Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh Lớp Một theo phương pháp Đan Mạch
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh Lớp Một theo phương pháp Đan Mạch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_day_hoc_mon_mi_thuat.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh Lớp Một theo phương pháp Đan Mạch
- 2. Những quy trình mĩ thuật theo phương pháp mới của SAEPS kích thích sự tư duy, sáng tạo của học sinh. Nếu giáo viên biết cách vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tế thì sẽ không còn gặp khó khăn gì. 3. Mĩ thuật là một bộ môn thuộc về năng khiếu của mỗi cá nhân. Trang 3
- PHẦNII. NỘI DUNG §Ò tµi I. C¬ së lý luËn 1. Những định hướng và mục tiêu giáo dục Mĩ thuật bậc Tiểu học: Luật Giáo dục điều 24.2 đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh". Đồng thời còn nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp cho học sinh những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách một con người, chuẩn bị tốt cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao động để học sinh tiếp tục học lên trung học hoặc đi vào cuộc sống tùy theo nhu cầu và nguyện vọng bằng những hình thức thích hợp”. Điều này khẳng định giáo dục thẩm mĩ trong trường Tiểu học là một nội dung có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các mặt giáo dục khác, tạo nên sự hoàn thiện trong việc phát triển nhân cách của học sinh. Chính vì vậy việc giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh có trình độ văn hoá thẩm mĩ phổ thông là hết sức cần thiết. 2. Đặc điểm tâm lý học sinh lớp Một: Ở độ 6 tuổi là khởi đầu của giai đoạn phát triển mới của tư duy. Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi do năng lực tư duy hạn chế. Mặt khác, năng lực chú ý và trí nhớ ở lứa tuổi này cũng còn kém bền vững, chưa thể tập trung lâu trong thời gian dài.Các em luôn hiếu động ham chơi, thích cái mới lạ nhưng lại chóng chán do môi trường của các em có sự thay đổi, từ hoạt động vui chơi là chính chuyển qua hoạt động chủ đạo là học tập. Các em có thể nhớ rất nhanh và thích làm những gì mình thích, nhưng lại mau quên, khó tập trung vào việc học. Tâm lý của các em là thích được khen hơn chê, cho nên khi các em được thầy cô khen, bạn bè quý mến các em rất thích. 3. Một số vấn đề về phương pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới (thuộc dự án do Đan Mạch hỗ trợ). Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học là một phần quan trọng trong ph¬ng ph¸p này nhằm truyền cảm hứng cho giáo viên dạy Mĩ thuật để hỗ trợ học sinh phát triển khả năng tiếp thu thẩm mĩ và sáng tạo, bằng cách khuyến khích các em trải nghiệm, sáng tạo, bày tỏ, hợp tác và giao tiếp với nhau qua các hoạt động mĩ thuật thực tế qua đó học sinh tự làm giàu cách biểu đạt phân tích đánh giá. Mục tiêu của phương pháp này giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực: - Năng lực trải nghiệm: Cho các em được làm việc với những chủ đề liên quan đến kinh nghiệm đã có của bản thân. - Năng lực kỹ năng và kỹ thuật thông qua các hoạt động : Vẽ cùng nhau, chân dung biểu đạt, - Năng lực biểu đạt: Có nghĩa là học sinh ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để diễn đạt sự trải nghiệm và thái độ của bản thân. - Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt động trình bày về tác phẩm của mình, tham gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện tác phẩm. - Điểm nổi bật của phương pháp dạy học này là giáo viên có thể chủ động theo từng nội dung tiết dạy mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài dạy. Nội dung chương trình Trang 4
