Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3- 4 tuổi vùng dân tộc
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3- 4 tuổi vùng dân tộc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_cung_cap_von_tu_tieng.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3- 4 tuổi vùng dân tộc
- Xuất phát từ những quan điểm trên bản thân tôi là một giáo viên sống và dạy học ở vùng đặc biệt khó khăn và dạy lớp 3-4 tuổi mà ở trong lớp có 100% trẻ là dân tộc, đa số các cháu chưa qua lớp nhà trẻ, vốn từ Tiếng Việt ít, trẻ nói sai chính tả nhiều, tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: "Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3- 4 tuổi vùng dân tộc" để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Đó chính là lí do tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu và áp dụng trong năm học 2020- 2021 đối với công tác chăm sóc giáo dục của mình. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác tổ chức nội dung / nhiệm vụ mà giáo viên lựa chọn để giải quyết vấn đề. 1.1. Ưu điểm + Về phía trẻ: Ngay từ đầu năm học sinh lớp tôi rất ngoan, đi học chuyên cần. Năm học 2020- 2021, lớp 3-4 tuổi tôi được phân công phụ trách gồm có tổng số 31 trẻ các cháu ngoan ngoãn đạt yêu cầu về thể chất, nhận thức đó là một thuận lợi để tôi cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động học, chơi, ở mọi lúc mọi nơi trong ngày. + Về phía giáo viên: Bản thân tôi một giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, luôn có tinh thần trách nhiệm và đầy lòng nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tôi xác định được mục đích, ý nghĩa tầm quan trọng của việc cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ và tìm ra giải pháp phù hợp nhất. Tôi thường xuyên tiếp xúc với người dân tộc nên nên tôi hiểu việc bất đồng ngôn ngữ sẽ rất khó cho việc dạy học, giao tiếp giữa cô và trò, tôi biết được những từ trẻ thường nghe khó, những từ trẻ thường nói sai hoặc hiểu sai hay những từ trẻ bị ngọng, chính vì vậy tôi muốn cung cấp vốn Tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng phát âm sửa ngọng cho trẻ em dân tộc. + Về phía phụ huynh:
- Tuy là vùng sâu, vùng xa xong phụ huynh học sinh cũng đã quan tâm và trú trọng đến nhắc nhở, rèn luyện cho con em mình khi ở nhà. Đó là điều rất thuận lợi góp phần giúp giáo viên cùng rèn luyện dạy trẻ đạt được hiệu quả cao. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên: Bản thân tôi là giáo viên người dân tộc kinh, nên khi vào đầu năm học việc truyền thụ kiến thức bằng tiếng việt cho 100% trẻ trong lớp là dân tộc thiểu số như: Dao, tày, nùng, gặp nhiều khó khăn. 1.2.2. Trẻ em Trẻ có vốn Tiếng Việt ít, chưa phong phú, vì hàng ngày khi ở nhà các con chủ yếu là nghe những người thân trong gia đình và những người hàng xóm xung quanh nói bằng tiềng dân tộc của địa phương. 1.2.3. Phụ huynh (Cha mẹ/ người chăm sóc trẻ) Sự quan tâm của gia đình đối với các cháu là không đồng đều, một số phụ huynh còn trẻ đi làm công ty xa để con ở nhà cho ông bà, hầu hết các phụ huynh là người dân tộc thiểu số nhiều nên vốn Tiếng Việt của nhiều phụ huynh vẫn còn hạn chế, phụ huynh phát âm Tiếng Việt cũng chưa được chính xác. Qua thực tế cho thấy phụ huynh đa số giao tiếp với nhau, với trẻ bằng tiếng dân tộc của địa phương là chính. 1.2.4. Cơ sở giáo dục mầm non Trường mầm non Hữu sản là một trong những trường nằm trong các xã đặc biệt khó khăn nằm cách xa trung tâm huyện gần 20km, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, số lượng đồ dùng, đồ chơi, các tài liệu liên quan đến các phong tục tập quán, ngôn ngữ của các dân tộc phục vụ cho các hoạt động tuyên truyền về ngôn ngữ Tiếng Việt rộng rãi cho phụ huynh đã có song còn chưa phong phú đa dạng. 90% giáo viên trong trường là Tày nên việc truyền tải Tiếng Việt cho phụ huynh càng gặp nhiều khó khăn hơn.
