Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực giúp học sinh Lớp 5 phát triển năng lực lập dàn ý cho bài văn miêu tả
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực giúp học sinh Lớp 5 phát triển năng lực lập dàn ý cho bài văn miêu tả", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_day_hoc_theo_huong_ti.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực giúp học sinh Lớp 5 phát.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực giúp học sinh Lớp 5 phát triển năng lực lập dàn ý cho bài văn miêu tả
- 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ở Tiểu học, cùng với các môn học và hoạt động giáo dục thì môn Tiếng Việt chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Một trong những mục đích dạy Tiếng Việt ở Tiểu học là: “Trang bị cho học sinh những hiểu biết ban đầu về văn học, văn hóa, ngôn ngữ văn hóa thông qua một số sáng tác văn học và một số loại văn bản khác của Việt Nam và thế giới, nhằm hình thành ở các em nhu cầu thưởng thức cái đẹp, khả năng rung cảm trước cái đẹp, trước những buồn, vui, yêu, ghét của con người”. Phân môn Tập làm văn là một bộ phận của môn Tiếng Việt, song nó lại được tích hợp từ tất cả những phân môn còn lại. Trong đó, văn miêu tả chiếm khá nhiều thời lượng trong các tiết Tập làm văn (đặc biệt là trong chương trình tập làm văn lớp 5). Văn miêu tả được chia thành các kiểu bài khác nhau căn cứ vào đối tượng miêu tả: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả người, tả cảnh... Tất cả đều là các chủ đề khá gần gũi nhưng khó so với các em vì khả năng trình bày, diễn đạt vấn đề thông qua nói và viết đối với nhiều em là rất khó khăn, lúng túng; các em rất e ngại, sợ phải trình bày, diễn giải một vấn đề nào đó mà thầy cô, bạn bè yêu cầu. Nhiều em rất sợ, rất ngán ngẩm khi nhắc đến Tập làm văn. Bản thân các em cũng gặp nhiều khó khăn trong việc cảm nhận cái hay, cái đẹp trong các bài văn, bài thơ được học dẫn đến chất lượng bài văn miêu tả chưa cao. Để giúp học sinh khắc phục những hạn chế này, một trong những biện pháp quan trọng và cần thiết là giáo viên cần hướng dẫn các em lập được một dàn ý chi tiết, đủ ý trước khi triển khai bài viết. Đối với học sinh lớp 5 thì dàn ý không có gì xa lạ nhưng để lập được một dàn ý chi tiết, đủ ý và theo đúng bố cục của một bài văn miêu tả mà học sinh có thể dựa vào đó viết thành một đoạn văn hay một bài văn hay thì quả thật không dễ. Với mong muốn giúp các em dễ dàng hơn trong việc lập dàn ý cho bài văn miêu tả để các em có thể diễn đạt trôi chảy, trình bày những câu văn, ý
- 3 văn giàu hình ảnh, có cảm xúc, tôi đã mạnh dạn đặt vấn đề và thực hiện: “Một số biện pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực giúp học sinh lớp 5 phát triển năng lực lập dàn ý cho bài văn miêu tả”. 2. Mục đích nghiên cứu Đề xuất một số biện pháp dạy học góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả theo hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 5. Góp phần thực hiện công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông và thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng việc dạy lập dàn ý cho bài văn miêu tả, xác định những khó khăn, tồn tại để tìm ra giải pháp, đề xuất những ý kiến về nhằm nâng cao hiệu quả của việc lập dàn ý cho bài văn miêu tả theo hướng phát triển năng lực học sinh. Giúp học sinh lập được những dàn ý của bài văn miêu tả đúng yêu cầu, chi tiết, đầy đủ để từ đó các em viết được những bài văn giàu hình ảnh và cảm xúc. Giúp giáo viên hình thành cho mình cách truyền đạt kiến thức môn Tập làm văn phù hợp với hoàn cảnh và khả năng tiếp thu của học sinh. Khắc phục các sai lầm của học sinh khi học phan môn tập làm văn và làm văn miêu tả. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 5A5 tại trường Tiểu học nơi tôi đang công tác trong năm học 2021 - 2022. Nghiên cứu từ các văn bản chỉ đạo về đổi mới giáo dục. Nghiên cứu các phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực học sinh. 5. Phương pháp nghiên cứu Khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng phối kết hợp các phương pháp sau: + Điều tra tình hình học tập làm văn của học sinh. + Dự giờ thăm lớp tìm hiểu những lỗi học sinh thường mắc phải khi lập dàn ý cho bài văn miêu tả. + Tìm hiểu phương pháp dạy của giáo viên cùng khối.