- giáo dục Mĩ thuật theo phương pháp mới không theo trình tự các bài như chương trình hiện hành, mà giáo viên căn cứ vào đó để xây dựng các chủ đề cho phù hợp. Mỗi chủ đề tạo thành một quy trình mỹ thuật tương tác và tích hợp giữa 5 nội dung: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Tập nặn tạo dáng, Thường thức Mỹ thuật. Mỗi chủ đề sẽ lồng ghép giáo dục nhiều mục tiêu và được thực hiện ít nhất là 2 tiết, nhiều nhất là 5 tiết. 2.C¬ së thùc tiÔn Với học sinh lớp Một các em vẽ hình thường còn quá nhỏ, không tự tin khi thể hiện (khi vẽ biểu đạt, tạo ngân hàng hình ảnh), bố cục trống trải (khi vẽ cùng nhau), tạo hình bằng đất nặn, xé dán hình chưa phong phú dẫn đến sản phẩm đạt được không đẹp mắt, khó biểu đạt nội dung chủ đề. Mặt khác do chất liệu bút chì dễ tẩy xoá nên nhiều học sinh quá lạm dụng tẩy, làm cho bài vẽ bị bẩn, thường bị rách giấy, hình vẽ thiếu tự nhiên. Các bài vẽ, các sản phẩm của học sinh còn mang tính sao chép, na ná giống nhau, chưa có nhiều sáng tạo hay ý tưởng đột phá. Khi vẽ màu thường đơn điệu, không có đậm nhạt, vẽ màu không gọn. Trong khi có thể nói các em rất thích học Mĩ thuật, thích vẽ, thích xem tranh, thích được sáng tạo nhưng các giờ học vẫn đại đa số vẫn chưa thực sự thoải mái, chưa thật sự là “không gian của sự sáng tạo”. Các em vẽ thường bị gò bó, công thức, đôi khi rập khuôn, sự suy nghĩ, tìm tòi chưa được giải phóng, hiện tượng bắt chước, lặp lại từ cách vẽ hình, vẽ màu, cách tìm chủ đề cho vẫn còn chung chung...Nhưng nếu giáo viên thiếu quan sát hay quản lý lớp là các em thường nói chuyện riêng, đùa giỡn,làm ảnh hưởng đến lớp học bên cạnh, nhất là khi làm việc nhóm hay vẽ ngoài sân trường, ngoài không gian lớp học. iii.Thùc tr¹ng cña trêng tiÓu häc.......vµ viÖc ®æi míi ph¬ng ph ¸p gi¶ng d¹y. 1.Thùc tr¹ng vÒ gi¸o viªn vµ häc sinh 1.1Thuận lợi * Giáo viên: - Giáo viên dạy Mĩ thuật luôn được sự quan tâm của Ngành cấp trên, đặc biệt là Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. - Giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn. - Cơ sở vật chất của nhà trường khá khang trang, sạch đẹp, * Học sinh: - Các hoạt động của mỗi chủ đề nối tiếp liền mạch nhau, làm cho học sinh luôn cảm thấy hào hứng khi được khám phá, sáng tạo với nhiều trải nghiệm. Mặt khác, các em được thỏa thích với những sáng tạo, được trao đổi, học hỏi từ bạn rất nhiều. Thông qua hoạt động mỹ thuật thực tế, học sinh tự mình làm giàu cách biểu đạt, phân tích, đánh giá, tự lựa chọn và nhận thức để hình thành, phát triển những năng lực cá nhân - Có thể nói việc giảng dạy bộ môn Mĩ thuật học sinh rất yêu thích môn học vì là một giờ học không gò bó, không có nhiều áp lực. Đó chính là một lợi thế, không phải môn học nào cũng có được. b. Khó khăn: * Giáo viên: - Trang thiết bị phục vụ môn học chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho dạy - học Mĩ thuật. Trang 5
- - Khi dạy theo phương pháp của Đan Mạch đòi hỏi giáo viên phải có kế hoạch dạy học xuyên suốt và liên kết giữa các tiết trong cùng một chủ đề. Xây dựng nội dung các chủ đề như thế nào cho đảm bảo mục tiêu giáo dục thì giáo viên vẫn còn nhiều băn khoăn. Nếu chủ đề quá xa lạ hoặc quá khó sẽ không tạo được hứng thú học tập cho các em và ngược lại nếu quá dễ thì sẽ gây tâm lý nhàm chán cho học sinh. * Về học sinh: - Đối với học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp Một nói riêng, giáo viên phải hướng dẫn vẽ từng bước chi tiết có khi các em còn chưa thực hiện được mà theo phương pháp mới các em phải tự tìm ra cách thể hiện, cách vẽ, cách dựng câu chuyện thông qua những trải nghiệm trên lớp. Hơn nữa nếu là học sinh lớp Một thì vấn đề này càng đáng lo ngại, bởi lẽ không phải học sinh nào cũng sẵn sàng sáng tạo khi mà bản thân chưa hiểu, chưa nắm được cách vẽ, cách thể hiện qua các đường nét, màu sắc để đạt yêu cầu bài học. Học sinh chưa phát huy được sự sáng tạo, chưa mạnh dạn tham gia các hoạt động trên lớp. - Khi áp dụng phương pháp mới thì hình thức tổ chức lớp học thay đổi, chủ yếu là thực hành theo nhóm, giáo viên sẽ mất nhiều thời gian cho việc sắp xếp, ổn định chỗ ngồi cho học sinh, rất khó khăn trong việc quản lý trật tự lớp học. Hoạt động theo nhóm