kha bá, hát khan, hát khắp sên Âm nhạc được coi là một món ăn tinh thần trong đời sống của người dân Việt Nam. Âm nhạc phản ánh cuộc sống của con người bằng những hình tượng âm nhạc. Một nhà văn hóa đã ví dân ca: “ Như dòng sông mênh mông tình đất, tình người, chắt lọc từ mạch nguồn cuộc sống, chảy qua nhiều thời đại, phản ánh tâm tư tình cảm, ước mơ khát vọng của con người trên mảnh đất quê hương của mình ” Phong phú là vậy, đa dạng là vậy nhưng việc trẻ mầm non được tiếp xúc với dân ca ngay tại nơi mình sống còn chưa được quan tâm, thế nên trẻ cũng không am hiểu về dân ca của các vùng miền khác. Chính vì vậy sự cảm thụ âm nhạc trong trẻ vẫn gặp nhiều hạn chế, và điều quan trọng ở đây đó chính là cần phải làm sao để trẻ mầm non làm quen với dân ca một cách đầy hứng thú, tích cực nhất, nhưng phải có sự tự nhiên, không áp đặt và cần chọn lọc những bài dân ca phù hợp với trẻ. 2.2. Thực trạng của vấn đề: Để nghiên cứu và tìm hiểu về “Một số biện pháp đưa dân ca đến với trẻ 4 -5 tuổi ở trường mầm non”, tôi đã có những thuận lợi và gặp phải những khó khăn như sau: 7
  6. 2.2.1. Thuận lợi: Năm học 2016-2017 được sự phân công của nhà trường tôi được chủ nhiệm lớp chồi 1, Cùng một độ tuổi nên rất thuận lợi cho giáo viên truyền thụ kiến thức. Trẻ ngoan, nhanh nhẹn, ham hoạt động. Được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của nhà trường và sự góp ý trao đổi kinh nghiệm của đồng nghiệp, sự giúp đỡ của các bậc phụ huynh. Một số cháu thông minh, nhanh nhẹn có sức khoẻ tốt có sự rèn luyện thường xuyên của gia đình. Được sự quan tâm của các cấp chính quyền đã xây dựng cơ sở vật chất khang trang, phòng học rộng rãi, thoáng mát, an toàn cho trẻ. Bản thân nắm vững phương pháp, biện pháp giảng dạy, yêu nghề mến trẻ tận tụy, có sáng tạo trong các tiết học. Không ngừng tìm tòi học hỏi kinh nghiệm để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ Do trường thực hiện bán trú, nên cũng tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu. 2.2.2. Khó khăn: Hiện nay trẻ được tiếp xúc nhiều với các thể loại âm nhạc ở trên trường lớp và ở nhà, tuy nhiên ở nhà, cha mẹ trẻ thường không quan tâm nhiều, hay để trẻ tự do tiếp xúc với nhạc thị trường và thuộc những bài hát của người lớn, ít được nghe các ca khúc dân ca trong đời sống. Tại lớp tôi phụ trách, có 39 học sinh, trong đó có 19 nữ, dân tộc là 1, đa số các trẻ là con nhà nông, bố mẹ thường xuyên làm rẫy, không có thời gian quan tâm đến các cháu, vì vậy trẻ ít được nghe nhạc dân ca, chủ yếu trẻ biết dân ca trong các tiết âm nhạc cô dạy trên lớp. Đầu năm học tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát trên trẻ và có những thông tin về sự hiểu biết dân ca của trẻ trong lớp như sau: 8
  7. Nội dung Số lượng Tỉ lệ % Ghi chú Lựa chọn các ca khúc dân ca phù hợp với trẻ 23 60% Trẻ biết sử dụng các dụng cụ âm nhạc qua các 21 55% bài hát dân ca. Trẻ đọc thuộc lời ca một cách hiệu quả. 25 65% Trẻ thích và hứng thú nghe nhạc nghe, hát dân 20 50% ca. Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, việc lựa chọn ca khúc dân ca phù hợp với trẻ chỉ đạt 60%, lý do vì cô chưa thật sự nhiệt huyết trong việc tìm các bài hát dân ca phù hợp với từng chủ đề và lứa tuổi của trẻ, chính vì vậy có những bài hát có ca từ quá khó, nội dung khó hiểu với trẻ, nhưng cũng có những bài hát quá đơn giản so với độ tuổi lớp chồi của trẻ. Việc Trẻ biết sử dụng các dụng cụ âm nhạc qua các bài hát dân ca đạt 55%, bởi vì cô chưa thực sự quan tâm đến việc sưu tầm hay tự làm các đồ dùng, đạo cụ hỗ trợ tiết dạy, và chưa hướng dẫn trẻ sử dụng các đồ dùng âm nhạc có sẵn, nên đôi khi gây nhàm chán và chưa tạo được hứng thú cho trẻ trong giờ làm quen với âm nhạc dân ca. Dạy trẻ đọc thuộc lời ca một