- 4 + Tham khảo ý kiến đồng nghiệp, tham khảo các tài liệu có liên quan. + Thống kê kết quả. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Theo John Erpenbeck – (1998): Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí. Theo Weinert – (2001): Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp trong những tình huống thay đổi. Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh là người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác phải gắn với thực tiễn đời sống. Nếu như dạy học theo hướng tiếp cận nội dung chủ yếu yêu cầu người học trả lời câu hỏi: Biết cái gì? thì theo tiếp cận năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết. Nói cách khác, nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu. Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh phù hợp với quy luật của hoạt động học tập. Người học cần giữ vai trò chủ động, không tiếp nhận thông tin một cách bị động, cần tìm tòi, khám phá, suy nghĩ các khía cạnh khác nhau của thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó theo trình tự dựa vào các giác quan khác nhau như thị giác, thính giác. Điều quan trọng khi dạy trẻ em làm văn miêu tả là phải dạy các em lập được dàn ý đúng, đủ, chi tiết sau khi quan sát. Từ cái sườn dàn ý đó các em mới nói, viết, tả được về nó với nhiều chi tiết sinh động hơn.
- 5 2. Cơ sở thực tiễn Qua những năm được phân công dạy học lớp 5, tôi nhận thấy năng lực lập dàn ý cho bài văn miêu tả của học sinh lớp 5 còn một số hạn chế như sau: - Lập dàn ý lủng củng, không đúng bố cục của bài văn miêu tả. - Lập dàn ý sơ sài, chưa đủ ý, từ ngữ sử dụng chưa chính xác. - Dàn ý có những ý chưa phù hợp theo đề bài và theo ngữ cảnh. - Sắp xếp ý còn lộn xộn, không theo trình tự nào. Nguyên nhân - Về phía học sinh: + Học sinh chưa nắm chắc bố cục của dàn ý bài văn miêu tả. + Vốn từ ngữ miêu tả của học sinh chưa đa dạng, phong phú. + Học sinh chưa hiểu rõ yêu cầu của đề bài. + Học sinh chưa biết cách quan sát và nếu có quan sát được thì cũng qua loa hoặc các em lại không biết ghi chép những gì mà mình quan sát được một cách rõ ràng. - Chưa biết sắp xếp các ý theo trình tự nhất định. + Về phía giáo viên: - Chưa chịu khó nghiên cứu, tìm tòi thêm ở những tài liệu khác ngoài SGK. Thường chỉ có con đường là hình thành cho các em hiểu biết về lý thuyết, các kỹ năng lập dàn ý dựa vào nội dung, gợi ý trong SGK (hoặc dựa vào các bài văn mẫu). 3. Các biện pháp Để các biện pháp phù hợp với từng tiết, từng dạng bài, chúng ta phải chú ý: - Đảm bảo tính chân thực, phải bắt nguồn từ sự quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả kết hợp với kinh nghiệm sống, với trí tượng tượng của các em, phải thể hiện được tình cảm, cảm xúc của các em. - Đảm bảo yêu cầu thực hành, lấy thực hành làm hoạt động chính của tiết học, lấy sự hình thành năng lực (bao gồm kĩ năng phân tích đề từ đó lập dàn ý, dựng đoạn, dùng từ, đặt câu) làm yêu cầu chính của tiết học.