nhiều lợi thế nhưng nếu không được tổ chức một cách khoa học thì vấn đề trật tự lớp học sẽ vượt ra khỏi tầm kiểm soát của giáo viên. Vì học nhóm, các em ngồi đối diện nhau hoặc thành vòng tròn nên hay nói chuyện, đùa giỡn trong giờ học. Hầu hết giáo viên dạy bộ môn cho học sinh lớp Một đều gặp khó khăn ở đầu năm học. Nề nếp lớp chưa ổn định, học sinh không quen ngồi lâu trong khuôn khổ. Giữ trật tự đã khó, để các em tham gia vào hoạt động học tập theo hướng dẫn của giáo viên còn khó hơn. - Bảy quy trình dạy – học mĩ thuật chủ yếu là đề cao khả năng tự học của học sinh, nhưng để thực hiện được một quy trình các em phải chuẩn bị rất nhiều vật dụng như : giấy Điều này quả là khó khăn cho cả giáo viên và học sinh, vì bản thân các em chưa thể tự chuẩn bị được mà phải có sự hỗ trợ từ phía phụ huynh. Mặt khác, học sinh lớp Một rất khó khăn trong việc sử dụng kéo, khi thực hiện giảng dạy theo những quy trình này, giáo viên thường mất rất nhiều thời gian để hướng dẫn, hỗ trợ các em, thậm chí hết tiết học mà nhiều em vẫn chưa hoàn thành được sản phẩm. Trang 6
- III. Nh÷ng biÖn Ph¸p thùc hiÖn BiÖn pháp 1: Lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học và đảm bảo đúng tinh thần đổi mới theo phương pháp của SAEPS. * Mục đích: Lập kế hoạch dạy chi tiết từng hoạt động giúp giáo viên chủ động và ứng phó kịp thời, đúng đắn các tình huống sư phạm có thể xảy ra trên lớp. * Biện pháp thực hiện: Khi dạy học dưới bất cứ phương pháp nào đều yêu cầu giáo viên phải lập được kế hoạch dạy học hoàn chỉnh. Đó không chỉ là đơn thuần thực hiện cho đúng nhiệm vụ khi lên lớp mà nó còn thể hiện tinh thần trách nhiệm của mỗi giáo viên đối với học sinh. Có thể nói việc lập kế hoạch giảng dạy tốt là đã thành công một nửa của quá trình dạy học. Giáo viên là người điều khiển quá trình và tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy bằng các câu hỏi mở và khuyến khích các em chia sẻ những kinh nghiệm sẵn có của mình. Điều này tạo ra nền tảng cần thiết để giúp các em kiến tạo được quy trình học tập của mình bằng cách liên hệ những điều đã biết với những điều sẽ học. Khi lập kế hoạch tôi sẽ căn cứ vào tình hình thực tế của lớp để điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp và sát với khả năng tiếp thu của học sinh. Kế hoạch cho từng hoạt động hoặc cho toàn bộ quy trình theo phương pháp Đan Mạch có thể ngắn, dài và kết nối, liên kết, xâu chuỗi các hoạt động quy trình với nhau, kết thúc hoạt động này sẽ là mở đầu cho hoạt động tiếp theo Cụ thể khi xây dựng kế hoạch dạy học theo phương pháp mới cần phải chú ý tới: - Mục tiêu bài học: Mỗi bài học, tiết học đều có mục tiêu chung là hướng tới hình thành cho học sinh phát huy khả năng tưởng tượng, sáng tạo và năng lực diễn đạt bằng lời nói, học sinh tưởng tượng và sáng tạo được một câu chuyện bằng ngôn ngữ mĩ thuật. Tôi xác định rõ mục tiêu cụ thể của bài học đó là học sinh hiểu được gì? Thực hiện như thế nào và làm được gì? Ví dụ chủ đề khu nhà nơi em ở : Mục tiêu: Giúp học sinh phát triển được khả năng quan sát và phát hiện về hình khối đơn giản xung quanh mình. Học sinh xử dụng được các hình khối để tạo nên các hình dáng đơn giản, cụ thể về ngôi nhà và khung cảnh xung quanh. Học sinh phát huy khả năng tưởng tượng, sáng tạo và năng lực diễn đạt bằng lời nói. - Nội dung chủ đề: Nội dung các chủ đề phải vừa sức học sinh, phù hợp với tâm lý lứa tuổi của các em. - Điều kiện tiên quyết: Đó là những yêu cầu thiết yếu để quá tình giảng dạy có hiệu quả, bao gồm: Tạo điều kiện để học sinh học qua nhiều kênh; chú ý khả năng, phong cách học của từng học sinh; kết hợp kiến thức của bản thân học sinh và chiến lược học tập;xây dựng môi trường học tập thân thiện, truyền cảm hứng cho các em. - Môi trường học tập: Học tại lớp, học ở phòng chức năng. Môi trường học tập thoải mái sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quá trình dạy và học. - Quá