- 1.2.5. Các hạn chế khác Năm học 2020-2021 do ảnh hưởng của đại dịch covid 19 học sinh mầm non phải nghỉ học ở nhà, Tuy nhiên trong thời gian trẻ nghỉ dịch nhưng vẫn được học qua các video hướng dẫn của các cô gửi qua nhóm zalo, Facebok cho các con nhưng do trẻ hiếu động, nhận thức của từng trẻ khác nhau nên đến khi được đi học trở lại thì vốn từ Tiếng Việt lại bị hạn chế hơn so với học trên lớp. 2. Biện pháp: "Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc" 2.1. Biện pháp 1: Tạo hứng thú cho trẻ đi học chuyên cần 2.1.1. Nội dung biện pháp Ngay từ đầu năm học tôi lên kế hoạch để duy trì sĩ số học sinh, duy trì tỉ lệ các cháu đi học chuyên cần 99%. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã huy động phụ huynh động viên trẻ đến trường, tuyên truyền cho cha mẹ trẻ về nội dung của các môn học, các hoạt động ở bậc học mẫu giáo nhất là lớp 3-4 tuổi, đó là gốc rễ, nền móng cho các cháu trong chương trình của mẫu giáo sau này. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Phải làm sao để các cháu thực sự thích đến lớp mỗi ngày để các cháu được tiếp thu, được lĩnh hội đầy đủ kiến thức, trong khi các cháu phần đông là năm đầu đi học mẫu giáo lớp 3 tuổi mà không qua lớp nhà trẻ rồi ngôn ngữ Tiếng Việt của các cháu thì hạn chế, bố mẹ đưa đến lớp các cháu còn khóc nhè đòi về, cô dỗ cháu không hiểu tiếng kinh, nên không nín. Phụ huynh thì chiều con thấy con khóc thì không muốn cho con học nữa, trước cách nghĩ đó tôi thật sự rất lo lắng tôi đã tự nhủ mình phải thu hút được các cháu đến lớp đã sau đó rồi tính tiếp, hàng ngày phụ huynh đưa trẻ đến lớp tôi trò chuyện với họ, kể cho họ nghe một số trường hợp các cháu chưa được đi học qua nhà trẻ thì hay quấy khóc và mức độ nhận thức và thực hiện các hoạt động chậm hơn không theo được các bạn trong lớp. Tôi cũng đưa ra một số gương mặt các cháu đi học chuyên cần và được đi học qua nhà trẻ thì mạnh dạn, hoạt động nhanh nhạy hơn như cháu
- Ngọc, Thảo Ly, Trường An, Về phía các cháu trong thời gian cô trò chuyện với phụ huynh thì cháu cũng nguôi ngoai, không khóc nữa và thấy cô trò chuyện thân mật với bố, mẹ mình thì hình như cháu có cảm giác an toàn, tự tin hơn, lúc bố mẹ trẻ giao trẻ cho tôi để ra về thì trẻ ngoài nhìn theo và mếu máo nhưng bằng tình yêu thương, nhiệt tình, một chút kinh nghiệm sẵn có của mình tôi ôm trẻ vào lòng, xoa đầu và ân cần, bảo trẻ nín đi chiều mẹ đến đón về, giờ con hãy giúp cô xếp ghế, cho các bạn cùng ngồi, giúp cô trải chiếu, lấy đồ chơi, lấy kéo cắt hình bông hoa, tô màu cái ô tô này cho đẹp chiều mang về cho mẹ xem vậy là trẻ khuây khỏa và quên đi cảm giác sợ hãi, rụt rè, yên tâm ngồi làm những việc cô nhờ, hết việc này tôi lại bày việc khác cho cháu và tôi không quên xen kẽ các cháu mạnh dạn để chơi cùng cháu nhút nhát. Đến cuối buổi học thời điểm bố mẹ các cháu sắp đến đón cháu về tôi lấy những món đồ chơi mới ra Ví dụ: Bịch bóng bay, búp bê với chén muỗng đồ chơi, ô tô nói với trẻ là các con có còn thích chơi với những đồ chơi này không? Nhưng giờ đã đến giờ bố mẹ các con đón về rồi vậy