- 6 - Đảm bảo tính thống nhất của quá trình học văn miêu tả. Nói cách khác có sự liên tục, kế tiếp nhau và kế thừa giữa các tiết học văn miêu tả, giữa các thể văn miêu tả sao cho việc rèn kĩ năng, nắm vững yêu cầu để lập được dàn bài ngày càng tốt hơn. 3.1. Hướng dẫn học sinh phân tích đề: Đây là khâu chuẩn bị rất quan trọng đối với giáo viên và học sinh. Giáo viên cần giúp học sinh biết cách xác định yêu cầu của đề, tránh được sự lúng túng trong quá trình triển khai lập dàn ý, dẫn đến làm xa đề, lạc đề. Để giúp học sinh thực sự thuần thục kĩ năng tìm hiểu đề văn miêu tả, tôi hướng dẫn các em một số thao tác sau đây khi tìm hiểu đề: - Đọc kĩ đề bài, bước đầu nhận thức sơ bộ về nội dung, yêu cầu miêu tả. - Gạch chân những từ ngữ quan trọng trong đề bài. (Sau khi thực hiện hai thao tác này giúp học sinh sơ bộ nắm bao quát về đề bài, nhận biết yêu cầu có tính bắt buộc hay chỉ có tính gợi ý – chỉ dẫn.) - Trả lời các câu hỏi để xác định yêu cầu của đề, như: Đề bài yêu cầu viết theo kiểu bài văn miêu tả nào? Đối tượng miêu tả của bài viết là gì? Mục đích viết bài văn miêu tả để làm gì?Bài viết hướng tới người đọc là ai? Từ ngữ xưng hô sẽ được sử dụng trong bài viết là gì? Với mỗi kiểu bài văn miêu tả, tôi sẽ hướng dẫn cho học sinh lập một dàn ý chi tiết chung cho kiểu bài đó để khi gặp từng đề bài học sinh có thể theo đó triển khai thành dàn ý chi tiết cho bài văn của mình. Dàn ý chung cho kiểu bài văn tả cảnh: 1. Mở bài: - Giới thiệu cảnh định tả: Cảnh đó ở đâu? Em tả nó vào thời điểm nào? 2. Thân bài: - Tả những nét chung nổi bật của toàn cảnh: + Những nét bao quát khi mới nhìn cảnh. + Quang cảnh chung, cảm tưởng chung về cảnh. - Tả từng bộ phận của cảnh theo trình tự hợp lí:
- 7 + Chọn tả những nét tiêu biểu nhất. + Chú ý tả đường nét, màu sắc của cảnh. + Tả người, vật gắn với cảnh (nếu có) - Tình cảm, thái độ của người tả. 3. Kết bài: - Nêu cảm nghĩ của người viết trước cảnh được tả. - Liên hệ (nếu có). Dàn ý chung cho kiểu bài văn tả người: 1. Mở bài: - Giới thiệu người sẽ tả: + Người ấy là ai, em gặp người ấy ở đâu, trong thời gian nào? + Cảm xúc ban đầu của em về người ấy như thế nào? 2. Thân bài: - Tả hình dáng: + Tả bao quát về tuổi, tầm vóc, dáng điệu, nghề nghiệp, - Tả tính tình: + Tính nết người đó như thế nào? + Giọng nói ra sao? + Cách cư xử của người đó với người khác? + Việc làm bộc lộ rõ rệt đạo đức, tình cảm và tính nết của người được tả. - Tả hoạt động hay kỉ niệm của người viết với người được tả. + Chọn hoạt động hay kỉ niệm gây ấn tượng sâu sắc nhất. 3. Kết bài: - Cảm nghĩ của em về người đó. - Liên hệ (nếu có). 3.2. Hướng dẫn học sinh quan sát: 3.2.1. Sử dụng các giác quan để quan sát, nhận biết sự vật Mắt cho ta cảm giác về màu sắc (xanh, đỏ, vàng, cam ) hình dạng (cây cao hay cây thấp, cái bàn vuông hay hình chữ nhật ), hoạt động (con gà
