Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học trong nhà trường
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học trong nhà trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_chi_dao_giao_vien_ren.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học trong nhà trường
- nâng cao chất lượng dạy chữ và dạy người. Trong sáng kiến kinh nghiệm này, căn cứ vào những lí do trên, tôi đã đi sâu nghiên cứu tìm hiểu: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học trong nhà trường” . 2. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng dạy của đội ngũ giáo viên và kĩ năng sống của học sinh. Từ đó đề xuất các biện pháp chỉ đạo giáo viên giảng dạy kĩ năng sống theo định hướng phát triển năng lực. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu: Rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học trong giai đoạn hiện nay. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp về giảng dạy kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy rèn kĩ năng sống. Điều tra thực trạng việc dạy kĩ năng sống và đề xuất một số giải pháp. 5. Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng khảo sát học sinh trong nhà trường. Địa bàn nghiên cứu: Trường tiểu học nơi tôi công tác. Thời gian nghiên cứu: Tháng 9/2019 - Tháng 4/2020 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp các vấn đề rèn kĩ năng sống hiện nay để đề ra các biện pháp dạy học phù hợp nhất. 6.2. Các phương pháp dạy học: Phương pháp hỏi đáp; Phương pháp nêu vấn đề; Phương pháp trực quan; Phương pháp thảo luận nhóm; ... 6.3. Các phương pháp nghiên cứu thực tế: Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm. Tiến hành xem xét thực trạng rèn kĩ năng sống cho học sinh trong thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 4/2020. 6.4. Các phương pháp khác: Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu và so sánh, phân tích các kết quả nghiên cứu. 7. Cấu trúc của SKKN: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Mục lục, đề tài gồm có 3 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận của việc chỉ đạo rèn kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường Chương 2. Thực trạng của vấn đề rèn kĩ năng sống trong nhà trường Chương 3. Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên rèn kĩ năng sống cho học sinh
- B. NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHỈ ĐẠO RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.1.1 Căn cứ vào Mục tiêu giáo dục Tiểu học Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển những nhiệm vụ lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản cho học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở. 1.1.2 Căn cứ vào mục tiêu rèn kĩ năng sống ở Tiểu học Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù hợp. Hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. Giúp học sinh có khả năng ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày, giúphọc sinh vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành. Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. 1.1.3. Căn cứ vào nhiệm vụ năm học Thực hiện theo công văn hướng dẫn số 663/GD & ĐT ngày 10/9/2019 của Sở GD&ĐT về việc HD thực hiện nhiệm vụ năm học 2019-2020 cấp tiểu học; Thực hiện theo công văn hướng dẫn số 600/HD-PGD ngày 23/8/2019 của Phòng GD&ĐT về việc HD thực hiện nhiệm vụ năm học 2019-2020; 1.1.4. Căn cứ vào đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học 1.1.4.1 .Tri giác: Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học là tươi sáng. Trong quá trình học tập tri giác là một hoạt động trở nên sâu sắc và phức tạp, trở thành một hoạt động có phân tích, phân biệt hơn. Từ những đặc điểm tri giác trên cho thấy tri giác của trẻ không tự nhiên mà có. Điều đó yêu cầu người giáo viên không chỉ dạy cho trẻ em nhìn, xem, mà còn phải dạy cho trẻ nhận xét và biết lắng nghe, dạy trẻ vạch ra những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất, rèn luyện cho trẻ phân tích những đối tượng tri giác một cách có hệ thống và có kế hoạch. Đây cũng chính là cơ sở để đưa ra các biện pháp nhằm phát triển năng lực cho học sinh. 1.1.4.2. Khả năng chú ý: Học sinh Tiểu học cùng một lúc các em chưa chú ý đến được nhiều đối tượng và sự phát hiện cũng chưa cao nên việc duy trì sự tập trung chú ý trong khoảng 40 phút trong mỗi giờ học thường bị phá vỡ bởi những việc riêng. Do đó để phát triển khả năng chú ý cho học sinh, giáo viên nên phối hợp linh hoạt các biện pháp, các con đường tiếp cận khác nhau. 1.1.4.3 Trí nhớ
