Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo về giáo dục môi trường cho học sinh ở trường Tiểu học Tả Thanh Oai
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo về giáo dục môi trường cho học sinh ở trường Tiểu học Tả Thanh Oai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_chi_dao_ve_giao_duc_m.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo về giáo dục môi trường cho học sinh ở trường Tiểu học Tả Thanh Oai
- 3 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp về hoạt động và giảng dạy giáo dục môi trường cho học sinh trường Tiểu học Tả Thanh Oai. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục môi trường. Điều tra thực trạng việc giáo dục môi trường và đề xuất một số giải pháp. 5. Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng khảo sát giáo viên và học sinh trong nhà trường. Địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học Tả Thanh Oai Thời gian nghiên cứu: Tháng 9/2021 - Tháng 4/2022 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp các vấn đề rèn kĩ năng sống hiện nay để đề ra các biện pháp dạy học phù hợp nhất. 6.2. Các phương pháp dạy học: Phương pháp hỏi đáp; Phương pháp nêu vấn đề; Phương pháp trực quan; Phương pháp thảo luận nhóm; ... 6.3. Các phương pháp nghiên cứu thực tế: Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm. Tiến hành xem xét thực trạng về giáo dục môi trường cho học sinh. 6.4. Các phương pháp khác: Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu và so sánh, phân tích các kết quả nghiên cứu. 7. Cấu trúc của SKKN: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Mục lục, SKKN gồm có 3 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục môi trường cho học sinh trong nhà trường Chương 2. Thực trạng của vấn đề giáo dục môi trường cho học sinh trong nhà trường Chương 3. Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục môi trường cho học sinh trong nhà trường
- 4 Phần II. NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC CHỈ ĐẠO GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Cơ sở khoa học 1.1. Căn cứ vào Mục tiêu giáo dục Tiểu học Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển những nhiệm vụ lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản cho học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở. 1.2. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục môi trường ở Tiểu học Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù hợp. Hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. Giúp học sinh có khả năng ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày, giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành. Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. 1.3. Căn cứ vào nhiệm vụ năm học Thực hiện theo công văn số 3078/SGD - GDPT ngày 31/8/2021 của Sở GD&ĐT về việc HD thực hiện nhiệm vụ năm học 2021 - 2022 cấp tiểu học; Thực hiện theo công văn số 532/PGD - ĐT Thanh Trì ngày 01/9/2021 của Phòng GD&ĐT về việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2021 - 2022; Thực hiện theo công văn số 622/KH - PGD - ĐT về việc tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu ngành GD - ĐT năm học 2021 - 2022; 1.4. Căn cứ đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học 1.4.1. Tri giác: Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học là tươi sáng. Trong quá trình học tập tri giác là một hoạt động trở nên sâu sắc và phức tạp, trở thành một hoạt động có phân tích, phân biệt hơn. Từ những đặc điểm tri giác trên cho thấy tri giác của trẻ không tự nhiên mà có. Điều đó yêu cầu người giáo viên không chỉ dạy cho trẻ em nhìn, xem, mà còn phải dạy cho trẻ nhận xét và biết lắng nghe, dạy trẻ vạch ra những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất, rèn luyện cho trẻ phân tích những đối tượng tri giác một cách có hệ thống và có kế hoạch. Đây cũng chính là cơ sở để đưa ra các biện pháp nhằm phát triển năng lực cho học sinh. 1.4.2. Khả năng chú ý: Học sinh Tiểu học cùng một lúc các em chưa chú ý đến được nhiều đối tượng và sự phát hiện cũng chưa cao nên việc duy trì sự tập