cách hiệu quả đạt 65%, vì ở lớp cô chưa chú trọng đến việc phân tích lời bài hát cho trẻ, trẻ thuộc bài hát theo kiểu nghe nhiều và học vẹt, trẻ hay bị sai câu từ và không hiểu được lời bài hát nói về điều gì. Chính vì vậy, trẻ có thể thuộc bài hát nhưng chưa đạt hiệu quả cao. Tổ chức xây dựng hiệu quả các giờ nghe nhạc nghe hát dân ca chỉ đạt 50%, bởi vì đa số các cô đều cho trẻ nghe nhạc dân ca để hỗ trợ tiết dạy hát, vận động chính trong giờ hoạt động âm nhạc. Còn ở các hoạt động khác như hoạt động góc, ngoài trời, hoạt động chiều và các hoạt động học khác thì chưa có sự lồng ghép, tích hợp âm nhạc dân ca vào. Chính vì vậy, chưa tạo được hiệu quả trong việc dạy trẻ đến gần với âm nhạc dân ca. Ở trường trẻ mầm non được biết đến những bài hát dân ca thông qua các hoạt động âm nhạc. Khả năng chú ý có chủ định của trẻ còn kém. Trẻ có thể hứng 9
  8. thú lúc đầu nhưng dể nhàm chán ngay sau đó. Vì vậy, khái niệm về dân ca đối với trẻ còn khá ít chưa kể có nhiều ca khúc dân ca, và việc tư duy cảm thụ nó cũng ở một mức độ khác nhau nên giáo viên cần phải lựa chọn các ca khúc một cách phù hợp để trẻ hát hoặc nghe. Bên cạnh đó việc tổ chức hoạt động đưa dân ca đến gần với trẻ đòi hỏi phải có sự linh hoạt và tự nhiên nhất đến trẻ. Thời gian tổ chức cho trẻ tiếp xúc rất hạn hẹp vì không thể diễn ra trong suốt cả một hoạt động của trẻ mà nó chủ yếu chỉ được lồng ghép và tích hợp vào các hoạt động khác. Thực tế rằng giáo viên phải có hiểu biết và vốn kiến thức phong phú về các bài hát dân ca và tìm hiểu về nguồn gốc xuất xứ của các bài hát đó đến từ địa phương hay vùng miền nào thì mới có thể truyền đạt đến trẻ. Những đồ dùng, dụng cụ âm nhạc dân gian hỗ trợ tiết dạy chưa phong phú, nên các ca khúc dân ca còn chưa được đầu tư kỹ càng. Với mong muốn được đưa dân ca đến gần với trẻ tôi đã đề xuất với nhà trường và nhận được sự hướng dẫn và chỉ đạo sát sao về chuyên môn và sự quan tâm tạo điều kiện về mọi mặt của BGH nhà trường. Nên các bài giảng giáo án luôn được kiểm tra và góp ý để lồng ghép các hoạt động âm nhạc, đặc biệt là dân ca đến gần với trẻ hơn. Trẻ mầm non lớp tôi đặc biệt rất thích ca hát và có hứng thú với bộ môn âm nhạc. Chính vì vậy khi đưa dân ca đến với trẻ thì trẻ hào hứng, và có sự quan tâm nhất định đối với thể loại âm nhạc này. Bản thân tôi đã có một thời tuổi thơ sống ở vùng quê, nên ngay từ nhỏ đã được tiếp xúc với dân ca âm nhạc Việt Nam. Tôi đặc biêt rất yêu thích các khúc dân ca và luôn sưu tầm các bài hát dân ca của nhiều vùng miền và dựa trên kinh nghiệm bảy năm giảng dạy tôi đã có một số kinh nghiệm để tạo hứng thú thu hút được trẻ đặc biệt là với bộ môn âm nhạc. 2.3. Một số biện pháp trong việc đưa dân ca đến gần với trẻ mầm non. 2.3.1: Biện pháp 1: Lựa chọn các ca khúc dân ca phù hợp với lứa tuổi của trẻ. 10
  9. Kho tàng âm nhạc dân tộc Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng nhưng không phải bài nào cũng phù hợp với trẻ nhỏ. Vì thế, giáo viên nên có sự cân nhắc lựa chọn cho trẻ những bài hát dể thuộc dể nhớ có nội dung gần gũi với trẻ. Bên cạnh đó, trong trường mầm non lại có sự phân chia trẻ theo nhiều độ tuổi. Mỗi độ tuổi lại có mức độ nhận thức và khả năng chú ý có chủ định khác nhau. Chính vì thế, các bài hát cũng cần phải được lựa chọn cho phù hợp với từng độ tuổi. Cụ thể như sau: * Với trẻ lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo bé ( từ 2 đến 4 tuổi ): khả năng chú ý có chủ định còn kém, nhận thức còn đơn giản. Vì vậy trẻ chỉ có thể nghe được những bài hát đơn giản như “Lý cây bông”, “Cò lả” * Khi lựa chọn các ca khúc cho trẻ mầm non, tôi lựa chọn tiêu chí: - Ca khúc không quá đơn giản nhưng cũng không quá phức tạp. - Có các phương tiện như tranh ảnh, đồ dung trực