Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chế biến món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất ở Trường Mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chế biến món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất ở Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_che_bien_mon_an_moi_g.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chế biến món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất ở Trường Mầm non
- 3 Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến 13 4 Hiệu quả của sáng kiến 14 4.1 Hiệu quả về mặt khoa học 14 4.2 Hiệu quả về mặt kinh tế 14 4.3 Hiệu quả về mặt xã hội 15 5 Tính khả thi 15 6 Thời gian thực hiện đề tài 15 7 Kinh phí thực hiện đề tài 15 III Kiến nghị, đề xuất 15
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN trường MN Khánh Thượng A, Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN ngành GD&ĐT huyện Ba Vì. Họ, tên Ngày tháng Nơi công Chức danh Trình độ Tên sáng kiến năm sinh tác chuyên môn Phan Thị 24/12/1981 MN Khánh Nhân viên Cao đẳng “Một số biện pháp chế Thanh Thượng A biến món ăn mới giúp trẻ Huyền ăn ngon miệng, ăn hết suất ở trường mầm non”. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Nhân viên Nuôi dưỡng - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số biện pháp chế biến món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất ở trường mầm non”. - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: từ 20 tháng 09 năm 2024. Tại nhà bếp Trường MN Khánh Thượng A - Mô tả bản chất của sáng kiến: “Một số biện pháp chế biến món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất ở trường mầm non”. Góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong nhà trường. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất và chấp nhận tất cả các món ăn trong thực đơn của nhà trường. Xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn của trẻ phù hợp để trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cần thiết của cơ thể. Làm
- thay đổi quan điểm của phụ huynh về sự cần thiết của việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non. Qua chuyên đề nghiên cứu này phụ huynh có thể vơi bớt nỗi lo lắng, giáo viên cũng có đôi phần giảm bớt áp lực khi chăm sóc trẻ. Nhìn thấy các con mau lớn từng ngày phát triển toàn diện đó là niềm vui sự gắn kết giữa gia đình và nhà trường. Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất) Việc áp dụng sáng kiến, được tiến hành theo các giải pháp sau: . Biện pháp 1: Nghiên cứu văn bản, tài liệu, tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm để nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ . Biện pháp 2: Lựa chọn thực phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, phù hợp với lứa tuổi mầm non Biện pháp 3: Đổi mới cách chế biến các món ăn cho trẻ tại nhà trường Biện pháp 4: Phối kết hợp với giáo viên trên lớp và các cô nuôi tại nhà trường . Biện pháp 5: Tham mưu cho Ban Giám hiệu đổi mới trong công tác xây dựng thực đơn theo tháng, mùa - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: : Giáo viên, học sinh, phụ huynh, thời gian - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: + Hiệu quả về kinh tế: Sáng kiến đưa ra một số giải pháp mang lại hiệu quả giáo dục cao, không tốn kém, chỉ cần sắp xếp thời gian làm việc một cách hợp lí, khoa học, lòng nhiệt tình, kiên trì, bền bỉ thường xuyên nghiên cứu một cách nghiêm túc thì việc thực hiện đạt kết quả cao.
- Rất hiệu quả, các món ăn mới đẹp về hình thức, đảm bảo về lượng, chất, trẻ hứng thú ăn ngon miệng hơn. Giảm được số trẻ suy dinh dưỡng, béo phì... Sáng kiến này có thể áp dụng được ở tất cả các trường mầm non. + Hiệu quả về xã hội: Đem lại hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nuôi dưỡng trong nhà trường; Với sáng kiến kinh nghiệm này đã đáp ứng nhu cầu thực tế hiện nay và trong tương lai nếu áp dụng thì hiệu quả công việc sẽ cao nhất, với lượng thời gian và sức lực sử dụng ít nhất, tiết kiệm nhất. Sáng kiến này có thể áp dụng được ở tất cả các trường mầm non. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử (nếu có): Số TTHọ và tên Ngày tháng năm Nơi công Chức Trình Nội dung công sinh tác (hoặc danh độ chuyên mônviệc hỗ trợ nơi thường trú) 1 Đinh Thị 17/06/1979 Trường Nhân Cao đẳng Tham gia hỗ trợ và Ánh mầm non viên áp dụng biện Nguyệt Khánh pháp mới vào chế Thượng A biến món ăn mới Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Khánh Thượng, ngày tháng 03 năm 2025 Người nộp đơn Phan Thị Thanh Huyền