- Trẻ em Tiểu học có trí nhớ tốt, cả ghi nhớ chủ định và không chủ định đều đang phát triển, ở cuối bậc tiểu học ghi nhớ chủ định của các em phát triển mạnh. Điều này cho ta thấy việc rèn luyện thường xuyên là vô cùng cần thiết. 1.1.4.4. Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh Tiểu học được hình thành trong quá trình học tập. Hình ảnh tưởng tượng của các em còn giản đơn và không bền vững. Hình ảnh tưởng tượng của các em bền vững và gần thực tế hơn khi các em bắt đầu dựa trên những tri giác đã có từ trước và vốn ngôn ngữ. 1.1.4.5. Tư duy: Tư duy của trẻ em ở bậc Tiểu học chuyển dần từ trực quan cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát nhờ vào khả năng ngôn ngữ. Tư duy ở cấp độ cao được xác lập khi trẻ em đã thay thế công cụ tư duy từ vật thật, hình ảnh cụ thể sang cấp độ tư duy ngôn ngữ. Từ đặc điểm này của học sinh chúng ta có thể xác lập được một hệ thống bài dạy phù hợp với sự phát triển tư duy của các em. 1.1.4.6. Tình cảm: Tình cảm của học sinh mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc. Tình cảm đó được biểu hiện trong đời sống hàng ngày và cả trong hoạt động tư duy. Tình cảm đời sống thể hiện ở việc các em chăm lo đến kết quả học tập, hài lòng khi có kết quả tốt và ngược lại các em sẽ buồn bực lo lắng nếu như kết quả không cao. Tình cảm trí tuệ của các em thể hiện ở sự tò mò tìm hiểu thế giới sự vật xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình. 1.2. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1.2.1 Biện pháp: Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. 1.2.2 Giáo viên: Là những người trực tiếp hoặc gián tiếp giảng dạy kiến thức. 1.2.3 Kĩ năng sống: Là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Kết luận chương 1 Việc rèn kĩ năng sống cho học sinh tiểu học trong nhà trường hiện nay là nhiệm vụ quan trọng của mỗi giáo viên. Vì thế việc làm này luôn là một việc làm cần thiết để giúp các em hình thành, phát triển và hoàn thiện về nhân cách. Việc rèn luyện các kỹ năng sống cho học sinh tiểu học đòi hỏi phải có sự nhẫn nại và không ngại thử thách. Bởi trẻ em là những đối tượng rất dễ sa ngã nếu không có phương pháp giáo dục đúng đắn. Do đó cần có sự hợp tác từ phía nhà trường lẫn bậc phụ huynh để định hướng cho trẻ một cách tốt nhất. Nội dung rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học trong nhà trường đang được đẩy mạnh và được chú trọng. Chính vì thế giáo viên có nhiệm vụ rất lớn trong việc rèn các kĩ năng sống cho các em hàng ngày.
- CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG 2.1. Vài nét khái quát về nhà trường Các năm học gần đây, phong trào học tập và các hoạt động khác diễn ra sôi nổi, đạt được nhiều thành tích đáng mừng. Chất lượng dạy học của nhà trường đạt kết quả cao trong toàn huyện. Về giáo dục đạo đức: Nhà trường đã thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng “Nhà trường văn hoá - nhà giáo mẫu mực - học sinh thanh lịch”, đặc biệt là cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”,... tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Về giáo dục văn hóa: Tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt ngày càng tăng và giảm đáng kể tỉ lệ học sinh chưa đạt yêu cầu. Về giáo dục văn thể mĩ: Quan tâm đến nhiều hoạt động cho các em như tổ chức tốt buổi Tết Trung thu cho học sinh; Ngày Hội chợ quê; Vẽ tranh với các chủ đề...; Văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11; Ngày hội đọc sách;Tuyên truyền vệ sinh và phòng chống các dịch bệnh; Chương trình giáo dục đạo đức lối sống; Hội khỏe Phù Đổng; ... đã để lại nhiều điều tốt đẹp. 2.2. Thực trạng nhà trường 2.2.1. Thuận lợi: Ban giám hiệu luôn chỉ đạo sát sao ở tất cả các khối lớp đặc biệt là việc rèn kĩ năng sống. Đại đa số giáo viên nhà trường nhiệt tình, tâm huyết với nghề dạy học, luôn đổi mới phương pháp dạy học. Nhà trường đã trang bị thêm sách tham khảo phục vụ cho việc dạy kĩ năng sống được thuận lợi. 2.2.2. Khó khăn với giáo viên: Đội ngũ giáo viên còn một số chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy kĩ năng sống nên còn gặp những khó khăn nhất định. Bên cạnh đó có nhiều giáo viên trẻ, kinh nghiệm dạy học ít nên khi dạy chưa liên hệ mở rộng được các kiến thức thực tế cuộc sống để phát huy hết năng lực cho học sinh. Nhiều giáo viên nắm chắc kiến thức cơ bản nhưng kiến thức về kĩ năng sống còn thiếu hụt nhiều. Khó khăn với học sinh: Học sinh chỉ tập trung học kiến thức, khả năng ứng phó với các tình huống trong cuộc sống kém, ít tự tin, tự ti nhiều, thường gây gổ lẫn nhau. Kỹ năng giao tiếp còn hạn chế. Từ việc nhìn nhận thực tế của học sinh cho thấy việc giải quyết các tình huống đến với các em còn nhiều lúng túng, các em chưa biết giải quyết sao cho hợp tình hợp lý khi tình huống đưa đến. 2.3. Nguyên nhân thực trạng 2.3.1. Nguyên nhân khách quan: Nhà trường có nhiều giáo viên trẻ. Bản thân chưa có nhiều kinh nghiệm sống nên việc rèn học sinh còn nhiều hạn chế.