- 5 trung chú ý trong khoảng 40 phút trong mỗi giờ học thường bị phá vỡ bởi những việc riêng. Do đó để phát triển khả năng chú ý cho học sinh, giáo viên nên phối hợp linh hoạt các biện pháp, các con đường tiếp cận khác nhau. 1.4.3. Trí nhớ: Trẻ em Tiểu học có trí nhớ tốt, cả ghi nhớ chủ định và không chủ định đều đang phát triển, ở cuối bậc tiểu học ghi nhớ chủ định của các em phát triển mạnh. Điều này cho ta thấy việc rèn luyện thường xuyên là rất cần thiết. 1.4.4. Tưởng tượng: Tưởng tượng của các em được hình thành trong quá trình học tập. Hình ảnh tưởng tượng của các em còn giản đơn và không bền vững. Hình ảnh tưởng tượng của các em bền vững và gần thực tế hơn khi các em bắt đầu dựa trên những tri giác đã có từ trước và vốn ngôn ngữ. 1.4.5. Tư duy: Tư duy của trẻ em chuyển dần từ trực quan cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát nhờ vào khả năng ngôn ngữ. Tư duy ở cấp độ cao được xác lập khi trẻ em đã thay thế công cụ tư duy từ vật thật, hình ảnh cụ thể sang cấp độ tư duy ngôn ngữ. Từ đặc điểm này của học sinh chúng ta có thể xác lập được một hệ thống bài dạy phù hợp với sự phát triển tư duy của các em. 1.4.6. Tình cảm: Tình cảm của học sinh mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc. Tình cảm đó được biểu hiện trong đời sống hàng ngày và cả trong hoạt động tư duy. Tình cảm đời sống thể hiện ở việc các em chăm lo đến kết quả học tập, hài lòng khi có kết quả tốt và ngược lại các em sẽ buồn bực lo lắng nếu như kết quả không cao. Tình cảm trí tuệ của các em thể hiện ở sự tò mò tìm hiểu thế giới sự vật xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình. 2. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 2.1. Biện pháp: Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. 2.2. Giáo viên: Những người trực tiếp hoặc gián tiếp giảng dạy kiến thức. 2.3. Giáo dục môi trường: Là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái. Kết luận chương 1 Việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong nhà trường hiện nay là nhiệm vụ quan trọng của mỗi giáo viên. Việc làm này luôn cần thiết để giúp các em hình thành, phát triển và hoàn thiện về nhân cách để tiếp tục học ở các lớp trên. Do đó cần có sự hợp tác từ phía nhà trường lẫn bậc phụ huynh để định hướng cho các em một cách tốt nhất. Nội dung giáo dục môi trường đang được đẩy mạnh và được chú trọng. Chính vì thế giáo viên có nhiệm vụ rất lớn trong việc giáo dục môi trường cho các em hàng ngày.
- 6 Chương II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC TẢ THANH OAI 1. Vài nét khái quát về nhà trường Những năm học gần đây, phong trào học tập và các hoạt động khác diễn ra sôi nổi, đạt được nhiều thành tích rất đáng trân trọng. Về giáo dục đạo đức: Nhà trường đã thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng “Nhà trường văn hoá - nhà giáo mẫu mực - học sinh thanh lịch”, đặc biệt là cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”,... tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Về giáo dục văn hóa: Tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt ngày càng tăng và