trình học: Mỗi quá trình học là một sâu chuỗi các hoạt động diễn ra. - Đáng giá: Đánh giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình thực hiện. Môn Mĩ thuật là môn dành thời gian chủ yếu cho học sinh thực hành, do vậy tôi luôn thiết kế tổ chức các hoạt động trải nghiệm phong phú, đa dạng nhưng không quá dài, mất nhiều thời gian. Tuyệt đối không đưa ra tranh vẽ, sản phẩm làm mẫu để học sinh quan sát trước khi thực hành mà phải để học sinh chủ động tích cực tìm hiểu và tham gia vào quá trình tranh luận, thảo luận, bàn bạc khi làm việc cùng các bạn. Để thực hiện việc lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học và đảm bảo đúng tinh thần đổi mới theo phương pháp của SAEPS, giáo viên tiến hành như sau: Trang 7
- a. Dự kiến các hoạt động dạy-học diễn ra theo trình tự hợp lý và nối tiếp nhau. Mỗi tiết dạy, mỗi giai đoạn của một quy trình đều có những hoạt động và mục tiêu giáo dục khác nhau, do đó tôi xây dựng và đề ra những nội dung công việc cụ thể, hình thức học tập, cách thực hiện... Ví dụ ở tiết 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chủ đề : Thiªn nhiªn t¬i ®Ñp trình tự các hoạt động như sau: - Tổ chức trò chơi: Ai nhanh hơn. Luật chơi: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên vẽ nhµ, cây...... Học sinh dưới lớp hát 1 bài, khi hát hết bài thì các đội thi vẽ phải ngừng tay. Đội nào có học sinh vẽ nhanh, vẽ được nhiều hình cây nhất là đội thắng cuộc. - Giáo viên cùng học sinh nhận xét phần thi đua của các đội. - GV giới thiệu chủ đề: + Cảnh vật xung quanh chúng ta thường có những gì? (cây cối, hoa lá, nhà cửa, ). + Để giúp các em thấy được vẻ đẹp của cảnh vật xung quanh chúng ta và vẽ được những bức tranh thật đẹp, hôm nay cô và các em cùng tìm hiểu qua chủ đề:Thiªn nhiªn t¬i ®Ñp. - Giáo viên cho học sinh quan sát một số ảnh vườn cây........, gợi ý học sinh trả lời: + Trong tranh, ảnh này có những C¶nh gì? + Em hãy kể những loại cây, ngôi nhà mà em biết ? + Em sẽ chọn những cây,nhµ..... gì để vẽ tranh. - Giáo viên tóm tắt : - Học sinh thảo luận nhóm đôi: Kể cho bạn nghe về hình mà mình thích. - Một số học sinh kể trước lớp.. - GV kết luận: Vẽ tranh chủ đề về Thiên nhiªn t¬i ®Ñp em có thể vẽ được rất nhiều các hình ảnh khác nhau. Có thể là vườn cây, vườn hoa,..trong đó có thêm hình ảnh các con vật, người cho bức tranh thêm sinh động. - Gợi ý học sinh cách vẽ: - Một số học sinh lên bảng tập vẽ. - Giáo viên và học sinh cùng nhận xét, rút ra cách vẽ. - Học sinh hát một bài kết hợp vận động để kết thúc tiết học. b.Dự kiến cách giới thiệu bài phong phú, đa dạng để lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào tiết học. Nhiều giáo viên quan niệm: Giới thiệu chỉ cần ngắn gọn, cứ nêu ngay tên bài là xong mà chưa chú ý nhiều đến tác dụng giáo dục của việc này. Nếu làm phép thử nghiệm để so sánh giữa hai hình thức giới thiệu bài trực tiếp và giới thiệu bài gián tiếp sẽ thấy rõ ngay hiệu quả như thế nào. Ví dụ khi giới thiệu chủ đề Nh÷ng con vËt ngé nghÜnh. - Giáo viên tổ chức trò chơi ô chữ đoán tên con vật khi học sinh đoán đúng thì hình con vật được lật ra. Kết thúc trò chơi, giáo viên giới thiệu: Đây là những con vật quen thuộc. Để giúp các em có thể tạo hình được những con vật nuôi mà mình thích, hôm nay cô và các em cùng tìm hiểu qua chủ đề Nh÷ng con vËt ngé nghÜnh. -Häc sinh nắm được tên bài học, biết được những con vật nào là vật nuôi, không khí lớp học sinh động, học sinh thích thú khi được tham gia trò chơi.Giáo viên giới thiệu bài thông qua nhiều hình thức như: thông qua trò chơi, kể một câu chuyện nhỏ, một tình Trang 8