- 2.3.2. Nguyên nhân chủ quan: Một số ít giáo viên chưa cập nhật với sự đổi mới, đôi khi còn ngại khó, ngại khổ, chưa chú trọng rèn luyện kĩ năng sống. Kết luận chương 2 Từ thực trạng trên ta thấy việc chỉ đạo giáo viên giảng dạy kĩ năng sống cần chú ý tới các nội dung: Thứ nhất là bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, phát triển số lượng giáo viên có trình độ cao làm nòng cốt. Thứ hai là nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu, đồng thời có chính sách khen thưởng kịp thời đối với giáo viên có thành tích. Thứ ba là giáo viên và học sinh cần có: Kĩ năng sống phong phú. Biết vận dụng kiến thức kĩ năng sáng tạo vào cuộc sống. Để thực hiện được các nội dung trọng tâm trên chúng ta cùng tìm hiểu một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học ở chương 3.
- CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG 3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch cụ thể và triển khai kịp thời việc rèn kĩ năng sống ngay từ đầu năm học a. Mục đích của biện pháp: Giúp giáo viên hiểu rõ và có định hướng ngay từ đầu trong việc rèn luyện kĩ năng sống đạt hiệu quả khi tổ chức giảng dạy. b. Biện pháp thực hiện: Từ cuối tháng 8, triển khai cho tất cả giáo viên kế hoạch việc rèn kĩ năng sống để lên kế hoạch kịp thời với khối lớp mình. Trước khi đưa ra kế hoạch tôi yêu cầu các đồng chí giáo viên trả lời các câu hỏi sau: 1. Vì sao cần rèn kĩ năng sống cho học sinh tiểu học? 2. Về nội dung giảng dạy cần rèn cho các em những kĩ năng gì? Cụ thể ở mỗi khối lớp cần đưa ra được nội dung rèn các kĩ năng sống nào? 3. Sử dụng các phương pháp dạy học nào để rèn kĩ năng sống cho học sinh? 4. Áp dụng các hình thức tổ chức dạy học nào trong dạy kĩ năng sống? Sau khi được nghe các ý kiến của giáo viên về cách rèn kĩ năng sống, trả lời được các câu hỏi trên, tiếp tục triển khai nội dung giảng dạy tới từng khối lớp. *Câu hỏi 1. Vì sao cần rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học? Vì ngoài việc trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản trong học tập, lao động còn phải giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng làm người để các em có thêm kinh nghiệm thích ứng với xã hội. Từ đó thôi thúc các em hành động theo chuẩn mực đạo đức và thói quen đạo đức. Vì vậy việc rèn kĩ năng sống là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. *Câu hỏi 2. Về nội dung giảng dạy cần rèn cho các em những kĩ năng gì? Cụ thể ở mỗi khối lớp cần đưa ra được nội dung rèn các kĩ năng sống nào? Các thầy cô đưa ra được rất nhiều các kĩ năng cần rèn cho học sinh như: - Giúp trẻ hiểu thế nào là Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín, thế nào là Dũng - Cần - Kiệm - Liêm - Chính. Kỹ năng ứng xử học đường với bạn bè, thầy cô hay bạn khác lớp. Các nghi thức giao tiếp căn bản, kỹ năng tạo dựng các mối quan hệ. Kỹ năng trình bày và chia sẻ thông tin. Kỹ năng thuyết trình. Kỹ năng kể chuyện, thực hành kể chuyện. Kỹ năng học trên lớp và tự học ở nhà để đạt hiệu quả tốt nhất. Kỹ năng quản lý bản thân, tinh thần tự tôn và coi trọng giá trị của chính mình. Kỹ năng thích ứng với mọi môi trường. Kỹ năng đặt mục tiêu và tạo động lực để đạt được mục tiêu đó. Kỹ năng giải quyết vấn đề. Kỹ năng làm việc đội nhóm. Kỹ năng lãnh đạo. Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả. Nhận thức giới tính và nhận thức cảm xúc. Kỹ năng tự chăm sóc bản thân. Kỹ năng cứu thương. Kỹ năng giải quyết vấn đề.