giảm đáng kể tỉ lệ học sinh chưa đạt yêu cầu. Về giáo dục văn thể mĩ: Quan tâm đến nhiều hoạt động cho các em như tổ chức tốt buổi Tết Trung thu cho học sinh; Vẽ tranh với các chủ đề như môi trường quanh em; chủ đề về ngày Tết; ...; Văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11; Ngày hội đọc sách; Tuyên truyền vệ sinh và phòng chống các dịch bệnh; Chương trình giáo dục đạo đức lối sống; Phong trào Tết trồng cây ... đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng mỗi học sinh. 2. Thực trạng nhà trường 2.1. Thuận lợi: Ban giám hiệu luôn chỉ đạo sát sao các mặt hoạt động ở tất cả các khối lớp. Đại đa số giáo viên nhà trường nhiệt tình, tâm huyết với nghề dạy học, luôn đổi mới phương pháp dạy học. Nhà trường đã trang bị thêm sách tham khảo phục vụ cho việc giáo dục môi trường được thuận lợi. 2.2. Khó khăn với giáo viên: Đội ngũ giáo viên còn một số chưa có nhiều kinh nghiệm giáo dục môi trường nên còn gặp những khó khăn nhất định. Bên cạnh đó có nhiều giáo viên trẻ, kinh nghiệm dạy học ít nên khi dạy chưa liên hệ mở rộng được các kiến thức thực tế để phát huy hết năng lực cho học sinh. Nhiều giáo viên nắm chắc kiến thức cơ bản nhưng kiến thức về môi trường còn thiếu hụt nhiều nên dạy lồng ghép giáo dục môi trường còn qua loa,... Qua thăm lớp và dự sinh hoạt chuyên môn của giáo viên ở trường, tôi nhận thấy vẫn có những giáo viên chưa thực sự quan tâm việc giáo dục môi trường cho học sinh. Sau đây là bảng thống kê kết quả khảo sát thực tế giáo dục môi trường của giáo viên trong nhà trường: Quan tâm giáo dục Ít quan tâm giáo Không quan tâm Số GV môi trường dục môi trường SL % SL % SL % Khối 1: 12 10 83.3 2 16.7 0 0
- 7 Quan tâm giáo dục Ít quan tâm giáo Không quan tâm Số GV môi trường dục môi trường SL % SL SL % SL Khối 2: 13 11 84.6 2 15.4 0 0 Khối 3: 10 09 90 1 10 0 0 Khối 4: 12 11 91.6 1 8.4 0 0 Khối 5: 09 09 100 0 0 0 0 Theo bảng số liệu trên cho thấy tỉ lệ số giáo viên quan tâm giáo dục môi trường chưa cao. Nghĩa là giáo viên chỉ quan tâm dạy kiến thức cơ bản cho học sinh. Đối với phụ huynh: Một phần lớn phụ huynh học sinh chưa đủ trình độ dạy cho con về phát triển kĩ năng sống. Họ thường trông cậy vào nhà trường và giáo viên chủ nhiệm. Khó khăn với học sinh: Học sinh Tiểu học còn nhỏ tuổi, khả năng ứng phó với các tình huống trong cuộc sống còn kém. Kỹ năng ứng phó với môi trường còn hạn chế. Từ việc nhìn nhận thực tế của học sinh cho thấy việc giải quyết các tình huống đến với các em còn nhiều lúng túng, các em chưa biết giải quyết sao cho hợp tình hợp lý khi sự cố môi trường đưa đến. 3. Nguyên nhân thực trạng 3.1. Nguyên nhân khách quan: Nhà trường có nhiều giáo viên trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm sống nên việc giáo dục môi trường gặp nhiều hạn chế. 3.2. Nguyên nhân chủ quan: Một số ít giáo viên chưa cập nhật với sự đổi mới, đôi khi còn ngại khó, ngại khổ, chưa chú trọng giáo dục môi trường. Kết luận chương 2 Từ thực trạng trên ta thấy việc chỉ đạo giáo viên giáo dục môi trường cần chú ý tới các nội dung sau: Thứ nhất là bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, phát triển số lượng giáo viên có trình độ cao làm nòng cốt. Thứ hai là nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu, đồng thời có chính sách khen thưởng kịp thời đối với giáo viên có thành tích. Thứ ba là giáo viên và học sinh cần có: Kĩ năng sống phong phú. Biết vận dụng kiến thức kĩ năng sáng tạo vào cuộc sống. Để thực hiện được các nội dung trên chúng ta cùng tìm hiểu một số biện pháp giáo dục môi trường cho học sinh trong nhà trường ở chương 3.