sáng mai các con nhớ bảo bố mẹ đưa đến lớp sớm để cùng chơi với cô nhé Những việc làm đó thật đơn giản nhưng với những trẻ không hiểu tiếng kinh thì với tôi đó lại là một thách thức lớn bởi bản thân tôi là một giáo viên người kinh vậy nên để làm được điều đó tôi đã phải nhờ cô giáo Lý (cùng chủ nhiệm lớp với tôi) nói giúp tôi một số tiếng dân tộc như: “Nín đi, đừng khóc nữa, học ngoan chiều bố mẹ đón về, muốn đi tiểu con hãy xin cô, lúc vào học không được nói chuyện .” . Những việc làm đó tôi luôn thực hiện thường xuyên, xen kẽ một cách sáng tạo đi kèm những lời nói, việc làm đó ngoài tình yêu thương trẻ như con cháu của mình rồi thì cần phải mày mò làm thêm đồ dùng đồ chơi lạ mắt, bữa thì những con bướm, con trâu làm từ lá cây, bữa thì thiết kế trang phục cho trẻ làm người mẫu để cô đo đo, cắt cắt để cố tình cho trẻ đứng đợi cô mà quên đi sự nhút nhát e dè, nhớ bố mẹ.
- Cô giáo đón trẻ còn khóc trong đầu năm 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Với biện pháp như vậy kết quả thật đáng ghi nhận là trẻ sau bốn tuần đến lớp đã không khóc nữa, qua trò chuyện với phụ huynh tôi được biết trẻ về nhà không còn sợ phải đến lớp như trước nữa mà cháu thích thú khi bố, mẹ chuẩn bị chở đi học, không còn đòi quà bánh trước khi vào lớp, đến lớp cháu biết chào cô đi cất đồ dùng cá nhân đúng chỗ và vào chơi cùng các bạn một cách hòa đồng.
- Trẻ hòa đồng cùng cô và các bạn Trẻ làm đồ chơi cùng cô và bạn 2.1. Biện pháp 1: Điều tra ban đầu 1.1. Nội dung biện pháp Thông qua trò chuyện trong quá trình giao tiếp một học kỳ 1 với trẻ phần nào tôi nắm được một số âm, dấu mà trẻ thường nói ngọng, nói chưa rõ và từ đó rút ra kết luận trẻ nói ngọng tương đối nhiều, vốn từ của trẻ bị hạn chế nhất là các chữ cái d, r, l, n, s, x các "dấu ngã" và "dấu sắc", so với cách phát âm của học sinh mẫu giáo. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Các câu hỏi gợi ý, trò chuyện với trẻ để tìm hiểu một nội dung chủ đề nào đó là những lúc tận dụng cơ hội tốt nhất, hiệu quả nhất cho việc cung cấp vốn từ Tiếng Việt, luyện phát âm chuẩn, nói đúng chính tả vì nội dung hầu hết trẻ đã nắm được thông qua hoạt
- động học, cách này không kéo dài sẽ lãng phí thời gian, tăng cường cho luyện tập một cách thoải mái tự nhiên không bị gò ép. Để làm tăng vốn từ cho trẻ, kĩ năng nói chuẩn và để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ đạt kết quả cao, giáo viên cần thường xuyên trò chuyện gây hứng thú trong học tập, vui chơi cho các cháu. Từ đó giúp trẻ nắm vững nội dung ngữ âm, nghĩa của từ gắn với lời nói. Tôi so sánh để phân biệt những trường hợp dễ lẫn lộn từ hay câu của các cháu. Ví dụ: Lung linh - nung ninh Nhún nhẩy - dún dẩy hoặc: Trời - giời Do môi trường ngôn ngữ nói của địa phương trẻ còn bị ngọng dấu thanh, cháu không phân biệt được thế nào là đúng, thế nào là sai vì đặc điểm của trẻ là hay bắt chước và bắt chước rất nhanh do nói nhiều nên đã trở thành thói quen. Ví dụ: Đọc thơ: “Em vẽ” cháu đọc thành “Em vé” Đọc từ: “Em ngã” đọc thành “Em ngá” Đọc từ : “Con chó” trẻ đọc thành “Con