- *Câu hỏi 3. Sử dụng các phương pháp dạy học nào để rèn kĩ năng sống? Ngoài các phương pháp dạy học như: Phương pháp hỏi đáp; Phương pháp trực quan; Phương pháp nêu vấn đề; Phương pháp học nhóm;... Để phát huy tính tích cực của học sinh cần sử dụng thêm các biện pháp khác đó là: Thảo luận; Giải quyết vấn đề; Xử lý tình huống; Thi đọc; Thuyết trình;... *Câu hỏi 4. Áp dụng các hình thức tổ chức dạy học nào trong dạy kĩ năng sống? Về hình thức tổ chức để phát huy năng lực cho học sinh ta có thể có các hình thức đó là: Học sinh được trải nghiệm thực tế - Hoạt động nhóm; Sân khấu hóa - Diễn tiểu phẩm; Hùng biện về một vấn đề đã biết trong cuộc sống; Clip;... Bên cạnh đó tôi còn yêu cầu các đồng chí giáo viên thiết kế giáo án dạy Kĩ năng sống theo như định hướng trên. Sau đó triển khai dạy chuyên đề ngay từ đầu năm để tất cả giáo viên cùng học tập và rút kinh nghiệm . 3.2. Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên tổ chức việc dạy kỹ năng sống lồng ghép vào một số môn học như Tiếng Việt; Đạo đức; Tự nhiên và xã hội a. Mục đích của biện pháp: Giúp giáo viên hiểu việc tổ chức dạy lồng ghép vào các môn học nhằm phát triển năng lực cho học sinh với những phương pháp dạy học mang tính thực hành như thông qua trò chơi, hoạt động trải nghiệm, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn,... b. Biện pháp thực hiện: Giáo viên nắm chắc các môn học lồng ghép sau: * Môn Tiếng Việt: Đây là một trong những môn học có khả năng giáo dục kĩ năng sống cao, các bài học đều có thể tích hợp giáo dục kĩ năng sống. Mục tiêu và nội dung: Giúp học sinh bước đầu hình thành và rèn luyện kĩ năng sống cần thiết, phù hợp; nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết nhìn nhận, đánh giá đúng bản thân; biết ứng xử phù hợp và sống tích cực, chủ động trong mọi hoàn cảnh. Nội dung giáo dục kĩ năng sống thể hiện ở tất cả các nội dung của môn học. Những kĩ năng đó là: Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng tự nhận thức; Kĩ năng ra quyết định; Kĩ năng làm chủ bản thân;.... Các yêu cầu cần thiết giáo dục kĩ năng sống ở môn Tiếng Việt đó là: Xuất phát từ thực tế cuộc sống: Sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục tiểu học: Giáo dục con người toàn diện. Xuất phát từ đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. Xuất phát từ thực tế dạy học Tiếng Việt. Nội dung giáo dục kĩ năng sống môn Tiếng Việt: Kĩ năng sống đặc thù, thể hiện ưu thế của môn Tiếng Việt: Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng nhận thức (gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức, ra quyết định,...) là những kĩ năng mà môn Tiếng Việt có nhiều ưu thế. Giao tiếp qua: nghe, nói và đọc, viết. Các kĩ năng này được hình thành từ những kĩ năng đơn lẻ đến những kĩ năng tổng hợp.
