Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo dạy học theo phương pháp dạy học tích cực
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo dạy học theo phương pháp dạy học tích cực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_chi_dao_day_hoc_theo.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo dạy học theo phương pháp dạy học tích cực
- Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ở các trường tiểu học vùng nông thôn và miền núi được trang bị cơ sở vật chất, đồ dùng, phương tiện dạy học tương đối đầy đủ, đội ngũ giáo viên đào tạo bài bản, được bồi dưỡng thường xuyên nên chất lượng dạy và học đã được nâng cao. Nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới về cách dạy học theo hướng hiện đại hiện nay, nhất là dạy học theo định hướng “ Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh hay còn gọi là Phương pháp dạy học tích cực. Trên lí thuyết, đa số giáo viên đều nêu được những yêu cầu cần đổi mới về phương pháp dạy học nhưng đổi mới như thế nào thì không phải giáo viên nào cũng hiểu và thực hiện được một cách hiệu quả vì đa số họ được đào tạo theo cách truyền thống, dạy theo cách truyền thống trong một thời gian dài nên việc hiểu và thay đổi cách dạy không phải là dễ dàng, mà ở đây đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết, tích cực trau dồi về chuyên môn, hiểu rõ bản chất, cách thức của các phương pháp dạy học tích cực. Ở nông thôn và miền núi, dân chí còn thấp nên phụ huynh vẫn còn những quan điểm và suy nghĩ lạc hậu về cách học của con em mình, họ coi trọng cách học truyền thống: thầy giảng nhiệt tình, trò chăm chú nghe và ghi chép...Đây cũng là lí do để giáo viên không muốn thay đổi phương pháp dạy học của mình. Mặt khác cán bộ quản lí một phần do nhận thức và trình độ đào tạo, ảnh hưởng theo lối cũ, chưa có sự chuyển biến một cách sâu sắc và kịp thời nên chất lượng cũng như hiệu quả dạy và học ở các trường còn rất hạn chế. Trong năm học 2017- 2018, được phân công phụ trách về chuyên môn, tôi đã ý thức rất rõ về trách nhiệm công việc được giao nên cố gắng tự bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lí. Với nhận thức sâu sắc của một người quản lí về việc đổi mới phương pháp dạy học là thực sự cấp bách và cần thiết, qua các hội nghị chuyên môn, chuyên đề do phòng giáo dục tổ chức tôi đã dành thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về Phương pháp dạy học tích cực ở trường tiểu học và đã áp dụng được bước đầu có hiệu quả trong công tác chỉ đạo về chuyên môn. Để góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học, tôi mạnh dạn chia sẻ kinh nghiệm qua sáng kiến: “ Một số biện pháp chỉ đạo dạy học theo phương pháp dạy học tích cực” II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 1. Mục đích nghiên cứu: - Khẳng định việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh trong trường Tiểu học là cần thiết và cấp bách. - Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân cũng như cho giáo viên trong nhà trường theo phương pháp dạy học hiện đại. - Giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập từ đó phát triển về năng lực phẩm chất góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu : 3
- - Tìm hiểu nội dung một số vấn đề lý luận cơ bản của phương pháp dạy học tích cực và việc đổi mới theo phương pháp dạy học tích cực. - Tìm hiểu thực trạng và những nguyên nhân của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. - Đề xuất một số biện pháp trong công tác chỉ đạo việc dạy học theo phương pháp dạy học tích cực . 3. Phạm vi nghiên cứu - Đề cập đến những biện pháp chỉ đạo việc dạy học theo phương pháp dạy học tích cực trong trường Tiểu học. - Thời gian nghiên cứu: Năm học 2017 - 2018 III. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc tài liệu, sách báo có liên quan đến vấn đề phương pháp dạy học tích cực và hoạt động đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông nhằm khai thác những vấn đề cơ bản về lý luận phục vụ cho nhiệm vụ và mục đích đề tài. - Phương pháp quan sát trò chuyện: Tuy đây không phải là phương pháp chủ yếu, song nó giữ vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi tiến hành quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh để thu thập những tài liệu bổ ích nhằm kiểm tra, bổ sung cho những kết quả thu được từ các phương pháp khác nhau. - Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra gồm: + Những câu hỏi cho giáo viên + Những câu hỏi cho học sinh Để tìm hiểu thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh trong nhà trường. - Phương pháp thực nghiệm đối chứng: Đối chứng kết quả sau khi áp dụng sáng kiến với năm học trước. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Để xử lý số liệu tìm ra mối quan hệ giữa các vấn đề nghiên cứu của đề tài. *** 4
