Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chế biến món ăn cho trẻ trong Trường Mầm non

docx 34 trang Chăm Nguyễn 07/02/2026 130
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chế biến món ăn cho trẻ trong Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_che_bien_mon_an_cho_t.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chế biến món ăn cho trẻ trong Trường Mầm non

  1. - Đội ngũ nhân viên hiện đã có trình độ chuẩn 100% cô nuôi trẻ nhiệt tình năng động yêu nghề mến trẻ, sống đoàn kết có tinh thần trách nhiệm cao. - Học sinh: Số trẻ trong trường 100% trẻ đều ăn bán trú. - Nhiệt tình quan tâm đến các hoạt động của con em mình, và luôn lắng nghe các bài tuyên truyền bổ ích của nhà trường. - Bếp ăn đảm bảo theo bếp 1 chiều - Nhà trường ký hợp đồng với công ty Đông Dương Food có đầy đủ hồ sơ pháp lý. Khó khăn: - Tiền ăn của trẻ còn thấp, giá cả thực phẩm đắt đỏ, nên việc chế biến món ăn cond nhiều khó khăn. - Một số phụ huynh, học sinh quá cưng chiều con cái cho con ăn uống không khoa học dẫn đến trẻ biếng ăn, còn chưa quan tâm nhiều đến chất lượng bữa ăn trong trường mầm non. Số liệu điều tra trước khi thực hiện: Đầu năm Độ tuổi Cân nặng Trẻ suy dinh Chiều cao Trẻ suy dinh Tổng số trẻ bình thường dưỡng thể bình thường dưỡng thể nhẹ cân thấp còi Nhà trẻ 54 48 6 50 4 Mẫu giáo 186 178 8 180 6 Tổng 240 226 14 230 10 Tỉ lệ % 94,2 % 5,8% 95,8% 4,1%
  2. Qua bảng khảo sát đầu năm học cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng và thể suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn cao vì vậy tôi chọn đề tài một số biện pháp nâng chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề: 2.1 Giải pháp 1: Đảm bảo đủ lượng calo và cân đối tỷ lệ P – L- G Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi biếng ăn một vấn đề rất quan trọng trong cuộc sống mà các bậc phụ huynh cần quan tâm và chăm sóc cho các con, có rất nhiều phụ huynh quan tâm lo lắng đến mất ăn, mất ngủ. Tình trạng này là do cơ thể thiếu prote in và dưỡng chất. Những trẻ suy dinh dưỡng có chất đề kháng yếu dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất lẫn tinh thần. Chính vì vậy bên cạnh chế độ ăn uống khoa học chúng ta cần bổ xung thêm các loại thực phẩm giúp trẻ ăn ngon miệng mà còn giàu chất dinh dưỡng cho cơ thể của bé. Sau đây là các nguồn thực phẩm bổ, ngon giúp bé tăng cân mà tôi tìm hiểu và sử dụng trong các bữa ăn của bé. Tôi luôn cân đối chất béo vào các món ăn cho trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, vì lượng chất béo cung cấp gấp 2 lần lượng tinh bột và sử dựng thêm dầu gấc, dầu dừa là một trong loại thực phẩm giàu chất béo rất an toàn khi sử dụng và tốt cho sức khỏe của bé. Chúng ta chỉ cần thêm một trong những loại dầu này trong chế độ giúp trẻ ngon miệng và dễ hấp thu hơn, ngoài ra các loại hạnh nhân, lạc và các loại ngũ cốc cũng chứa nhiều vitamin, protein và chất béo. Năng lượng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của trẻ ở trường mầm non một ngày đi học của bé mẫu giáo: 615 - 726 kclo. Nhà trẻ: 600 – 651kclo. Nhà trẻ: P: 13 – 20 L: 30 – 40 , G: 47 – 50 Mẫu giáo: p: 13-20 L: 25-35 G: 52-60
  3. Vậy cần phải xây dựng thực đơn ở trường tốt để có chế độ ăn hợp lý đủ dinh dưỡng cho trẻ. Năng lượng được cung cấp chủ yếu từ bột đường (G) và chất béo (L) gluxits có trong các loại ngũ cốc và đường libits có nhiều trong dầu mỡ và các loại hạt có tinh dầu VD: Vừng, lạc Ngoài ra khi xây dựng thực đơn tôi đã cố gắng kết hợp các chất để chuyển hóa tốt nhất và đảm bảo kcalo VD: Thịt gà có tỷ lệ calo thấp nên kết hợp với canh bí đỏ, đỗ xanh nấu thịt lợn xay. Bữa phụ: mì gạo nấu thịt lợn xay protein đặc biệt quan trọng với trẻ em, cung cấp các nguyên liệu cần thiết cho sự tạo thành các dịch tiêu hóa, các nội tiết tố, các men, các vitamin. Các chất này giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa cũng như hoạt động sinh lý của các chức năng trong cơ thể. Ngoài ra protein là nguồn cung cấp