- Ví dụ: Ở môn Tập đọc lớp 5 khi dạy bài: “Một chuyên gia máy xúc” giáo dục cho các em khi người nước ngoài sang Việt Nam làm việc, các em phải biết giúp đỡ họ, biết giao tiếp sao cho lịch sự, lễ phép và văn minh,...Khi dạy cần có những liên hệ cụ thể. Ở lớp 4 với môn luyện từ và câu, khi dạy bài: Ôn tập về từ ghép từ láy thông qua các đoạn văn ở bài tập 2 giáo dục cho học sinh kĩ năng nói để phát triển ngôn ngữ về từ ghép, từ láy, giáo dục cho các em cảm nhận và thấy được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ Tiếng Việt khi ta sử dụng. Ở lớp 3 khi dạy bài Tập đọc: Cuộc họp của chữ viết hướng cho các em biết trong cuộc họp phải biết tôn trọng, lắng nghe ý kiến của người khác, không được nói chen ngang. Khi mình muốn phát biểu cần chờ xong ý kiến phát biểu của người khác,... Môn Đạo đức: Giáo dục cho học sinh bước đầu biết sống và ứng xử phù hợp với các chuẩn mực, biết nhận thức thành hành vi chuẩn mực . Mục tiêu: Hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. Phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh. Rèn cho học sinh biết cách tự phục vụ bản thân, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường, biết cách giao tiếp và ứng xử phù hợp trong cuộc sống hằng ngày, biết cách phối hợp công việc của từng cá nhân khi làm việc đồng đội. Rèn cách sống tích cực, chủ động. Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức. * Trong các chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học qua môn đạo đức, giáo viên cần nắm được những nhóm kỹ năng sống sau đây: Nhóm kỹ năng nhận thức: Nhận thức của bản thân với mọi người, với thế giới xung quanh. Biết xây dựng kế hoạch cho bản thân. Có kỹ năng học và tự học. Biết tư duy tích cực và tư duy sáng tạo. Biết giải quyết các vấn đề,... Nhóm kỹ năng xã hội: Kỹ năng giao tiếp với người khác. Kỹ năng thuyết trình và nói trước đám đông. Kỹ năng làm việc nhóm. Kỹ năng lãnh đạo. Nhóm kỹ năng quản lý bản thân: Kỹ năng làm chủ. Quản lý thời gian. Giải trí lành mạnh. Nhóm kỹ năng giao tiếp: Biết xác định đối tượng giao tiếp. Xác định được nội dung và hình thức giao tiếp Nhóm kỹ năng phòng chống bạo lực: Biết phòng chống xâm hại thân thể. Phòng chống bạo lực học đường. Phòng chống bạo lực gia đình. Tránh tác động xấu từ bạn bè. Thông qua môn Đạo đức, kiến thức được hình thành trên cơ sở từ việc quan sát tranh, từ một truyện kể, một việc làm, một hành vi, chuẩn mực nào đó, sau đó rút ra bài học (được thể hiện qua các bài dạy đạo đức từ lớp 1 đến lớp 5). Từ bài học đó các em liên hệ thực tế xung quanh, bản thân, gia đình, xã hội và
- môi trường tự nhiên. Chỉ khác hơn là giáo viên cố gắng trong phạm vi có thể khi soạn và giảng từng phần của bài học phải tạo một điểm nhấn cụ thể, rõ ràng (cho học sinh được trải nghiệm) nhằm khắc sâu những kỹ năng sống đã có sẵn trong từng bài học và những kỹ năng sống chúng ta lồng ghép trong quá trình soạn bài và khi giảng bài lên lớp. Ví dụ: Ở lớp 2 khi dạy bài đạo đức giữ gìn trường lớp sạch đẹp, thầy cô dạy lồng ghép kĩ năng sống cho học sinh biết giữ gìn trường lớp của mình sạch đẹp bằng nhiều cách khác nhau như tổ chức cho các em thi sắp xếp đồ dùng, sách vở một cách ngăn nắp, gọn gàng. Biết trang trí lớp học sao cho đẹp nhất, biết tự bản thân quét dọn lớp học mỗi khi có giấy rác rơi, Tất cả các kĩ năng đó rất cần thiết đối với các em. Ở lớp 3 khi dạy bài: Tôn trọng đám tang, giáo viên dạy các cho các em biết khi đến đám tang không được cười