- huống hay đóng vai, tạo dáng, ®Ó tạo hứng thú học tập cho học sinh vừa cung cấp kiÕn thức một cách dễ hiểu nhất. c. Xây dựng các nội dung giúp học sinh trải nghiệm. Học sinh thích học thông qua các họat động nên giáo viên không nên sử dụng hình thức thuyết giảng mà nên dạy học tích cực, dạy học tương tác, lý thuyết gắn với thực hành. Học sinh được nói, được làm và vận dụng ngay thì sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức và nhớ lâu bền. Trong giáo dục mĩ thuật, học sinh được phát triển không ngừng và có sự khác biệt ở mỗi em về khả năng quan sát, trí tưởng tượng, trí nhớ, cách thức thể hiện con người, con vật, đồ vật về hình dáng, đặc điểm, cấu trúc, tỉ lệ...Học sinh được kích thích thông qua các khả năng của bản thân cũng như trải nghiệm với người khác như: những thành viên trong gia đình, bạn bè và thậm chí những người mới quen biết, với con vật yêu thích, đồ vật thân quen. Học sinh bị ảnh hưởng thông qua tiếp xúc với sự vật, hiện tượng xung quanh thông qua các kênh thông tin như: ti vi, tạp chí, sách vở, truyện tranh, quảng cáo, internet và các tác phẩm điêu khắc công cộng. Dần dần học sinh nhận biết được những cách thức thể hiện hình ảnh con người khác nhau về hình dáng, cấu trúc, tỉ lệ như: phác họa con người, biểu cảm của nhân vật, biểu tượng người khái quát... Do đó việc để học sinh trải nghiệm rất quan trọng, tùy theo từng chủ đề mà giáo viên lựa chọn các hoạt động cho phù hợp giúp học sinh nhớ lại kiến thức, những kỷ niệm và tưởng tượng, đồng thời cho các em cơ hội chia sẻ những gì các em đã biết khi trình bày về sở thích, mối quan tâm, mơ ước hay ý tưởng. Qua quá trình này học sinh sẽ có được những kiến thức thực tế để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển sức sáng tạo và biểu đạt thông qua việc được nghe kể chuyện, chia sẻ những trải nghiệm của bản thân về chủ đề liên quan, xem tranh ảnh, hoặc tổ chức các trò chơi phù hợp với từng lớp học. Ví dụ: Ở ho¹t ®éng Em tự giới thiệu giáo viên tổ chức cho học sinh tạo dáng sẽ thấy ngay hiệu quả bất ngờ. Vì tạo dáng gây hứng thú học tập, giúp cho học sinh nâng cao hiểu biết về những tình huống sự kiện từ đời sống hàng ngày của các em. e. Kế hoạch giảng dạy một chủ đề (giáo án): Tríc khi lªn líp t«i lu«n x©y dùng kÕ ho¹ch d¹y häc theo chñ ®Ò cô thÓ. - Tiết 1: Học sinh tìm hiểu về chủ đề thông qua các hoạt động trải nghiệm, tham quan, quan sát thực tế để hình thành ý tưởng cho tác phẩm của mình. - Tiết 2: Học sinh thể hiện ý tưởng c¸ nh©n. - Tiết 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm. Ví dụ: Chủ đề Nh÷ng con c¸ ®¸ng yªu (Mĩ thuật 1) – thực hiện 3 tiết. Trong đó: Tiết 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chủ đề. T«i gợi ý học sinh tìm hiểu hình dáng các con c¸ thông qua các câu hỏi gợi ý để các em thảo luận. Tổ chức trò chơi Thi vẽ nhanh một con c¸ mà em thích. Học sinh tìm ra cách vẽ các con c¸ sau khi trải nghiệm chơi. Học sinh vẽ những con vật nuôi mà mình thích vào giấy A4. Học sinh trong nhóm trao đổi và học hỏi cách vẽ. Tiết 2: Vẽ cùng nhau. Học sinh vẽ theo nhóm, kết hợp xé dán những con c¸ em thích (được lựa chọn từ những con vật các em đã vẽ ở tiết trước). Tiết 3: Tạo hình 3D. Học sinh nặn kết hợp xé dán hình các con c¸ theo nhãm và trưng bày sản phẩm. Giáo viên tổ chức cho học sinh xem và nêu cảm nhận của cá nhân. BiÖn pháp 2: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường. Trang 9
- Tạo cơ hội cho học sinh thích học và học thực sự dựa trên những gì các em đã biết, những gì liên quan đế sở thích của các em. * Biện pháp thực hiện: Bảy quy trình mĩ thuật theo phương pháp mới bao gồm: 1. Quy trình Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện. 2. Quy trình Vẽ biểu cảm. 3. Quy trình Trang trí và vẽ tranh qua âm nhạc. 4. Quy trình Xây dựng cốt truyện. 