năng lượng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng tế bào và các mô mà không có chất dinh dưỡng nào có thể thay thế được. Protein có nhiều trong thịt cá, trứng, sữa, đậu đỗ Vitamin B1có trong các loại cơm, cháo, vitamin B1 cần thiết cho việc tạo ra một loại men quan trọng tham gia vào quá trình chuyển hóa đường trong quá trình phát triển của con người. Chính vì vậy ta phải cân đối các bữa ăn cho trẻ từ khi còn nhỏ Bí đỏ, cà rốt, khoai tây là các loại hoa quả chứa nhiều vitamin và khoáng có tác dụng giúp ruột hoạt động đều, chống táo bón và thúc đấy sức khỏe, hỗ trợ miễn dịch trẻ. Cà rốt là 1 loại củ có thành phần dinh dưỡng cao có nhiều vita min và khoáng chất dồi dào đặc biệt là vitamin A. Biotin, vitamink, kaly và viataminB6. VitaminA có trong cà rốt có tác dụng làm sáng mắt quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển thúc đấy chức năng miễn dịch. Biotin thuộc nhóm vitaminB trước đây còn gọi là vitamin H đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa chất, chất béo và protein. Kaly một khoáng chất thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp. VitaminB6 là nhóm chất vitamin tham gia vào quá trình chuyển đổi thức ăn thành năng lượng.
  4. Các loại rau muống, bắp cải cung cấp nhiều chất khoáng, vitamin a và chất xơ cho cơ thể. Đặc biệt là rau ngót giàu vitamin nhóm B, nhiều đạm, nhiều vitaminc và betacrotene, lượng vi chất này sẽ được chuyển hóa trong cơ thể thành vitaminA giúp mắt trẻ thêm tinh anh và trẻ có sức khỏe tốt.Vitaminc giúp bé tăng cường sức đề kháng chống lại bệnh tật,Vitamin nhóm B trong rau ngót giúp bé tăng cường chuyển hóa đạm cần trong quá trình tăng trưởng nhanh. Hiểu được tác dụng tuyệt vời của các loại trái cây và rau củ quả rất tốt hơn giúp bé tăng cân và có sức khỏe tốt phòng chống được một số bệnh tật. Tinh bột, khoai Tây là một trong thành phần không thể thiếu được trong khẩu phần ăn của trẻ. Sự tăng trưởng và phát triển của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào hàm lượng tinh bột mà trẻ hấp thu mỗi ngày. Nếu muốn tăng cân cho bé thì bạn nên chọn thực phẩm giàu tinh bột, vì trong 47g bột chứa khoảng 200kg calo. Tất cả các nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng này đã được tôi cùng các chị em trong tổ nuôi,kế toán, giáo viên, Ban Giám hiệu nhà trường duyệt luôn tính hàm lượng calo mỗi ngày và đưa vào thực đơn cho bé một cách khoa học nhất.Vì trẻ không phát triển toàn diện là do người nuôi thiếu hiểu biết về vấn đề cơ bản các loại thực phẩm về dinh dưỡng cho trẻ tạo điều kiện cho trẻ được chăm sóc tốt nhất. Hình ảnh 1: Các thực phẩm cung cấp P-L-G 2.2 Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn theo mùa trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng. Để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ mầm non thì việc xây dựng thực đơn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là việc làm đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình lựa chọn thực phẩm trong các bữa ăn cho trẻ. Chất lượng của bữa ăn đảm bảo nguồn gốc, đảm bảo dinh dưỡng là vô cùng quan trọng giúp cho việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ một cách chủ động hơn. Xây dựng thực đơn đa dạng phong phú nhiều loại thực phẩm theo tuần chẵn lẻ đảm bảo an toàn thực phẩm và đầy đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ. Các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhận thức rõ được tầm quan trọng này trong thời gian thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng trong bếp ăn tôi cũng luôn thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm như: Đeo khẩu trang khi chia thực phẩm chín, kết