đùa, không được hát hò, không nói chuyện to, không gây ồn ào, không chạy nhảy lung tung Khi đi đường gặp đám tang, có thể bỏ mũ nón đứng nghiêm chờ xe tang qua rồi mới tiếp tục đi tiếp để thể hiện sự tôn trọng đối với người đã mất, chia sẻ nỗi buồn riêng cùng với gia đình họ. Với bất kì bài dạy đạo đức nào thầy cô giáo vẫn có thể dạy lồng ghép kĩ năng sống được cho các em. * Môn Khoa học: Môn Khoa học được dạy ở lớp 4 và lớp 5. Việc giáo dục kĩ năng sống với môn học học này phải trải qua một tiến trình của bài học. Từ đó giáo viên mới lồng ghép việc dạy và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Mục tiêu: Giáo dục kĩ năng sống cho các em biết ứng xử với môi trường như môi trường nước, không khí, đất;..., biết ứng phó với các bệnh của con người như phòng chống bệnh béo phì, các bệnh truyền nhiễm,... Cách thức dạy lồng ghép có 4 bước chính: Bước 1. Khám phá: Học sinh đã biết gì, chưa biết gì về vấn đề đưa ra? Ví dụ: Các em hãy cho biết vì sao nước bị ô nhiễm? Học sinh trả lời: Dựa vào sự hiểu biết của học sinh, giáo viên dẫn vào bài mới: Để biết vì sao nước bị ô nhiễm, chúng ta cùng đi tìm hiểu qua bài: Nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm (lớp 4) Bước 2. Kết nối: Kết nối nội dung mới của bài. Giải quyết tất cả kiến thức mới. Bước 3. Thực hành: Đưa ra những tình huống, những nội dung, những trò chơi để vận dụng kiến thức đó. Bước 4. Vận dụng: Tùy hoàn cảnh của từng em, chúng ta có bài vận dụng (các em nắm được thông tin nào về bài học). * Tóm lại: Qua một tiến trình, đảm bảo giáo dục được kĩ năng sống cho các em. Ở lớp 4: Các bài dạy được lồng ghép giáo dục kĩ năng sống như: Bài 13: Phòng bệnh béo phì. Bài 14: Phòng bệnh lây qua đường tiêu hóa. Bài 39-40:
- Không khí bị ô nhiễm. Bảo vệ bầu không khí trong sạch. Bài 65: Quan hệ thức ăn trong tự nhiên. Bài 66: Chuỗi thức ăn trong tự nhiên. Ở lớp 5: Có 26 địa chỉ trong đó có 5 địa chỉ đã soạn sẵn theo mẫu như sau: Bài 9-10: Thực hành nói “không” với các chất gây nghiện. Bài 18: Phòng tránh bị xâm hại. Bài 42-43: Sử dụng năng lượng chất đốt (2 tiết) Bài 48: An toàn và tránh lãng phí khi sử dụng điện. Bài 66: Tác động của con người đến môi trường đất. Ví dụ: Môn Khoa học: Bài "Phòng bệnh sốt rét", "Phòng bệnh sốt xuất huyết" giáo dục học sinh kĩ năng xử lí và tổng hợp thông tin để nhận biết được dấu hiệu, tác nhân và con đường lây truyền bệnh. Từ đó học sinh biết tự bảo vệ và đảm nhiệm giữ môi trường xung quanh. Các em tự chiếm lĩnh những kiến thức đã học và biết cách hành động bằng những việc làm cụ thể như vệ sinh môi trường xung quanh nơi em ở, khi ngủ cần phải mắc màn,... Ví dụ: các bài: "Tác động của con người đến môi trường rừng", "Tác động của con người đến môi trường đất", "Tác động của con người đến môi trường không khí và nước". Tôi định hướng cho giáo viên tổ chức cho các em thảo luận nhóm, đóng vai, . . . Thông qua hoạt động học tập giúp học sinh tự nhận thức những hành vi sai trái của con người đã gây hậu quả với các môi trường nói trên. Từ đó học sinh có ý thức trách nhiệm và tuyên truyền tới người thân, cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường. 3.3. Biện pháp 3: Rèn kĩ năng sống qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp a. Mục đích của biện pháp: Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp cho giáo viên thấy được việc rèn kĩ năng sống không chỉ bó hẹp trong các tiết dạy mà nó có thể diễn ra ở mọi lúc mọi nơi, đặc biệt là các