- 8 trống khi đi cổ thường nghển cao, con ngan bước đi chậm chạp, lạch bạch ). Dạy học sinh quan sát chính là dạy cách sử dụng các giác quan để tìm cho ra các đặc điểm của sự vật. Hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát: Thường học sinh chỉ dùng mắt để quan sát. Các nhận xét thu được thường là nhận xét và cảm xúc gắn liền với thị giác. Đây là mặt mạnh nhưng cũng là mặt yếu của các em. Chúng ta cần hướng dẫn học sinh tập sử dụng thêm các giác quan khác như thính giác, khứu giác,... để quan sát. Ví dụ: Quan sát một cây đang ra hoa, cảnh tấp nập trên đường phố hay một trận thi đấu thể thao Ngoài mắt ra còn cần biết huy động cả mũi (để phát hiện ra mùi món ăn trên đường phố buổi sớm mai, mùi hương lúa, hương hoa trên con đường xuyên qua cánh đồng ), cả tai (để thu nhận các tiếng động như tiếng ô tô, tiếng xe máy, tiếng rao bán hàng trên đường phố, tiếng cổ động viên trên sân bãi thi đấu ). 3.2.2. Quan sát có phương pháp, có định hướng Trong các tiết dạy học sinh lập dàn ý cho bài văn miêu tả, giáo viên cần dạy cho học sinh: - Phân chia đối tượng để quan sát: Để có thể quan sát một bức tranh, một con vịt, một quyển lịch, giáo viên cần dạy các em cách phân chia các đối tượng đó thành từng bộ phận rồi lần lượt tập quan sát các bộ phận đó. Một bức tranh có thể chia làm hai phần, phần trên và phần dưới hoặc nửa trái, nửa phải. Có người lại chia tranh theo nhóm các nhân vật hoạt các hoạt động có trong tranh ... - Lựa chọn trình tự quan sát: Cần hướng dẫn học sinh lựa chọn trình tự quan sát thích hợp; trường hợp các em lúng túng, giáo viên có thể gợi ý trình tự quan sát bản thân đã chuẩn bị. Sau đây là một số trình tự quan sát chung nhất có thể vận dụng vào các trường hợp cụ thể: + Trình tự không gian: từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặc ngược lại; quan sát từ phải sang trái hay quan sát từ trên xuống dưới;
- 9 quan sát từ ngoài vào trong hoặc ngược lại + Trình tự thời gian: quan sát cảnh vật, cây cối theo mùa trong năm, theo thời gian trong ngày: buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều Dù quan sát theo trình tự nào cũng cần tập trung vào bộ phận chủ yếu và trọng tâm. - Hướng dẫn cách thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại: + Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hướng dẫn các em trả lời bằng nhiều chi tiết cụ thể và sử dụng ngôn ngữ chính xác, gợi hình ảnh. + Ở mức cao hơn, giáo viên hướng dẫn học sinh đi vào trọng tâm của cảnh vật, con người và rèn luyện sự tinh tế khi quan sát . Đó là sự phát hiện ra những đặc điểm ít người nhận thấy. Ví dụ: Nhìn đóa hoa phượng rơi, có em học sinh đã nhận ra cái dáng “lìa cành chênh chếch bay nghiêng”. Hay nằm trong nhà nghe tiếng lá rơi ngoài thềm, Trần Đăng Khoa lúc mười tuổi phát hiện ra: “tiếng rơi rất khẽ như là rơi nghiêng” Như vậy rõ ràng là muốn lập được dàn ý cho bài văn miêu tả chi tiết, đầy đủ, giàu hình ảnh và sáng tạo thì phải tập quan sát, phải có công quan sát. Công việc này, mỗi