- Mẫu 03 HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG MN KHÁNH THƯỢNG A Độc lập - Tự do - Hạnh phúc KT , ngày 25 tháng 3 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ • Tên sáng kiến: “Một số biện pháp chế biến món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất ở trường mầm non”. • Tác giả sáng kiến: Phan Thị Thanh Huyền • Họ tên người đánh giá: Nguyễn Thị Phương Loan • Cơ quan công tác: Trường mầm non Khánh Thượng A Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể,rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của nhà trường và đối tượng trẻ 24-36 tháng tuổi, gần gũi rễ áp dụng. Điểm đánh giá: 16 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp ): 5 điểm
- Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt giữa giải pháp mới so với giải pháp cũ, có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp. Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới ): 20 điểm Sáng kiến đã nêu rõ cách làm mới, các biện pháp đưa ra có tính sáng tạo, mới mẻ, có hiệu quả khi áp dụng thực tế tại trường, lớp. Điểm đánh giá: 17 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Số liệu so sánh đố chiếu trước, sau khi thực hiện đề tài chính xác, hợp lí không mang tính thành tích. Điểm đánh giá: 7 điểm 2.2.Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Nội dung sáng kiến có khả năng áp dụng trong lớp, trường và được nhiều nhân viên trong trường công nhận về hiệu quả mà sáng kiến đã đem lại. Vì nội dung thực tế; không sáo rỗng, phù hợp với học sinh. Điểm đánh giá: 15 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành
- chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Sáng kiến đã được công nhận rộng rãi và mang lại kết quả rõ rệt cho nhà trường. Nó không chỉ nâng cao hiệu quả chế biến món ăn cải thiện năng suất và chất lượng công việc, mà còn đem lại lợi ích kinh tế và xã hội. Điểm đánh giá ND3: 16 điểm 4. Nội dung 4. Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, đầy đủ và có bố cục hợp lý, với các nội dung rõ ràng và dễ hiểu, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và nắm bắt các giải pháp đã được đề xuất. Điểm đánh giá ND 4: 4 điểm Tổng số điểm sáng kiến 75 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt □ - Không đạt □ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Nguyễn Thị Phương Loan
- I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của con người, đặc biệt là trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực và trí tuệ. Còn người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát triển của cơ thể mà đặc trưng cơ bản của sự sống là sinh trưởng và phát triển, sinh sản, cảm ứng, vận động, trao đổi chất và năng lượng. Như vậy có thể nói việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ là nhiệm vụ trọng tâm trong việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non vì chăm sóc sức khỏe cho trẻ ở trường mầm non là quá trình chế biến và tổ chức bữa ăn cho trẻ hàng ngày. Muốn có chất lượng nuôi dưỡng tốt, trước hết là cô nuôi cần phải làm tốt việc chế biến món ăn cho trẻ, thực hiện tốt quy chế nuôi dạy trẻ, đặc biệt phải luôn tìm tòi, sáng tạo để nâng cao chất lượng chế biến món ăn phù hợp với trẻ mầm non. Bởi thực tế, trẻ 24-36 tháng đã ăn được cơm nát và ăn nhiều loại thức ăn hơn nhưng trẻ rất dễ bị chớ, nôn và khó ăn vì vậy cần có cách chế biến riêng: Chú ý tới thức ăn mềm, nghiền nát, nấu nhừ xay nhỏ. Trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi), trẻ có nhu cầu ăn ngon hơn và tiêu hóa được nhiều loại thức ăn hơn, thích lựa chọn các món ăn hấp dẫn với trẻ. Mặt khác, trẻ lại mau chán ăn và ít tập trung vào bữa ăn. Do đó, mỗi người lớn chúng ta phải quan tâm chăm sóc trẻ ngay từ nhỏ, xây dựng khẩu phần ăn, chế biến món ăn ngon phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với chế độ ăn của trẻ, sẽ giúp trẻ phát triển khoẻ mạnh và phòng tránh được các bệnh. Việc nghiên cứu các cách chế biến món ăn mới phong phú sẽ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, trẻ ăn hết xuất, tăng cân. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ ở trường mầm non chiếm 50% nhu cầu năng lượng của trẻ trong 1 ngày.Thời gian trẻ thức, hoạt động, học tập, vui chơi chủ yếu là ở trường mầm non, năng lượng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu hoạt động của trẻ ở trường mầm non một ngày là từ: 600 - 615 KCal/1470KCal. Vậy nên ở trường mầm non phải có chế độ ăn hợp lý, đủ dinh dưỡng cho trẻ, không để trẻ đói và cũng không để trẻ ăn quá thừa vì để trẻ đói -> Suy dinh dưỡng, ăn quá nhiều -> gây béo phì ).