chỏ”. Mặt khác tôi luôn năng động, sáng tạo trong giảng dạy. Lập danh sách những từ trẻ hay nói sai hoặc nói chưa đúng để luyện tập phù hợp với trẻ ở địa phương mình. Cho trẻ đặt câu với những từ dễ mắc lỗi hoặc có thể đưa ra những đoạn thơ, câu đố, cuộc trò chuyện ngắn về gia đình trẻ trong đó có nhiều từ trẻ hay nói sai để trẻ tự mình sửa lỗi, tìm hiểu nguyên nhân nói sai của trẻ và sửa lại cho đúng. Thực tế cho thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy tôi tiến hành cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ thông qua mọi lúc mọi nơi. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn từ Tiếng Việt bằng phương châm "mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng Việt ở mọi lúc mọi nơi vô cùng hiệu quả. Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở mỗi góc tôi dạy trẻ phát âm nhiều lần như vậy trẻ lớp tôi phát âm chuẩn hơn
- và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, trẻ biết chỉ cho trẻ chưa biết, hoặc trẻ chủ động mạnh dạn đến hỏi cô, trẻ lớp tôi không còn rụt rè như trước nữa. Ngoài ra trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng giao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát hơn. Trẻ giao tiếp với nhau trong góc sách Giờ vui chơi tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, trẻ được giao lưu trao đổi mua bán và thể hiện hết vai chơi của mình, bên cạnh đó tôi luôn theo sát trẻ để kịp thời sửa sai uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không trọng tâm hay trẻ dùng tiếng mẹ đẻ. Chính nhờ vậy mà lớp tôi đa số trẻ biết dùng từ diễn đạt thành câu có ý nghĩa trong giao tiếp với bạn và với cô. 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Sau khi tiến hành điều tra tôi đã thu lại được kết quả như sau: Bảng điều tra ban đầu
- Nội dung Kết quả Số trẻ Tỷ lệ % Trẻ phát âm sai dấu thanh 25/31 80,6% Trẻ đọc ngọng các từ, âm 27/31 87% Vốn từ Tiếng Việt của trẻ 5/31 16% Từ kết quả trên cho thấy vốn từ của trẻ còn nhiều hạn chế, vấn đề đặt ra là nếu cô giáo và cha mẹ trẻ không quan tâm đến việc điều chỉnh và có những biện pháp tác động để dạy trẻ ngay từ độ tuổi 3 tuổi thì ngôn ngữ của trẻ mãi không được hình thành và phát triển. Điều này sẽ trở thành gánh nặng cho trẻ ở các lứa tuối cao hơn. 2.1. Biện pháp 2: Cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động làm quen với văn học. 2.1.1. Nội dung biện pháp Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kĩ năng chú ý nghe và phát âm thông qua hoạt động làm quen với văn học là vô cùng cần thiết. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp. Muốn trẻ giao tiếp, tiếp thu được kiến thức cô giáo truyền thụ trước hết thì trẻ phải nghe hiểu được yêu cầu của cô giáo nên việc giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống là vấn đề cần thiết. đối với trẻ 3 tuổi môn văn học là môi trường, mà trẻ có cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhiều nhân vật trong thơ, chuyện qua tên các nhân vật trẻ được gọi tên, được đọc, được thể hiện lời thoại và được phát triển ngôn ngữ, với đặc điểm tình hình trẻ lớp tôi phần đông là học sinh người dân tộc thiểu số nên mỗi lúc lên kế hoạch tôi đã chú ý tới việc lựa chọn những bài thơ, câu chuyện không quá dài, nội dung dễ hiểu,nhân vật gần