5. Quy trình Tạo hình từ dây thép và vật tìm được. 6. Quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không gian. 7. Quy trình Tạo hình con rối và biểu diễn nghệ thuật. Giáo viên tạo hứng thú cho học sinh bằng cách lập nên các quy trình dạy - học mĩ thuật tích hợp, linh hoạt theo chủ đề liên quan đến kinh nghiệm cá nhân, tâm lý lứa tuổi và kiến thức của học sinh. Tùy điều kiện cơ sở vật chất mà giáo viên tổ chức các hoạt động học tập vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới. Khi thực hiện tích hợp các quy trình dạy - học giáo viên cần chú ý: - Xây dựng dựa trên những gì học sinh đã biết, và những gì liên quan đến sở thích, mối quan tâm của các em. - Để học sinh chủ động trong quá trình học tập. - Tạo điều kiện cho học sinh sáng tạo, giao tiếp và thể hiện. - Hình thành cho học sinh những kĩ năng cần thiết như: nói, trình bày và làm việc cùng nhau - Tôi luôn tạo cơ hội cho học sinh thích học và học thực sự thông qua việc học sinh tự làm và thích làm, bởi vì quy trình dạy - học mĩ thuật đó có liên hệ và gắn với cuộc sống hàng ngày và quá trình học tập của các em, sẽ phát triển thêm những kỹ năng sống mới cho các em. Trong các quy trình dạy - học mĩ thuật sáng tạo Tôi luôn chỉ ra cho học sinh thấy rằng có vô vàn cách thức biểu đạt khác nhau chứ không phải chỉ có một cách duy nhất. Những quy trình dạy - học mĩ thuật này không phải là công thức cố định mà chúng ta phải làm theo. Những quy trình này tạo cảm hứng cho giáo viên và nó còn có thể điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế tại địa phương. Giáo viên có thể phát triển khả năng của học sinh ở các mức độ khác nhau trong các quy trình này như khả năng trải nghiệm, sáng tạo, biểu đạt, giao tiếp và đánh giá. Với bất kì quy trình dạy - học mĩ thuật nàoTôi luôn quan tâm đến việc dẫn dắt học sinh trao đổi, thảo luận trong suốt quy trình với các hoạt động học như thế nào và trưng bày tác phẩm hoàn thành ra sao. Cùng lúc với việc phát triển những khả năng nói trên, học sinh cũng có thể phát triển các giác quan, các kỹ năng sống, các năng lực hợp tác, kinh nghiệm và khả năng giải quyết vấn đề, năng lực tự học và tự đánh giá. Giáo dục mĩ thuật giúp học sinh có khả năng khám phá ra năng lực của mình thông qua các phương tiện khác nhau cũng như trải nghiệm những niềm vui thích khi tạo ra những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc sắc của mình. Điều này giúp học sinh có thể sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để có thể biểu đạt kinh nghiệm và thái độ của các em bằng nhiều cách khác nhau. Cụ thể là: - Năng lực giao tiếp được phát triển thông qua việc thảo luận, làm việc nhóm. - Năng lực đánh giá được phát triển qua quá trình quan sát,trải nghiệm và thưởng thức các sản phẩm mĩ thuật do chính các em tạo nên Trang 10
- Ví dụ: Giáo viên và học sinh đánh giá kết quả làm việc khi các nhóm học sinh thuyết trình về tác phẩm của mình. Để diễn giải, phân tích và khuyến khích các em đưa ra phản hồi và hội thoại với nhau về tác phẩm Tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn, tìm kiếm hình ảnh tưởng tượng qua khung hình trên bức tranh màu sắc trừu tượng, đóng kịch, di chuyển vị trí nhân vật trong tranh, nhân cách hoá hình ảnh, hoặc vẽ lại một tác phẩm nghệ thuật...Mỗi nhóm học sinh trình bày câu chuyện của mình giống như một vở kịch ngắn. Học sinh sẽ thảo luận và đánh giá các hoạt động tại lớp học. suốt quy trình, giáo viên và học sinh có thể thảo luận mục đích và kết quả qua từng bước sáng tạo từ đầu cho đến khi có sản phẩm cuối cùng. Sau mỗi quy trình, giáo viên và học sinh sẽ đánh giá chất lượng của mỗi sản phẩm được tạo ra cũng như hiệu quả xuyên suốt quá trình học tập. Tuy nhiên,khả năng nhận thức của học sinh lớp Một chưa thể đáp ứng được yêu cầu khi dạy theo phương pháp mới nên giáo viên chỉ có thể áp dụng 5 quy trình, còn 2 quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không gian, Tạo hình con rối và biểu diễn nghệ thuật chỉ có thể thực hiện ở các khối lớp lớn hơn. Cụ thể thực hiện các quy trình như sau: Quy trình vẽ cùng nhau: Học sinh biến những quan sát của mình thành các bức vẽ cá nhân. Tất cả các bài vẽ cá nhân sẽ là ngân hàng hình ảnh của nhóm để các em lựa chọn, sắp xếp theo một câu chuyện và vẽ cùng nhau, tạo thành một tác phẩm lớn hơn.Khi