- PHẦN II NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ *** I. CƠ SỞ LÍ LUẬN Trong quá trình dạy học, người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của người thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được. Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập được xem như một nguyên tắc dạy học đảm bảo chất lượng và hiệu quả đã được nói đến từ lâu không chỉ ở nước ta mà đã có từ lâu trên thế giới, nhất là ở các nước có nền giáo dục tiên tiến. Các thuật ngữ “ dạy học tập trung vào người học” "dạy học căn cứ vào người học" hay "dạy học hướng vào người học" có chung một nội dung hàm ý là nhấn mạnh hoạt động dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Dạy học " lấy học sinh làm trung tâm là một xu hướng tất yếu" trong lịch sử giáo dục. Ở thời kỳ chưa hình thành tổ chức trường lớp, việc dạy học thường được tổ chức theo phương thức một thầy - một trò, hoặc thầy dạy cho một nhóm nhỏ học trò. Học trò trong một nhóm có thể chênh lệch nhau khá nhiều về độ tuổi và trình độ. Chẳng hạn thầy đồ nho ở nước ta dưới thời phong kiến dạy trong cùng một lớp từ đứa trẻ bắt đầu đi học "tam tự kinh" đến môn sinh chuẩn bị thi tú tài, cử nhân. Trong tổ chức dạy học như vậy ông thầy bắt buộc phải coi trọng nhu cầu, trình độ năng lực, tính cách của mỗi học trò, và cũng có điều kiện để thực hiện cách dạy thích hợp với mỗi học trò, phát huy vai trò chủ đạo sáng tạo của người học. Kiểu học một thầy hoặc một thầy - một nhóm nhỏ học vẫn tồn tại cho đến nay, trong một số loại hình đào tạo, đặc biệt như âm nhạc, hội họa. Tuy nhiên như vậy thì năng suất dạy học quá thấp. Từ khi xuất hiện tổ chức trường với những lớp học có nhiều học sinh cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo từng học sinh, giảng dạy sát với đặc điểm của từng em. Từ tình hình đó hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng loạt". Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thiện trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều thầy giảng. Từ kiểu dạy “thông báo - đồng loạt” đã dần dần hình thành kiểu học thuộc lòng - thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ. Tình trạng này ngày càng phổ biến, đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy học và không đáp ứng được yêu cầu phát triển năng động của xã hội. Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phát huy tính tích cực chủ 5
- động học tập của học sinh, thực hiện "dạy học phân hóa" quan tâm đến nhu cầu khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp. Như vậy đòi hỏi phải có sự đổi mới về phương pháp dạy học, người học phải được đặt lại đúng vị trí với bản chất lao động học tập, phù hợp với quy luật khách quan của quá trình dạy học. II. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀ VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 1. Phương pháp dạy học tích cực 1.1. Phương pháp dạy học tích cực là gì? Phương pháp dạy học tích cực hay dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh chính là nói đến cách dạy học mà ở đó, giáo viên là người đưa ra những gợi mở cho một vấn đề và cùng học sinh bàn luận, tìm ra mấu chốt vấn đề cũng như những vấn đề liên quan. Phương pháp này lấy sự chủ động tìm tòi, sáng tạo, tư duy của học sinh làm nền tảng, giáo viên chỉ là người dẫn dắt và gợi mở vấn đề. Hay nói cách khác, phương pháp dạy và học tích cực không cho phép giáo viên truyền đạt hết kiến thức mình có đến với học sinh mà thông qua những dẫn dắt sơ khai sẽ kích thích học sinh tiếp tục tìm tòi và khám phá kiến thức đó. 1.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực: Có bốn đặc trưng cơ bản: * Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Theo tinh thần này, giáo viên không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các 6
- tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn,... Ỏ đây, người học - đối tượng của hoạt động “dạy” đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự khám phá những điều mình chưa rõ, không phải thụ động tiếp thu những tri thức do giáo viên sắp đặt. Học sinh sẽ dựa vào những điều quan sát trong thực tế, thảo luận hay làm thí nghiệm, tự giải quyết các vấn đề theo suy nghĩ của mình từ đó nắm bắt kiến thức, kĩ năng mới. Dạy theo cách này, giáo viên không chỉ giúp các em nắm được kiến thức mà còn giúp học sinh biết hành động và tích cực tham gia các trương trình hành động của cộng đồng. *Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học Chú trọng rèn luyện cho học sinh những tri thức phương pháp để các em biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,..Rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong xã hội hiện nay, với sự bùng nổ của thông tin, khoa học, kĩ thuật và công nghệ, chúng ta không thể nhồi nhét cho học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều đó mà phải dạy cho học sinh phương pháp tự học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng. Nếu rèn luyện cho các em có phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo được lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh về hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động. * Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác Năng lực hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện nay, chính vì vậy, phát triển năng lực hợp tác từ trong trường học đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới. Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ chính là sự phản ánh thực tiễn của xu thế đó. 7
- Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp. Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến ở tiểu học là hoạt động hợp tác trong nhóm. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là giải quyết những vấn đề khó, phức tạp. Hoạt động nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; năng lực, phẩm chất của mỗi thành viên được bộc lộ: tình bạn gắn bó, ý thức tổ chức kỉ luật cao hơn, có tinh thần tương trợ...Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công lao động trong tương lai. Tăng cường học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm “tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn”. Điều đó có nghĩa, mỗi học sinh vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới. Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung. * Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá theo năng lực của học sinh Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Trong đánh giá thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả quá trình học tập. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập theo năng lực chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực người học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau: Tiêu chí Đánh giá năng lực Đánh giá kiến thức, kỹ năng so sánh - Đánh giá khả năng học sinh vận dụng - Xác định việc đạt kiến thức, 1. Mục các kiến thức, kỹ năng đã học vào giải kỹ năng theo mục tiêu của đích chủ yếu nhất quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống. chương trình giáo dục. - Vì sự tiến bộ của người học so với - Đánh giá, xếp hạng giữa chính họ. những người học với nhau. 8