người có thể làm một cách khác nhau nhưng mỗi người phải tìm ra cái riêng, cái mới của mình và cái riêng, cái mới ấy phải gắn liền với cái chân thật. 3.3. Làm giàu vốn từ cho học sinh. Vốn từ ngữ miêu tả có ý nghĩa quan trọng đối với việc lập dàn ý và làm văn miêu tả. Giúp học sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ khi miêu tả là vấn đề quan tâm của mọi giáo viên. 3.3.1. Tạo điều kiện để học sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả Biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh hiệu quả nhất là thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt. - Phân môn Tập đọc: Nhiều bài tập đọc là các bài văn miêu tả của các nhà văn. Số lượng từ ngữ miêu tả ở các bài đó phong phú, cách sử dụng chúng sáng tạo. Khi dạy các bài tập đọc đó tôi đặc biệt quan tâm giúp các em chỉ ra các từ
- 10 ngữ miêu tả, chọn một đến hai trường hợp đặc sắc nhất để phân tích cái hay, sự sáng tạo của nhà văn khi dùng chúng. Ngoài ra, phân môn Tập đọc còn giúp các em hiểu được nghĩa đen, nghĩa bóng, hiểu được nội dung của các đoạn văn, khổ thơ có ý nghĩa miêu tả (cảnh vật, con người, ...). Mỗi tiết dạy Tập đọc nên thêm một vài câu hỏi về thể loại, bố cục và trình tự miêu tả của tác giả để học sinh thấm dần và nắm chắc hơn các bước của bài văn miêu tả để lập dàn ý được đúng. Bên cạnh đó, giáo viên khuyến khích các em lập sổ tay từ ngữ miêu tả. Thỉnh thoảng giở sổ tay xem lại (nhất là khi chuẩn bị cho tiết Tập làm văn). Sau một thời gian vài ba tuần giáo viên lại cho ôn tập và kiểm tra miệng các câu văn hay đó trước khi vào dạy bài mới. Cứ cần cù như vậy sẽ giúp các em tích luỹ dần vốn từ ngữ miêu tả. - Phân môn Luyện từ và câu: Các tiết học từ ngữ cũng là một dịp để giáo viên giúp các em không chỉ hiểu rõ nghĩa của từ mà còn mở rộng chúng khi tìm các từ ngữ gần nghĩa hoặc trái nghĩa. Ví dụ: Giáo viên hướng dẫn để các em thấy bên cạnh tính từ gầy nói về hình dáng của con người còn có nhiều từ gần ghĩa khác như: khô đét, xương xẩu, hom hem hay lép kẹp Bên cạnh tính từ đẹp còn hàng loạt các từ khác: trông dễ mến, dễ thương, xinh xinh, xinh xắn, đáng yêu, dễ coi Việc học tập và mở rộng vốn từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình cũng có ý nghĩa tích cực đối với việc tích lũy vốn từ ngữ miêu tả của học sinh. Lượng từ ngữ này giúp rất nhiều cho học sinh khi tả các con vật, cây cối, tả người, tả cảnh sinh hoạt 3.3.2. Hướng dẫn học sinh lựa chọn từ ngữ khi lập dàn ý cho bài miêu tả Có vốn từ ngữ nhưng phải biết cách dùng chúng đúng lúc, đúng chỗ. Muốn vậy phải coi trọng việc lựa chọn từ ngữ khi diễn đạt kết quả quan sát cũng như khi làm bài miêu tả. Mỗi chi tiết miêu tả thường chỉ có một từ ngữ, một hình ảnh thích hợp, do đó có tác dụng gợi hình, gợi cảm nhất. Có khi ngay từ đầu các em đã nắm bắt được từ ngữ hay hình ảnh này. Nhưng thông thường việc xác định từ ngữ hay hình ảnh cần dùng cho một chi tiết miêu tả phải trải qua một quá trình tìm tòi, chọn lọc. Quá trình này có thể được tiến hành có