- 8 Chương III MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG 1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch và triển khai kịp thời việc giáo dục môi trường ngay từ đầu năm học 1.1. Mục đích của biện pháp: Giúp giáo viên hiểu rõ và có định hướng ngay từ đầu trong việc giáo dục môi trường cho học sinh đạt hiệu quả khi tổ chức giảng dạy. 1.2. Biện pháp thực hiện: Để xây dựng kế hoạch khả thi, từ cuối tháng 8, Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên lên kế hoạch về chương trình giáo dục môi trường cho học sinh theo từng môn học, bài học, giáo dục qua các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa,.... Từ đó giúp giáo viên có kế hoạch và định hướng được việc giáo dục môi trường đối với học sinh của mình. Để làm tốt kế hoạch của mình, tôi yêu cầu các đồng chí giáo viên phải thực hiện đúng nội dung theo các yêu cầu như sau: 1. Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn. Bảo đảm trường an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn. 2. Tạo điều kiện cho học sinh tích cực, chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giữ gìn vệ sinh môi trường lớp học, nhà trường phù hợp với khả năng của mình. 3. Học sinh hiểu và có những việc làm tích cực góp phần xây dựng và bảo vệ môi trường ở mọi nơi, mọi lúc. 4. Rèn kĩ năng sống cho học sinh: Ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kĩ năng làm việc theo nhóm. Từ yêu cầu trên cần thực hiện tốt các hoạt động sau: - Hàng tuần, đồng chí tổng phụ trách Đội phân công cho học sinh tổng vệ sinh, tưới cây, lượm rác trong và ngoài trường hàng ngày vào buổi sáng sau khi vào học và sau giờ chơi. - Trang trí lớp học, bố trí cây xanh tạo không gian mát mẽ, gần gũi thân thiện, góp phần giúp học sinh hứng thú, tích cực trong học tập. - Phát động phong trào sử dụng chai nước suối đã qua sử dụng tái chế thành lọ đựng cây cảnh treo lên và cho học sinh thường xuyên chăm sóc để giáo dục ý thức thân thiện với cây xanh,với cuộc sống. - Tiếp tục tổ chức các hội thi vẽ tranh cấp trường với chủ đề: “Vì môi trường cuộc sống xanh - sạch - đẹp”. - Xây dựng góc tuyên truyền về Môi trường: Tổ chức thực hiện bảng tin với hình ảnh, khẩu hiệu hoặc tranh biếm họa về Môi trường, bản tin phát thanh
- 9 học đường, thực hiện bảng tin hàng ngày trong khuôn viên trường. - Tiếp tục thực hiện tốt khẩu hiệu“Trường em xanh - Thân thiện”. - Giáo dục học sinh thực hiện Môi trường sạch đẹp vào những giờ sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, sinh hoạt tập thể, lồng ghép trong các bài học. - Thực hiện giảng dạy theo hướng lồng ghép vào tất cả các môn học liên quan mà có thể lồng ghép được như: Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Hoạt động trải nghiệm, và gắn vào từng bài cụ thể theo chương trình mà Bộ GD quy định. Kết hợp sử dụng các tài liệu để nâng cao chất lượng giáo dục Môi trường cho học sinh xuyên suốt trong cả năm học. - Trong soạn giáo án: giáo viên đưa nội dung giáo dục môi trường vào giáo án để giảng dạy cho học sinh. - Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động tập thể giáo viên cần giáo dục bảo vệ Môi trường cho các em. - Tổ trưởng cùng giáo viên trong khối rà soát thống nhất nội dung chương trình để dạy lồng ghép giáo dục bảo vệ Môi trường vào các bài học. Khi xây dựng kế hoạch giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh các kĩ năng cần thiết như: Kỹ năng thích ứng với môi trường. Kỹ năng giải quyết vấn đề. Kỹ năng làm việc nhóm. Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả. Kỹ năng tự chăm sóc bản thân. Kỹ năng cứu thương. Kỹ năng giải quyết vấn đề,... (Chương trình và kế hoạch giáo dục môi trường xem ở phần phụ lục) 2. Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên tổ chức việc giáo dục môi trường lồng ghép vào một số môn học như Tiếng Việt; Đạo đức; Tự nhiên và xã hội; Hoạt động trải nghiệm;... 2.1. Mục đích của biện pháp: Giúp giáo viên hiểu việc tổ chức dạy lồng ghép vào các môn học nhằm phát triển toàn diện năng lực cho học sinh với những phương pháp dạy học mang tính thực hành như thông qua trò chơi, hoạt động trải nghiệm, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn,... 