- Bản thân tôi là nhân viên nuôi dưỡng trong nhà trường, tôi thấy mình phải có trách nhiệm góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn, đem đến cho trẻ bữa ăn ngon hợp lý, giúp trẻ phát triển cân đối. Chính vì vậy, tôi luôn trăn trở làm thế nào để đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất và ăn được tất cả các món ăn trong khẩu phần ăn của nhà trường. Từ những suy nghĩ đó tôi đã nghiên cứu, tìm tòi và áp dụng một số giải pháp đơn giản nhưng có hiệu quả và trình bày trong đề tài “Một số biện pháp chế biến món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất ở trường mầm non”. 2. Mục tiêu sáng kiến kinh nghiệm Góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong nhà trường. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất và chấp nhận tất cả các món ăn trong thực đơn của nhà trường. Xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn của trẻ phù hợp để trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cần thiết của cơ thể. Làm thay đổi quan điểm của phụ huynh về sự cần thiết của việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non. Qua chuyên đề nghiên cứu này phụ huynh có thể vơi bớt nỗi lo lắng, giáo viên cũng có đôi phần giảm bớt áp lực khi chăm sóc trẻ. Nhìn thấy các con mau lớn từng ngày phát triển toàn diện đó là niềm vui sự gắn kết giữa gia đình và nhà trường. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Thời gian nghiên cứu Thời gian 8 tháng (từ tháng 9/2024 đến tháng 3/2025). 3.2. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp chế biến món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất. 3.3. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu Đề tài được áp dụng tại nhà bếp trong trường Mầm non Khánh Thượng A. II. NỘI DUNG 1. Hiện trạng vấn đề
- * Thuận lợi: Năm học 2024-2025, trường Mầm non Khánh Thượng A có tổng số học sinh là 240 cháu, trong đó có 54 cháu trong độ tuổi nhà trẻ và 186 cháu trong độ tuổi mẫu giáo. Cơ sở vật chất khang trang sạch đẹp với đầy đủ các trang thiết bị; Được sự giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình của Ban Giám hiệu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cá nhân tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn; Bếp ăn có diện tích đảm bảo theo đúng Điều lệ mầm non. Đạt tiêu chuẩn bếp ăn một chiều. Nhà trường đã ký hợp đồng mua bán thực phẩm đảm bảo chất lượng, ngon, sạch và vệ sinh ATTP. Bản thân đã qua học lớp Cao đẳng nấu ăn, là nhân viên đã có 14 năm công tác, Chị em đồng nghiệp đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. * Khó khăn: Năm học trước, được sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường, tôi cùng các nhân viên nuôi dưỡng đã tham mưu để thay đổi thực đơn cho trẻ theo mùa ngay từ đầu năm học để đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng, hết suất. Song, bên cạnh đó tôi vẫn thấy một số trẻ ăn chưa ngon miệng, không hết suất ăn của mình, một số trẻ không ăn thịt, không ăn rau... Mức thu tiền ăn của trẻ là 20.000đ, tuy nhiên giá cả thị trường không ổn định nên việc thay đổi thực đơn, tăng tỷ lệ các chất dinh dưỡng gặp nhiều khó khăn. Sự quan tâm của phụ huynh về ăn uống của trẻ còn chưa khoa học nên chỉ thích cho trẻ ăn thật nhiều mà chưa chú trọng đến chất lượng của bữa ăn. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đầu năm chiếm 5%. Một số cô nuôi còn trẻ nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc chế biến các món ăn cho trẻ. * Khảo sát thực tế trước khi thực hiện đề tài: Đầu năm
- Độ tuổi Tổng số Cân nặng Trẻ suy dinh Chiều cao Trẻ suy dinh trẻ bình dưỡng thể nhẹ bình thường dưỡng thể thường cân thấp còi Nhà trẻ 54 52 2 51 3 Mẫu giáo 186 173 13 182 4 Tổng 240 225 15 233 7 Tỉ lệ 100% 93,75% 6,25% 97% 3% Tôi khảo sát lần 1, tôi dùng phiếu điều tra gửi đến các lớp sau đó tổng hợp được kết quả như sau: Tổng số trẻ được Trẻ hứng thú ăn Tỷ lệ % Trẻ chưa hứng thú ăn Tỷ lệ % theo dõi ngon miệng, ăn ngon miệng, chưa ăn hết suất hết suất 240 220/240 91,6 % 20/240 8,3 % 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến 2.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu văn bản, tài liệu, tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm để nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” Với câu nói trên cho thấy chúng ta phải học nữa, học mãi. Đối với mỗi con người chúng ta dù có đi làm một việc gì đi chăng nữa, chúng ta không chỉ làm việc mà phải luôn tìm tòi học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn của mình được tốt hơn, đặc biệt các cô nuôi là người trực tiếp chế biến ra các món ăn để chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở trường mầm non thì vấn đề học cách chế biến món ăn mới cho trẻ càng quan trọng hơn. Hiểu được điều đó nên tôi đã không ngừng học hỏi, tìm tòi qua những người xung quanh,