- 11 phương pháp hay không có phương pháp, sẽ quyết định tốc độ (nhanh hay chậm) và chất lượng (tìm được đúng từ ngữ, hình ảnh cần hay không). Cách làm thông thường khi lựa chọn từ ngữ là so sánh các từ gần nghĩa hay trái nghĩa. Có thể nhắc lại ở đây ví dụ: Để tả một người gầy thì nên dùng từ nào trong hàng loạt các từ ngữ: gầy, khô đét, xương xẩu, hom hem, lép kẹp Cần luyện tập tính kiên trì của học sinh để làm quen với phương pháp này và chống lại tâm lí dễ dãi khi dùng từ ngữ. (Nhà văn Tô Hoài đã có lúc phê phán: “cứ viết đến mồ hôi là nhễ nhại, tinh thần thì hăng say, đàn ông thì cười phá lên, người thì thanh tú, thon thả, nét mặt xúc động thì mắt ánh lên. Những chữ ấy không phải công phu mình nghĩ ra. Chỉ vì đã vơ lấy dùng đi dùng lại đến quen tay mà thôi”). 3.4. Hướng dẫn học sinh tìm ý và hoàn thiện dàn ý Sau khi học sinh đã quan sát đối tượng miêu tả, tôi sẽ đặt câu hỏi gợi ý để học sinh hồi tưởng lại những gì đã quan sát được để chọn lọc và tìm ra ý hay cho đoạn văn, bài văn phù hợp với yêu cầu của đề bài. Khi học sinh đã quan sát và tìm đủ ý rồi, tôi hướng dẫn các em sắp xếp các ý logic theo bố cục của dàn ý chung để lập thành dàn ý chi tiết cho bài văn. Để hoàn thiện dàn ý cho một bài văn miêu tả, tôi hướng dẫn các em đi theo những thao tác sau: - Chuẩn bị một tờ giấy nháp trắng để nhập toàn bộ nội dung của dàn ý. - Ghi sẵn 3 phần lớn của bài văn: + Mở bài. + Thân bài. + Kết bài. (Viết phần Mở bài xong để cách khoảng 2-3 dòng rồi mới ghi phần Thân bài; phần Kết bài ghi xuống cuối tờ nháp, chỉ cần 2-3 dòng là đủ. Các khoảng trắng để ta nhập các ý cần phải có ở mỗi phần vào.) - Nhớ lại những đặc điểm về thể loại, nhớ lại đặc điểm dàn bài chung của thể loại, dựa vào ý chính của đề để lập một dàn bài chi tiết cho bài văn
- 12 mình chuẩn bị viết. - Tuỳ theo thể loại và ý chính của đề, ta tìm ý có liên quan đến đề bài. Viết nhanh ra giấy nháp những ý đã tìm hoặc đã suy nghĩ được trong đầu. - Trong dàn bài, ta sắp xếp các ý cho có thứ tự, điều gì đáng nói trước, điều gì nên để sau, tránh những ý nhắc đi nhắc lại. Phần mở bài có những ý gì? Thân bài có mấy đoạn? Đoạn nào trọng tâm? (Trong những ý lớn có những ý nhỏ nào?). Phần kết bài nên có những ý gì? Ghi nhanh xong dàn bài, đọc lại để sửa hoặc thêm những ý cần thiết, bỏ những ý thừa. Sau khi thực hiện những thao tác đó, trên giấy nháp của học sinh có kết quả thể hiện theo sơ đồ sau: Sau khi hoàn thiện dàn ý trên giấy nháp (theo sơ đồ tư duy) học sinh sẽ triển khai viết vào vở hoặc giấy kiểm tra. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Trong năm học 2021 - 2022 thực hiện những biện pháp trên tại lớp 5A5 của trường tôi đang giảng dạy. Sau một thời gian vận dụng các biện pháp và qua việc khảo sát 42 bài làm của 42 em học sinh đã cho tôi một kết quả khả quan. Các em làm tốt việc quan sát,