quan để thu hút trẻ. - Giúp củng cố tư duy, ngôn ngữ, sự cảm thụ âm nhạc cho trẻ. - Gây được hứng thú, thu hút sự chú ý của trẻ. - Có sự tham gia của tập thể lớp hoặc nhóm trẻ trong lớp. Từ những tiêu chí trên, tôi đã lựa chọn các bài hát dân ca của các vùng miền như: “Cây trúc xinh”, “inh lả ơi”, “úp lá khoai”, “trống cơm”, “đi cấy”, “lý cây đa” Qua những bài hát dân ca đó trẻ càng thêm yêu quê hương đất nước, yêu con người Việt Nam hơn. Và điều quan trọng hơn nữa đó là tôi phải lựa chọn những bài dân ca phù hợp nhất với các chủ đề trong chương trình giáo dục mầm non. Ví dụ: Chủ đề thế giới thực vật, tôi chọn bài hát: “Lý cây bông , Bầu và bí” qua đó để giới thiệu về một số loại rau, loại hoa quen thuộc. Qua đó trẻ có thể nhận biết về số lượng, trẻ còn biết cách chăm sóc bảo vệ cây đặc biệt trẻ biết đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau. Còn với chủ đề: Thế giới động vật, tôi sẽ chọn bài : “Chim sáo” Cho trẻ biết tiếng hót của chim sáo, khi chim hót vang trong rừng cho ta thấy khung cảnh thanh bình và yên ả. 11
  10. Hình 1: Trẻ múa hát “Cây trúc xinh” 2.3.2: Biện pháp 2: Chuẩn bị đồ dùng phương tiện cho các bài hát dân ca: Đồ dùng phương tiện để dạy trẻ về âm nhạc dân ca Việt Nam không chỉ là các đĩa nhạc, hay các dụng cụ âm nhạc dân tộc mà để thu hút được sự chú ý của trẻ thì người giáo viên cần có sự chuẩn bị tốt về đồ dùng phương tiện để thu hút được trẻ, điều quan trọng hơn là cần cho trẻ trải nghiệm để hóa thân vào những nhân vật trong những bài dân ca đó, như vậy sẽ khắc sâu hơn trong con người trẻ những hình tượng về con người của mỗi vùng miền trên đất nước Việt Nam. Trước hay sau khi học hát, trẻ đều cần được tiếp xúc với bài hát một cách toàn diện về tính chất, nội dung, hình tượng âm nhạc, sự vật, sự kiện nói đến trong bài. Để thực hiện điều này giáo viên có thể sử dụng tối đa các phương tiện dạy học có trong nhà trường. Ngoài ra, giáo viên cũng có thể cùng trẻ tạo ra những phương tiện cho chính giờ học âm nhạc đó. Bên cạnh những đồ dùng, đồ chơi hóa trang có thể mua (gáo dừa, phách tre, mũ kim sa ) cần tận dụng những nguyên liệu ở dạng phế liệu có sẵn như: muỗng gỗ, muỗng inox, muỗng sành (làm bộ dụng cụ gõ đệm tiết tấu), ống hút, dây ni lông, bao tải gạo, để làm một số quần áo hóa trang (tất cả những nguyên liệu cần đảm bảo an toàn, không gây độc hại, không sắc nhọn, không gây nặng nề đối với trẻ), ngoài ra cũng có thể trao đổi với một số phụ 12
  11. huynh làm nghề may để xin một số vải vóc dư để làm nên những bộ trang phục phù hợp với từng bài hát dân ca dạy trẻ. Từ những vật liệu trên, giáo viên có thể làm ra rất nhiều những dụng cụ âm nhạc, đồ dùng hóa trang phục vụ cho dạy học dân ca, đặc biệt là hoạt động vận động sáng tạo cho trẻ Khi trẻ hát múa các bài dân ca Bắc bộ thì cô chuẩn bị trang phục Bắc bộ: áo tứ thân, khăn đóng, áo yếm, đạo cụ sẽ kèm theo tùy vào từng bài hát. Còn đối với trẻ múa hát các bài về dân ca Nam bộ, cô sẽ chuẩn bị cho trẻ những trang phục như: áo bà ba, khăn rằn, quần dên để khắc sâu hơn về hình ảnh, hình tượng của bài hát, đó là một phần không thể thiếu khi chúng ta mang dân ca đến gần với trẻ. Ví dụ như về bài hát “Cò lả”, giáo viên có thể tìm những hình ảnh về đồng lúa Việt Nam với hình ảnh cánh cò bay có lồng ghép bài hát để thu hút được trẻ. Bài hát “ úp lá khoai”, giáo viên có thể tìm các lá khoai để trẻ vừa học hát vừa thực hiện các động tác minh họa làm cho bài hát thêm phần sinh động và gây hứng thú cho trẻ. Hay bài “trống cơm”, khi trẻ hát múa giáo viên có thể chuẩn bị trang phục như áo tứ thân, áo yếm, và đạo cụ là những cái trống nhỏ nhắn xinh xắn để cho bài hát thêm phần sinh động hơn, lôi cuốn trẻ hơn, giúp khắc sâu hình ảnh đến gần với trẻ hơn. 13