2.2. Biện pháp thực hiện: Giáo viên nắm chắc các môn học lồng ghép * Môn Tiếng Việt: Đây là một trong những môn học có khả năng giáo dục môi trường cao, ở một số bài học đều có thể tích hợp giáo dục môi trường. Các yêu cầu cần thiết giáo dục môi trường ở môn Tiếng Việt đó là: Xuất phát từ thực tế cuộc sống: Sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục tiểu học: Giáo dục con người toàn diện. Xuất phát từ đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. Xuất phát từ thực tế dạy học Tiếng Việt. Nội dung giáo dục môi trường môn Tiếng Việt: Thường kết hợp với kĩ năng sống của bản thân đó là Kĩ năng sống đặc thù, thể hiện ưu thế của môn
- 10 Tiếng Việt: Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng nhận thức (gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức, ra quyết định,...) là những kĩ năng mà môn Tiếng Việt có nhiều ưu thế. Về kiến thức: Hiểu biết về một số cảnh quan thiên nhiên, về cuộc sống gia đình, nhà trường và xã hội gần gũi với học sinh. Về thái độ, tình cảm: Hình thành những thói quen, thái độ ứng xử đúng đắn và thân thiện với môi trường xung quanh. Về kĩ năng, hành vi: Giáo dục lòng yêu quý, ý thức bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp qua các hành vi ứng xử cụ thể: Bảo vệ cây xanh, giữ gìn vệ sinh môi trường và danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước; Bước đầu biết nhắc nhở mọi người bảo vệ môi trường để làm cho cuộc sống tốt đẹp. Mục tiêu giáo dục môi trường ở cấp tiểu học qua môn Tiếng Việt Về kiến thức: Hiểu biết: Qua ngữ liệu dùng để dạy các kĩ năng đọc (Học vần, Tập đọc), viết (Chính tả, Tập viết, Tập làm văn), nghe - nói (Kể chuyện). Về "Thái độ, tình cảm" và "Rèn kĩ năng, hành vi" Khi nói đến giáo dục bảo vệ môi trường ở tiểu học là nói đến: Giáo dục bảo vệ môi trường tự nhiên (thiên nhiên) Giáo dục bảo vệ môi trường xã hội về cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Ví dụ: Ở môn Tập đọc lớp 3 khi dạy bài: “Bài hát trồng cây” giáo viên có thể lồng ghép kiến thức vào bài dạy về bảo vệ môi trường cho các em bằng cách hỏi học sinh trồng nhiều cây xanh có lợi ích gì cho môi trường? Dự định sắp tới em sẽ trồng cây gì, trồng ở đâu? Hoặc khi dạy bài: “Con cò” giáo viên dạy lồng ghép giáo dục các em phải bảo vệ loài cò vì loài cò đã làm cho khung cảnh thiên nhiên của đồng quê tươi đẹp, thanh bình, êm ả, đem lại cho con người cuộc sống thư thái, yên bình. Từ đó giáo dục các em biết bảo vệ loài vật chính là biết bảo vệ thiên nhiên. Hay khi dạy bài chính tả: “Cánh cam lạc mẹ” ở lớp 5 giáo viên cũng có thể lồng ghép được các con vật tuy bé nhỏ ở xung quanh ta nhưng chúng rất có ích cho môi trường sống và rất đáng yêu với con người. Chính vì thế chúng ta cũng cần bảo vệ chúng. Khi giảng dạy giáo viên cần chú ý có những câu hỏi định hướng, liên hệ cụ thể về bảo vệ môi trường để giáo dục cho học sinh của mình. Cần chú ý với học sinh lớp 1, lớp 2 câu hỏi đưa ra cho các em sẽ ở mức độ thấp hơn so với các lớp trên, chủ yếu dựa vào trải nghiệm thực tế của học sinh là chính. Ví dụ đối với lớp 1 khi dạy bài: “Cùng vui chơi” giáo dục học sinh biết bảo vệ môi trường ở nơi công cộng (không bẻ cành, bứt lá, không vứt rác
- 11 bừa bãi,...) bằng các câu hỏi thực tế qua một số trò chơi gây hứng thú cho các em như: Vì sao khi đến công viên em không được hái hoa? Khi đến chỗ công cộng, giấy bọc bánh kẹo khi ăn xong phải để ở đâu?... Đây là những câu hỏi thực tế có tác dụng giáo dục các em rất lớn trong việc bảo vệ môi trường. So với cách dạy trước, kiến thức mỗi bài dạy được mở rộng hơn nhiều, hiệu quả bài dạy chắc chắn đem lại nhiều điều tốt cho các em, học sinh hứng thú tham gia học tập tìm hiểu và các kiến thức của bài học sẽ gần với thực tế đời sống của các em hơn. * Môn Đạo đức: Giáo dục cho học sinh bước đầu biết sống và ứng xử phù hợp với các chuẩn mực, biết nhận thức hành vi chuẩn mực. Mục tiêu: Hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. Phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh. Rèn cho học sinh biết cách tự phục vụ bản thân, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường, biết cách giao tiếp và ứng xử phù hợp trong cuộc sống hằng ngày, biết cách phối hợp công việc của từng cá nhân khi làm việc đồng đội. Rèn cách sống tích cực, chủ động. Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức. Môn đạo đức ở tiểu học giúp học sinh có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và chuẩn mực hành vi mang tính pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong quan hệ của các em với bản thân; với người khác; với công việc; với cộng đồng, đất nước nhân loại; với môi trường tự nhiên. Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học nhằm: Làm cho học sinh bước đầu biết và hiểu: - Các thành phần môi trường và quan hệ giữa chúng: Đất, nước, không khí, ánh sáng, động vật, thực vật. - Mối quan hệ giữa con người và các thành phần môi trường. - Ô nhiễm môi trường. - Biện pháp bảo vệ môi trường xung quanh (nhà ở, trường, lớp học, thôn xóm, bản làng, phố phường,...). * Học sinh bước đầu có khả năng: - Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi ( trồng, chăm sóc, bảo vệ cây; làm cho môi trường xanh, sạch, đẹp...). - Sống hoà hợp, gần gũi, thân thiện với tự nhiên. - Sống tiết kiệm, ngăn nắp, vệ sinh, chia sẻ, hợp tác. - Yêu quý thiên nhiên, gia đình, trường lớp, quê hương, đất nước. - Thân thiện với môi trường. - Quan tâm đến môi trường xung quanh.
- 12 * Dạy học tích hợp, lồng ghép giáo dục môi trường vào môn đạo đức làm cho học sinh nhận biết được vai trò của môi trường đối với cuộc sống con người, sự cần thiết phải bảo vệ môi trường đồng thời rèn hành vi ứng xử đúng đắn, thân thiện , khoa học đối với môi trường, hình thành nếp sống, sinh hoạt, học tập ngăn nắp, sạch sẽ, gọn gàng và tiết kiệm. Đồng thời tích cực tham gia các hoạt động chăm sóc, bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi. * Phương pháp và các hình thức giáo dục môi trường qua môn đạo đức: - Giáo dục môi trường trong môn đạo đức có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học đa dạng như: - Trong dạy học tích hợp giáo dục môi trường qua môn dạo đức cần theo hướng giáo dục quyền trẻ em và tiếp cận kĩ năng sống. - Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh qua các phương pháp dạy học phù hợp như trò chơi, thảo luận nhóm, thực hành, dự án, đóng vai, động não,...và các phương pháp đặc thù của môn học. - Chú trọng tổ chức dạy học trong môi trường tự nhiên và gắn với thực tiễn cuộc sống. * Mức độ tích hợp giáo dục môi trường qua môn đạo đức: Mức độ toàn phần: Đối với các bài đạo đức có mục tiêu, nội dung hoàn toàn về giáo dục môi trường thì những bài đó có khả năng tích hợp ở mức độ toànphần.Mức độ bộ phận: Các bài đạo đức có khả năng tích hợp ở mức độ bộ phận của bài có mục tiêu, nội dung phù hợp với giáo dục môi trường. Giáo viên cần giúp học sinh biết, hiểu và cảm nhận được nội dung bảo vệ môi trường của phần bài học đó mà không ảnh hưởng tới mục tiêu của bài. Mức độ liên hệ: Đối với bài đạo đức không trực tiếp nói về giáo dục môi trường nhưng nội dung có thể liên hệ bảo vệ môi trường, khi đó giáo viên có thể gợi mở vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường. Tuy nhiên giáo viên cũng cần xác định rõ đây là yêu cầu tích hợp theo hướng liên hệ và mở rộng do vậy phải thật tự nhiên, hài hòa và có mức độ, tránh khuynh hướng liên hệ lan man, sa đà hoặc gượng ép, khiên cưỡng, không phù hợp với đặc trưng môn học. Nội dung giáo dục tích hợp môi trường trong môn đạo đức lớp 1: - Giáo dục học sinh biết giữ vệ sinh thân thể, ăn mặc sạch sẽ; Giữ gìn sách vở đồ dùng học tập bền, đẹp. - Giáo dục các em lòng yêu quý, gần gũi thiên nhiên, ý thức bảo vệ các loài cây và hoa; ý thức bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp qua các hành vi, thái độ ứng xử môi trường. Nội dung giáo dục tích hợp môi trường trong môn đạo đức lớp 2: - Giáo dục nếp sống gọn gàng, ngăn nắp là góp phần bảo vệ môi trường.