- 2. Ngữ - Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn - Gắn với nội dung học tập cảnh đánh cuộc sống của học sinh. (những kiến thức, kỹ năng, giá thái độ) được học trong nhà trường. 3. Nội - Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở - Những kiến thức, kỹ năng, dung đánh nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo thái độ ở một môn học. giá dục và những trải nghiệm của bản thân HS trong cuộc sống xã hội (tập trung vào năng lực thực hiện). - Quy chuẩn theo các mức độ phát triển - Quy chuẩn theo việc người năng lực của người học. học có đạt được hay không một nội dung đã được học. 4. Công cụ - Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối - Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ đánh giá cảnh thực. trong tình huống hàn lâm hoặc tình huống thực. 5. Thời - Đánh giá mọi thời điểm của quá trình - Thường diễn ra ở những thời điểm đánh dạy học, chú trọng đến đánh giá trong điểm nhất định trong quá trình giá khi học. dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy. 6. Kết quả - Năng lực người học phụ thuộc vào độ - Năng lực người học phụ đánh giá khó của nhiệm vụ hoặc bài tập đã hoàn thuộc vào số lượng câu hỏi, thành. nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành. - Thực hiện được nhiệm vụ càng khó, - Càng đạt được nhiều đơn vị càng phức tạp hơn sẽ được coi là có kiến thức, kỹ năng thì càng năng lực cao hơn. được coi là có năng lực cao hơn. Thông tư 22 hướng dẫn về việc đánh giá học sinh tiểu học trong đó chú trọng việc đánh giá theo hướng phát triển năng lực và vì sự tiến bộ của học sinh. Cách đánh giá tích cực sẽ này giúp học sinh tự tin, hứng thú thúc đẩy phát triển học tập và nhân cách của học sinh tiểu học. Đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của học sinh mà đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của giáo viên. 2. Dạy học theo phương pháp dạy học tích cực Giáo viên dạy học theo phương pháp dạy học tích cực tức là phải huy động đông đảo học sinh tham gia hoạt động học tập; phải tổ chức, chỉ đạo cho học sinh tự tìm 9
- tòi, khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “ làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, vừa được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo giống như hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học trước đây tìm ra khái niệm mới (coi như các em tự tìm ra khái niệm mới đó dưới sự dẫn dắt của các thầy, mặc dù khái niệm đó đã được các nhà khoa học tìm ra trước đó). Dưới đây là bảng so sánh về phương pháp dạy học tích cực với phương pháp dạy học truyền thống: Phương pháp truyền thống Phương pháp dạy học tích cực Học là kiến tạo; học trò tìm tòi , Học là quá trình hấp thụ và lĩnh khám phá, phát hiện, tập luyện , hội, qua đó hình thành kiến khai khẩn và xử lí thông tin , tự thức, năng lực, tư tưởng, tình hình thành thông hiểu, năng lực Quan niệm cảm. và phẩm chất. Truyền thụ tri thức, truyền thụ Tổ chức hoạt động nhận thức và chứng minh chân lí của giáo biếu học trò. Dạy học trò cách tìm Bản chất viên. ra chân lí. Chú trọng hình thành các năng lực ( sáng tạo, hợp tác , ); dạy cách học. Học để đáp ứng Chú trọng cung cấp tri thức , những đề nghị của cuộc sống hiện năng lực, xảo thuật. Học để đối nay và tương lai. Những điều đã phó với thi cử. Sau khi thi xong học cần thiết , hữu ích cho bản những điều đã học thường bị bỏ thân học trò và cho sự phát triển Mục đích quên hoặc ít dùng đến. xã hội. Từ nhiều nguồn khác nhau: Sách giáo khoa, giáo viên, các tài liệu khoa học, thử nghiệm, thực tế : gắn với: - Vốn thông hiểu, kinh nghiệm và nhu cầu của HS. Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo viên - Vốn thông hiểu, kinh nghiệm và 10
- nhu cầu của HS. - Những vấn đề học trò quan tâm. Các biện pháp tìm tòi, điều tra , Các biện pháp diễn giảng , giải quyết vấn đề ; dạy học tương Biện pháp truyền thụ tri thức một chiều. tác. Cơ động, linh hoạt, học ở lớp, ở Cố định, giới hạn trong 4 bức hiện trường , trong thực tế, học Hình thức tường của lớp học, giáo viên đối cá nhân, học theo cả nhóm , cả tổ chức diện với cả lớp. lớp. Nhìn vào sơ đồ khái quát dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về phương pháp dạy học tích cực và tại sao cần phải thay đổi phương pháp dạy học: III. THỰC TRẠNG TRONG VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 1. Nhận thức về đổi mới: Để điều tra thực trạng đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên, cuối năm học 2016 – 2017, tôi đã tiến hành điều tra nhận thức của 29 giáo viên bằng phiếu điều tra. *Nhận thức về tầm quan trong của việc đổi mới phương pháp dạy học Hỏi: Theo đồng chí, đổi mới phương pháp dạy học được Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục-Đàotạo quan tâm chỉ đạo ở ý kiến nào trong bảng sau: Hãy điền vào Là nhiệm vụ rất được quan tâm. Quan tâm nhưng chưa được xúc tiến. 11