  5. hợp với nhà bếp trao đổi với các bậc phụ huynh về việc đảm bảo an toàn thực phẩm...vv. Năm học 2024-2025 tôi và các chị em trong tổ đã trực tiếp trao đổi với Ban giám hiệu về công tác chăm sóc nuôi dưỡng, mảng công việc mà tôi được phân công phụ trách, giúp bản thân nắm rõ được vấn đề và thực trạng tại nhà trường và để xây dựng, bổ sung kế hoạch lên thực đơn theo tuần chẵn, tuần lẻ, theo mùa c cung cấp đầy đủ trong các nguồn lương thực và các loại thực phẩm ăn hàng ngày và nhu cầu năng lượng của mỗi lứa tuổi được thay đổi theo thời gian. Ở người năng lượng ăn vào bằng năng lượng tiêu hao, còn trẻ nhỏ năng lượng ăn vào phải lớn hơn năng lượng tiêu hao vì trẻ em cần năng lượng dự trữ để phát triển. Trẻ từ 6 đến 12 tháng cần 600 đến 700kg calo/ngày. Trẻ từ 12 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi nhu cầu khuyến nghị năng lượng/ ngày/trẻ từ 930 đến 1000kg calo/ngày Trẻ từ 4- 6 tuổi cần 1500kg calo/ngày. Dựa vào căn cứ trên nên chế độ ăn trong ngày của trẻ chia làm 3- 4 bữa ăn hợp lý là 25% bữa sáng. Bữa trưa là 40% , bữa chiều là 15%. Tối là 20% vậy để có thể cung cấp năng lượng vitamin và khoáng chất theo nhu cầu của lứa tuổi của trẻ thì phải có chế độ ăn hợp lý với từng độ tuổi của trẻ. Tôi và các chị em trong tổ nuôi đã kết hợp với kế toán giáo viên, Ban giám hiệu làm tốt nhiệm vụ của mình là luôn thay đổi thực đơn theo mùa và được ban Giám hiệu rất quan tâm và đánh giá rất tốt về hàm lượng chất dinh dưỡng trong mỗi khẩu phần ăn của trẻ. Hình ảnh 2 : Thực đơn nhà trường 2.3. Giải pháp 3: Tham gia các phong trào thi đua, hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường, cấp huyện. Trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non, chất lượng bữa ăn đóng vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất, trí tuệ và sức khỏe của trẻ. Vì vậy, việc bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao tay nghề chế biến món ăn cho đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng luôn được Ban Giám Hiệu nhà trường đặc
  6. biệt quan tâm. Một trong những giải pháp hiệu quả để nâng cao kỹ năng chế biến món ăn là tổ chức phong trào thi đua “Nhân viên nuôi dưỡng giỏi” cấp trường. Đây không chỉ là sân chơi bổ ích giúp đội ngũ nhân viên thể hiện tay nghề mà còn là cơ hội để học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, góp phần cải thiện chất lượng bữa ăn cho trẻ. Mỗi nhân viên nuôi dưỡng sẽ thực hiện chế biến một hoặc nhiều món ăn theo yêu cầu, đảm bảo đủ 4 tiêu chí: Ngon – Sạch – Hấp Dẫn – Đảm Bảo Dinh Dưỡng. Trong năm học 2024-2025 tôi đã tham gia hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường và được giải nhất cấp trường. Tham gia Hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp huyện đạt gải ba. Qua hội thi giúp Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật chế biến món ăn cho nhân viên nuôi dưỡng, giúp nắm vững phương pháp nấu ăn khoa học, đảm bảo dinh dưỡng phù hợp với độ tuổi của trẻ. Xây dựng tinh thần thi đua, trách nhiệm và yêu nghề của nhân viên nuôi dưỡng, tạo động lực để họ không ngừng rèn luyện, cải thiện kỹ năng chuyên môn. Tạo cơ hội để nhân viên nuôi dưỡng giao lưu, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, từ đó áp dụng vào thực tế công việc để chế biến món ăn ngon hơn, chất lượng hơn. Nhờ sự tổ chức bài bản, phong trào thi đua “Nhân viên nuôi dưỡng giỏi” cấp trường, cấp huyện đã mang lại nhiều kết quả tích cực: Nâng cao kỹ năng chế biến món ăn của đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng, giúp nhân viên nuôi dưỡng thực hiện tốt hơn công việc hàng ngày. Xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện, giúp nhân viên nuôi dưỡng có thêm động lực, yêu nghề hơn. Phong trào thi đua “Nhân viên nuôi dưỡng giỏi” không chỉ là một cuộc thi mà còn là một hoạt động bồi dưỡng chuyên môn thiết thực, giúp đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng nâng cao tay nghề, sáng tạo trong chế biến món ăn, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ tại trường mầm non. Với tinh thần trách nhiệm cao, sự chủ động học hỏi và không ngừng đổi mới trong công tác nuôi dưỡng, chúng tôi luôn nỗ lực để mang đến cho trẻ những bữa ăn ngon, đầy đủ dinh dưỡng và đảm bảo an toàn thực phẩm, giúp trẻ phát triển khỏe mạnh và toàn diện.