- gũi với trẻ vì vốn từ cũng như thời gian tập trung chú ý của các cháu không được như những trẻ người kinh, khi lên tiết tôi luôn tạo tình huống bất ngờ để thu hút trẻ trẻ tập trung chú ý, khơi gợi ở trẻ tính tò mò dể tạo tâm thế cho trẻ trước khi vào học. trước lúc vào giờ học tôi trò chuyện dẫn dắt trẻ bằng những câu hỏi gần gũi, thân thiện vào bài một cách nhẹ nhàng không gây áp lực cho trẻ, trong quá trình đọc, kể tôi thường dừng lại trực tiếp ở những câu, từ khó để giải thích cho trẻ hiểu ngay trong quá trình tôi đọc một cách kịp thời, kết hợp tranh, ảnh, đồ dùng trực quan để giải thích là một cách làm tôi thấy rất hiệu quả, ngoài ra tôi không quên phối hợp các động tác minh họa đơn giản phù hợp, và tôi cho trẻ thực hiện động tác minh họa cùng với cô nhằm lôi cuốn, khích lệ trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô mà không bị mệt mỏi, uể oải, có thể nói đó là chất xúc tác, tiếp sức cho các cháu một cách hiệu quả. Ví dụ: Khi tôi kể chuyện cáo, thỏ gà trống cho các cháu nghe đến những lời thoại các nhân vật tôi cho trẻ nói theo như “Gâu gâu cáo ở đâu” của bầy chó. “Cúc cù cu cu cu của anh gà trống tôi cho trẻ nói và làm điệu bộ và trẻ đã rất thích. Khi đã lôi cuốn được sự chú ý của trẻ tôi tiến hành các công việc tiếp theo và không quên gọi những cháu đọc từ, đọc câu với nhiều hình thức như là tôi đố trẻ, gợi ý cho trẻ, cho các cháu thi đua, cho trẻ nói tiếp và tất nhiên là sử dụng những câu từ gần gũi, cụ thể để giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để trẻ có thể tiếp thu một cách nhẹ nhàng sau đó tôi cho trẻ nói tên nhân vật trong thơ, chuyện qua tranh ảnh, và không quên khuyến khích trẻ bằng những món quà hay những tràng pháo tay động viên. Ngoài việc cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trong tiết dạy chính tôi còn tích hợp, lồng ghép trong các hoạt động giáo dục khác như: Hoạt động tạo hình, hoạt động khám phá khoa học, hoạt động giáo dục âm nhạc Trong các giờ học việc cung cấp vốn từ cho trẻ thông qua các hình thức giới thiệu bài, củng cố hay chuyển tiếp giữa các phần trong tiết dạy. Với việc lồng ghép các các hoạt động giáo dục khác khi tiến hành cung cấp vốn từ cho trẻ đã giúp các hoạt động học của tôi diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái không bị gò bó trẻ
- hứng thú rất nhiều khi tham gia hoạt động góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục. Trẻ mạnh dạn trả lời câu hỏi khi học thơ, truyện cùng cô 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Qua các tác phẩm văn học bài thơ, câu truyện, ca dao, đồng dao mà tôi cho trẻ học học sinh lớp tôi đã ngày càng mạnh dạn, tự tin, ham thích học thơ, kể chuyện và nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh qua những việc làm đó, vốn từ học sinh được tăng lên rất nhiều so với trước, trẻ nghe, hiểu được lời của cô, nắm được yêu