hoạt động ngoài giờ lên lớp. b. Biện pháp thực hiện: Để giúp giáo viên thực hiện tốt biện pháp này, tôi yêu cầu các đồng chí giáo viên trong mỗi tổ liệt kê tất cả các hoạt động ngoài giờ lên lớp và cách tổ chức thực hiện các hoạt động đó. Ví dụ: Để các em có kĩ năng phòng chống tai nạn giao thông và phòng chống các thương tích khác, tôi đã yêu cầu các thầy cô giáo dục các em thông qua các tiết: Hoạt động ngoài giờ lên lớp, thầy cô hướng dẫn các em phòng chống tai nạn giao thông và các thương tích khác bằng cách đưa ra những tình huống cho các em xử lí và thực hành. Bài "Em đi xe đạp an toàn" Học sinh trao đổi theo nhóm đôi qua các câu hỏi: Thế nào là đi xe đạp an toàn? Vì sao phải đi xe đạp an toàn? Qua đó giáo dục học sinh kĩ năng khi đi xe đạp trên đường em phải đi về phía bên phải của đường, khi đèn tín hiệu giao thông báo đèn đỏ thì em phải dừng lại. Khi đi xe
- đạp trên đường nếu muốn rẽ phải, rẽ trái em phải làm thế nào? Muốn vượt người hoặc xe đạp đằng trước, em cần làm gì? Giáo viên cho các em trao đổi và bổ sung cho nhau để thống nhất câu trả lời. Sau đó giáo viên chốt lại theo ý mà học sinh vừa trình bày. Sau khi học xong bài có thể cho học sinh thực hành đi xe đạp trên sân trường. Với các bài "Đi đường an toàn", "Em thực hiện an toàn giao thông" còn giáo dục các em không được chạy lao ra đường, không được bám bên ngoài ô tô, không được thò tay, chân, đầu ra ngoài khi đi trên tàu, xe,...Như vậy các em có thể tự lập, xử lí được những vấn đề đơn giản khi gặp phải. 3.4. Biện pháp 4: Rèn kĩ năng sống qua tiết sinh hoạt lớp, hoạt động trải nghiệm, qua việc xây dựng tấm gương sáng, động viên khuyến khích học sinh. a. Mục đích của biện pháp: Giúp giáo viên cần coi trọng các tiết sinh hoạt lớp, các hoạt động vui chơi và đặc biệt cần xây dựng những tấm gương sáng về mọi mặt, coi trọng việc động viên khuyến khích học sinh. b. Biện pháp thực hiện: Kết hợp với nhiều hoạt động, nhà trường đã phát động các phong trào như: “Nói lời hay làm việc tốt” qua cách ứng xử lễ phép như biết đi thưa về gửi, chào hỏi những người lớn tuổi, biết xin lỗi khi có khuyết điểm, cảm ơn khi được tặng quà, vui vẻ hoà nhã với bạn bè, lễ phép với thầy cô và những người lớn tuổi, có kĩ năng từ chối với những điều bất lợi xảy ra với bản thân,... và yêu cầu các thầy cô tổng kết vào các buổi sinh hoạt lớp. Hoạt động này học sinh rất háo hức đón chờ. Qua các buổi ngoại khóa của trường, lớp, cần rèn kĩ năng sống thông qua các hoạt động ngoài giờ học. Ví dụ: Nhân ngày lễ Chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20-11 nhà trường tổ chức thi Văn nghệ và làm báo tường, tập san để chúc mừng thầy cô. Học sinh hào hứng tham gia nhiệt tình. Từ đó các em hiểu và làm được rất nhiều việc có ý nghĩa để thể hiện sự tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn. Ngoài ra, những buổi chào cờ các em thực hiện tốt phong trào: “Nhặt được của rơi đem trả người mất” và những lớp, học sinh đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện trong tuần được tuyên dương trước cờ. Đối với học sinh tiểu học trò chơi có một vai trò rất quan trọng trong việc rèn kĩ năng sống cho các em. Các em lớn lên, học hành và khám phá thông qua trò chơi. Các hành động chơi đòi hỏi các em phải suy nghĩ, giải quyết các vấn đề, thực hành các ý tưởng. Khuyến khích các em cùng chia sẻ những cảm nhận, những suy nghĩ, những quan sát của mình với cô, với bạn một cách thoải mái, tự nhiên không gò bó, áp đặt.