  7. Hình ảnh 3: Hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi các cấp. 2.4. Giải pháp 4: Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non, nhà trường luôn chú trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng chuyên môn cho 100% nhân viên nuôi dưỡng. Đội ngũ cô nuôi được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn do Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức, cũng như các chương trình đào tạo về an toàn thực phẩm do Trung tâm Y tế huyện tổ chức. Ngoài ra, nhân viên nuôi dưỡng còn tham gia các buổi kiến tập chuyên môn tại các trường mầm non khác để học hỏi và nâng cao tay nghề. Để thực hiện tốt công việc của mình, mỗi nhân viên nuôi dưỡng không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn qua nhiều phương pháp khác nhau. Tôi đã chủ động nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm từ nhiều nguồn tài liệu nhằm chế biến ra các món ăn ngon, đảm bảo giá trị dinh dưỡng, hấp dẫn về màu sắc, thu hút trẻ ăn ngon miệng. Học qua tài liệu, sách báo chuyên ngành: Tôi tìm hiểu và tham khảo nhiều đầu sách có giá trị như "Cách chế biến món ăn cho trẻ mầm non", "Giáo trình dinh dưỡng trẻ em", Những tài liệu này không chỉ giúp tôi nâng cao kỹ năng chế biến món ăn mà còn trang bị kiến thức quan trọng về dinh dưỡng hợp lý, thực phẩm an toàn phù hợp với từng lứa tuổi. Tận dụng công nghệ và mạng internet: Tôi thường xuyên truy cập các trang web chuyên về dinh dưỡng, công thức nấu ăn cho trẻ mầm non, từ đó nghiên cứu và thử nghiệm chế biến các món ăn mới. Để đảm bảo chất lượng, tôi nấu thử nghiệm tại nhà, mời đồng nghiệp và gia đình đánh giá, góp ý nhằm điều chỉnh cách nấu trước khi áp dụng vào thực tế bếp ăn của trường. Ví dụ, tôi đã thử nghiệm các món ăn như thịt lợn, thịt bò hầm ngũ sắc, cháo tôm nấu bí đỏ, rau củ quả xào – vừa đảm bảo hương vị thơm ngon vừa cân bằng dưỡng chất. Học hỏi từ đồng nghiệp: Nhận thức được rằng kinh nghiệm thực tế đóng vai trò quan trọng, tôi tích cực trao đổi với các đồng nghiệp trong tổ nuôi dưỡng. Định kỳ hai tuần một lần, tổ nuôi tổ chức sinh hoạt chuyên môn để đánh giá, rút kinh nghiệm và cùng
  8. nhau sáng tạo, cải tiến thực đơn nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu dinh dưỡng và sở thích ăn uống của trẻ. Nhờ những phương pháp học tập và áp dụng thực tế này, tôi không ngừng nâng cao kỹ năng chế biến, đảm bảo mỗi bữa ăn không chỉ đầy đủ dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm mà còn giúp trẻ hứng thú và ăn ngon miệng hơn, góp phần vào sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn trí tuệ. VD: Như món chính trưa: Thịt lợn, thịt bò hầm ngũ sắc, cháo tôm nấu bí đỏ và các loại rau củ quả xào. Ngoài việc tham khảo tài liệu tôi còn học kinh nghiệm từ đồng nghiệp. Hàng tháng tổ nuôi chúng tôi sinh hoạt hai tuần trên một lần để rút ra kinh nghiệm và cùng nhau đưa ra những món ăn ngon, mới cải tiến hơn để phù hợp với trẻ. Hình ảnh 4: Tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn 2.5. Giải pháp 5: Nâng cao lựa