- Rất quan tâm và đang tiến hành chỉ đạo ở toàn ngành Giáo dục - Đào tạo. Kết quả thu được cho thấy: 29/29 ý kiến cho rằng đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cần thiết hiện nay, được Đảng và Nhà nước và Bộ Giáo dục - Đào tạo rất quan tâm và được đang tiến hành chỉ đạo toàn ngành thực hiện sâu rộng. * Nhận thức của giáo viên về cần thiết đổi mới phương pháp dạy học. Hỏi: Theo các đồng chí, có cần thiết đổi mới phương pháp dạy học không? Hãy điền dấu vào Rất cần. Cần. Không cần. Kết quả thu được: Rất cần : 18 = 62 % Cần : 11 = 38% Như vậy 100% giáo viên đã nhận thức được sự cần thiết của việc đổi mới về phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay. Điều đó xuất phát từ thực tế cuộc sống. Một xã hội hiện đại cần có những người có bản lĩnh, có năng lực chủ động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích ứng với đời sống xã hội đang từng ngày, từng giờ thay đổi. Thực tiễn này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải điều chỉnh kéo theo sự thay đổi tất yếu của nội dung và phương pháp dạy học. Qua tìm hiểu về cách dạy lấy giáo viên làm trung tâm, hầu hết giáo viên đều nhận thấy những hạn chế của cách dạy này là: - Học sinh học thụ động nên tri thức tiếp thu được không bền vững. Tính thụ động lâu dần thành thói quen sẽ hạn chế trình độ tư duy và nhận thức. - Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập và sáng tạo, khó thích ứng với yêu cầu học tập cao hơn ở các lớp trên, càng khó thích ứng với hoạt động muôn màu, muôn vẻ của cuộc sống xã hội sau này. - Năng lực cá nhân của học sinh không có điều kiện bộc lộ và phát triển đầy đủ. 2. Thực trạng việc đổi mới phương pháp dạy học ở giáo viên Năm học 2016 - 2017, qua các tiết dự giờ, thăm lớp tôi nhận thấy số lượng giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại, lấy học sinh làm trung tâm như: nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, bàn tay nặn bột...chiếm tỉ lệ rất nhỏ, chủ yếu là những phương pháp truyền thống, giáo viên phải làm việc nhiều như giảng giải, thuyết trình, làm theo mẫu.... Cụ thể qua hội thi giáo viên giỏi cấp trường, tôi đã tổng hợp được như sau: Phương pháp sử dụng Số lượng GV/tiết dạy Tỉ lệ Vấn đáp 29/29 100% Đóng vai 10/29 34,4% Thuyết trình 25/29 86,2% 12
- Giảng giải 20/29 68,9% Thực hành, luyện tập 29/29 100% Nêu vấn đề 10/29 34,4% Trò chơi 10/29 34,4% Quan sát 13/29 44,8% Nhóm 15/29 51,7% Bàn tay nặn bột 3/29 10,3% Hay việc sử dụng các phương pháp cho từng môn học thiếu linh hoạt: Phương pháp dạy học của giáo viên Số tiết Môn học Thực Quan Trò Đóng Thuyết Vấn Nêu STT Nhóm BTNB dạy hành sát chơi vai trình đáp vấn đề 1 Toán 5/5 1/5 3/5 4/5 5/5 2/5 1/5 5 tiết 2 Tập đọc 4/4 2/4 1/5 1/4 4/4 4/4 1/4 4 tiết 3 LT& Câu 4/4 1/4 3/4 3/4 1/4 2/4 4 tiết 4 KH,TN 1/3 1/3 3/3 3/3 1/3 0 3 tiết 5 TL văn 2/2 1/2 2/2 2/2 2 tiết 6 Địa lý 1/1 1/1 1/1 1tiết Từ việc sử dụng những phương pháp dạy học người thầy là trung tâm, áp đặt kiến thức, kĩ năng theo một chiều như vậy, rất nhiều hạn chế nảy sinh sau tiết học: - Hiệu quả tiết dạy không cao. ( Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ học sinh hiểu và vận dụng được kiến thức rất thấp.) - Học sinh rất thụ động chỉ biết làm theo yêu cầu của giáo viên, không biết phản hồi, không phát huy tính sáng tạo trong học tập. - Không có các điều kiện để học sinh rèn luyện, nâng cao năng lực, phẩm chất. - Hạn chế sự tương tác giữa giáo viên và học sinh nên không khí lớp học trầm lắng, học sinh mệt mỏi... Nguyên nhân của thực trạng trên: - Vì điều kiện chủ quan - khách quan mà giáo viên không dành nhiều thời gian nghiên cứu sách bài dạy; ở các tiết dạy để dự giờ thăm lớp, thao giảng, chuyên đề, việc đánh giá xếp loại nhiều khi còn nể nang, ngại góp ý, xây dựng cho phương pháp dạy chưa hiệu quả. - Chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn chưa được coi trọng, nội dung chỉ mang tính chất triển khai kế hoạch. - Công tác quản lý chỉ đạo vẫn mang nặng nề hành chính, phong trào. - Các hình thức và phương pháp kiểm tra vẫn còn đơn điệu, chưa có tác dụng. 13