- 13 - Giáo dục cho các em biết giữ gìn vệ sinh nhà ở, trường lớp; tôn trọng quy định trật tự vệ sinh nơi công cộng góp phần bảo vệ môi trường. - Giáo dục học sinh biết yêu quý, bảo vệ, chăm sóc các loài vật có ích góp phần bảo vệ môi trường. Nội dung giáo dục tích hợp môi trường trong môn đạo đức lớp 3: - Giáo dục học sinh có ý thức và tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường do nhà trường, lớp hoặc địa phương tổ chức. - Giáo dục học sinh biết tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước là góp phần bảo vệ môi trường. Giáo dục học sinh biết, hiểu và tham gia bảo vệ, chăm sóc cây trồng, vật nuôi là góp phần bảo vệ môi trường, giữ gìn sự cân bằng sinh thái. Nội dung tích hợp giáo dục môi trường trong môn Đạo đức ở lớp 4 bao gồm : - Giáo dục học sinh có ý thức trong việc sử dụng tiết kiệm tiền của và thời gian. Sử dụng tiết kiệm tiền của và thời gian là góp phần sử dụng tiết kiệm và hiệu quả sản phẩm lao động của con người, góp phần bảo vệ môi trường. - Giáo dục học sinh biết yêu quê hương đất nước, tích cực tham gia xây dựng quê hương, đất nước. - Giáo dục học sinh biết bảo vệ, giữ gìn các công trình công cộng, di sản thiên nhiên, văn hoá là góp phần bảo vệ môi trường. Nội dung tích hợp giáo dục môi trường môn Đạo đức lớp 5 bao gồm: - Giáo dục học sinh tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quê hương. - Giáo dục học sinh có ý thức và biết ủng hộ các nhà chức trách thi hành các công việc về bảo vệ môi trường. - Giáo dục học sinh biết bảo vệ môi trường xung quanh. Thông qua môn Đạo đức, kiến thức được hình thành trên cơ sở từ việc quan sát tranh, từ một truyện kể, một việc làm, một hành vi, chuẩn mực nào đó, sau đó rút ra bài học (được thể hiện qua các bài dạy). Từ bài học đó các em liên hệ thực tế xung quanh, bản thân, gia đình, xã hội và môi trường tự nhiên. Chỉ khác hơn là giáo viên cố gắng trong phạm vi có thể khi soạn và giảng từng phần của bài học phải tạo một điểm nhấn cụ thể, rõ ràng (cho học sinh được trải nghiệm) nhằm khắc sâu những kỹ năng sống đã có sẵn trong từng bài học và chúng ta lồng ghép trong quá trình soạn bài và khi giảng bài lên lớp về giáo dục môi trường. Ví dụ: Ở lớp 2 khi dạy bài đạo đức giữ gìn trường lớp sạch đẹp, thầy cô dạy lồng ghép để giáo dục cho học sinh biết giữ gìn trường lớp của mình sạch