tạo ngân hàng hình ảnh,vẽ cùng nhau sẽ vẽ vào giấy A4 (vẽ theo nhóm 2 hoặc nhóm 4). Điều này cũng ít nhiều làm ảnh hưởng đến sự kết hợp của các em trong hoạt động nhóm do giấy quá nhỏ, chỉ phù hợp ở nhóm 2 và 3. Quy trình vẽ biểu cảm: Học sinh khám phá năng lực của mình thông qua các phương tiện khác nhau. Cũng như trải nghiện sự vui thích khi tạo ra sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc sắc của mình.Chủ đề em và bạn em Biện pháp 3 : Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi. * Mục đích: Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo. Học sinh cảm nhận được sự thoải mái khi việc học của mình vừa gắn với kiến thức trong sách vở, vừa thông qua sự trải nghiệm của chính bản thân trong các hoạt động tập thể. * Biện pháp thực hiện: Trò chơi có chứa đựng những chủ đề, nội dung nhất định, có những quy chế nhất định mà học sinh phải tuân thủ. Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi giải trí song đồng thời lại có ý nghĩa giáo dục. Dạy học bằng phương pháp tổ chức trò chơi là đưa học sinh đến với các hoạt động vui chơi giải trí nhưng có nội dung gắn liền với bài học.Trò chơi trong học tập có tác dụng giúp học sinh hăng say vào học tập, chống mệt mỏi, tránh làm cho tiết học nặng nề nhàm chán, tăng cường khả năng thực hành kiến thức của bài học, phát huy hứng thú, tạo thói quen độc lập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh, lôi cuốn các em vào những hoạt động học tập. Hay nói cách khác: trò chơi học tập là hoạt động được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí nhưng có nội dung gắn với bài học hay hoạt động học tập của học sinh. - Tổ chức vào thời điểm thích hợp. Trong thực tế dạy học Tôi thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để giới thiệu bài hay hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo Trang 11
- hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Do đó Tôi luôn linh hoạt tổ chức ở những thời điểm khác nhau nhằm tạo sự bất ngờ và giảm căng thẳng của giờ học. - Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp cùng tham gia. Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn học sinh nên duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học. Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, do đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức mới. Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho học sinh, tăng cường khả năng giao tiếp và giúp các em rèn kỹ năng hợp tác. Có thể nói điều khiển tiến trình một cuộc chơi với học sinh lớp Một sao cho sôi nổi, sinh động, hấp dẫn lôi cuốn được tất cả các em tham gia chơi một cách thích thú nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu tiết học là không dễ. Vì nếu tổ chức sơ sài hoặc mang tính chất hình thức thì học sinh tham gia một cách miễn cưỡng, có em còn nhân dịp này để làm việc riêng, đùa giỡn gây mất trật tự lớp học. Còn nếu tổ chức quá chú trọng vào phần chơi mà quên đi phần học thì giáo viên sẽ khó mà quản lý lớp học đi đúng hướng. Một số trò chơi có thể áp dụng như: thi vẽ nhanh, vẽ đẹp, tưởng tượng từ hình có sẵn vào đầu, cuối tiết học hoặc trước khi thực hành. Đây chính là thời gian để các em luyện vẽ và tăng cường khả năng vẽ nhanh, vẽ đẹp và giúp các em phấn chấn tinh thần, hăng hái học tập hơn. Cách tiến hành như sau : Trò chơi Tưởng tượng từ hình có sẵn: Tôi vẽ lên bảng một số hình (có liên quan đến chủ đề đang học) .Yêu cầu các đội cử đại diện tham gia thi đua vẽ tiếp vào hình có sẵn để thành hình theo đúng chủ đề giáo viên yêu cầu. Ví dụ như chủ đề Con vật nuôi, giáo viên có thể vẽ lên bảng những hình con vËt. Từ những hình này, học sinh vẽ tiếp thành hình các con vật mà em thích như: con trâu, con heo, con mèo, con thỏ - Trò chơi : Ai nhanh hơn. Luật chơi: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên vẽ nhiều con vật nuôi ( hoặc vẽ một tranh). HS dưới lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi vẽ phải ngừng tay. Đội nào có học sinh vẽ nhanh, vẽ nhiều con vật (hoặc tranh đẹp nhất) là đội thắng cuộc Khi tổ chức trò chơi Tôi luôn đánh giá cao phần tham gia của các đội, không làm qua loa đại khái, có khen thưởng, tuyên dương kịp thời cũng là một biện pháp làm cho học sinh thêm tích cực vì em nào cũng thích được khen, được thầy cô quan tâm đến việc làm của mình. Bên cạnh đó luôn động viên những đội còn lại để các em cố gắng hơn ở lần sau. Sau mỗi lần chơi Tôi luôn nhận xét đánh giá kết quả của học sinh. Dựa vào yêu cầu, nội quy chơi, kết quả cuộc chơi Tôi đánh gía cuộc chơi và phân loại thắng thua thật công bằng, rõ ràng. Giáo viên phải hết sức lưu ý vấn đề này vì đôi khi có giáo viên nêu yêu cầu và luật chơi rất khắt khe nhưng khi đánh giá kết quả lại đại khái, không chính xác hoặc không công bằng vì vậy sẽ làm cho học sinh mất phấn khởi, đôi khi các em biểu lộ sự phản đối với sự đánh giá đó và không chấp nhận kết luận của giáo viên. Để đánh giá đúng thực chất của cuộc chơi tôi thống kê ra được những ưu điểm, nhược điểm của từng đội tham gia chơi. Tuy nhiên vẫn cần sự đánh giá nhẹ nhàng mang tính chất động viên, khích lệ là chính, tránh tình trạng đánh giá để các em buồn và xấu hổ với bạn bè khi không thắng trò chơi. Học sinh tích cực tham gia các hoạt động của nhóm hơn, nhiều em đã biết khắc phục và khắc phục được những hạn chế của bản thân, sáng tạo nhiều sản phẩm mĩ thuật độc đáo và đẹp mắt. Trang 12
- V. KẾT QUẢ SAU ÁP DỤNG GIẢI PHÁP: Qua việc học tập theo phương pháp mới giúp cho học sinh có được những trải nghiệm để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển sức sáng tạo và biểu đạt, vì vậy học sinh sẽ có được những hình ảnh và động lực mang tính tinh thần. Hạn chế được cảm giác lo sợ vì không biết vẽ. Học sinh được bồi dưỡng rèn luyện óc quan sát, cách so sánh sự vật hiện tượng, giúp các em tìm tòi thể hiện để vươn tới cái đẹp. Các em cảm nhận được cái đẹp và chưa đẹp một cách rõ ràng qua việc nhận xét hình ảnh, tranh vẽ Biết tạo ra các sản phẩm làm đẹp phục vụ cho sinh hoạt như: trang trí đồ vật, trang trí góc học tập Học sinh yêu thích môn học hơn, vẽ một cách say sưa hơn, hứng thú với nhiều sáng tạo, khiến cho tiết học trở nên thoải mái, nhẹ nhàng.Các em đã thấy tự tin khi vẽ, tạo được những câu chuyện ngộ nghĩnh. Số học sinh còn tẩy xóa bài vẽ giảm đi đáng kể, hiện tượng sao chép cũng không còn. Đặc biệt là không có học sinh nào không hoàn thành được bài thực hành theo nội dung yêu cầu của bài học. Tính sáng tạo, độc đáo được học sinh thể hiện qua từng chủ đề sinh động,phong phú và đa dạng. Những bức tranh có tạo hình tự tin, ngộ nghĩnh xuất hiện ngày càng nhiều. Điều quan trọng là giáo viên đã tạo được không khí hào hứng, say mê vẽ ở học sinh. Cụ thể kết quả như sau: Khảo s¸t ®Çu n¨n Khảo s¸t cuèi n¨n TS HS * Số học sinh còn thụ động trong * Số học sinh còn thụ động trong giờ giờ học : 32 em. học : 3 em. * Số học sinh còn nói chuyện nhiều * Số học sinh còn nói chuyện nhiều trong giờ học : 64 em. trong giờ học : 8 em. * Số bài vẽ còn giống nhau do sao * Số bài vẽ còn giống nhau do sao chép :47 bài. chép :0. * Số học sinh còn hay tẩy xóa, * Số học sinh còn hay tẩy xóa, không 215 em không hoàn thành được sản hoàn thành được sản phẩm :0. phẩm :13 em. * Số học sinh còn bị hạn chế khả * Số học sinh còn bị hạn chế khả năng giao tiếp và diễn đạt ngôn ngữ: năng giao tiếp và diễn đạt ngôn ngữ: 23 em. 0. * Số lượng sản phẩm hoàn thành tốt * Số lượng sản phẩm hoàn thành tốt và có tính sáng tạo :51 sản phẩm và có tính sáng tạo :94 sản phẩm Tiếp theo đó, kết quả đánh giá nhận xét học sinh ở học kì I đã thu được như sau: KIẾN THỨC – KỸ NĂNG : TS / TỶ LỆ TSHS Hoàn thành các nội Hoàn thành tốt các Hoàn thành tốt các nội 215 dung của môn học. nội dung của môn dung của môn học, tạo học,có sáng tạo. hình đẹp, sinh động. Trang 13