chọn thực phẩm sạch nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ. Trường tôi thực hiện tốt khâu giao nhận thực phẩm nhất là rau củ đưa vào bếp ăn mới đảm bảo an toàn, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng và tránh được thất thoát thực phẩm và tiền ăn của trẻ. Chính vì đánh giá cao khâu giao nhận thực phẩm nên bản thân đã phối hợp tốt khâu giao nhận thực phẩm đúng quy định đủ các thành phần và có trách nhiệm cao trong thực hiện, tránh hời hợt hình thức. + Nhà trường chỉ đạo kế toán, cô nuôi, giáo viên: Giao, nhận thực phẩm đúng qui định, kiểm tra kỹ chất lượng, số lượng thực phẩm nhất là rau, củ xem tình trạng rau, củ qua hình thức bên ngoài, khi nhập có đảm bảo tươi mới, có dấu hiệu bị dập nát không? nếu không đảm bảo không cho nhập vào bếp. + Khi giao nhận thực phẩm phải có đầy đủ các thành phần như: đại diện ban giám hiệu, nhân viên kế toán, y tế, nhân viên nuôi dưỡng, giáo viên, ban thanh tra nhân dân kiểm tra đột xuất và có sự tham gia giao nhận của phụ huynh học sinh và yêu cầu chỉ nhận thực phẩm rõ nguồn gốc, chất lượng thực phẩm theo cảm quan phải đảm bảo tươi ngon, không bị dập nát
  9. + Người giao thực phẩm phải xuất trình đầy đủ các giấy tờ liên quan đến thực phẩm như: Giấy giao hàng phải ghi rõ ngày, tháng, năm; tên mặt hàng cung cấp, nguồn gốc thực phẩm, số lượng, chất lượng, giá cả, thành tiền và có dấu, ký tên đầy đủ. + Giao nhận thực phẩm nhân viên nấu chính phải ghi chép đầy đủ số lượng và tình trạng thực phẩm vào sổ kiểm thực 3 bước, hai bên phải ký nhận cùng chứng kiến của ban giám hiệu nhà trường hoặc đại diện phụ huynh. lựa chọn sản phẩm sạch đưa vào bếp ăn bán trú và chất lượng chế biến bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non thật sự là vấn đề đặc biệt quan trọng với mỗi nhà trường. Trong quá trình giao nhận thực phẩm, các thành viên giao nhận thực phẩm phải kiểm tra kỹ số lượng, chất lượng từng loại thực phẩm bằng kiểm tra cảm quan bên ngoài. Ví dụ: Rau củ quả: Còn nguyên vẹn, lành lặn, không dập nát trầy xước, không thâm nhũn ở núm cuống, có mầu sắc tự nhiên của rau quả, không úa, héo, không có các vết lấm tấm hoặc vết trắng, không có mùi lạ. Rau ăn lá: Không nên chọn những bó rau có màu xanh quá đậm, quá mướt, lá bóng mà nên chọn rau có màu xanh nhạt, cây rau có vẻ bình thường. Rau cải: Khi nhận thực phẩm cần kiểm tra kỹ, bằng cách bẻ ngang phần gốc, nếu thấy có nước từ thân tiết ra thì không nhập vào bếp ăn vì rau cải đã bị bón quá nhiều phân đạm, hàm lượng nitrat trong rau còn rất cao, nếu để thử quá 12 giờ thì thấy rau bị nẫu đen, ủng. Đối với củ, quả: không nhập những củ quá lớn, mà chọn những củ, quả có kích thước vừa phải, không chọn những trái da căng và có vết nứt, dọc theo thân, những trái da xanh bóng. Thịt lợn: Mặt cắt của thịt có màu hồng sáng, bì mỏng, mềm mại, thớ thịt săn, độ đàn hồi tốt. Lấy ngón tay ấn vào thịt, khi buông ra không để lại vết lõm tay. Thịt cầm chắc tay, không nhũn nhão, mỡ màu trắng trong đến hơi ngà, khi ngửi không có mùi lạ
  10. Thịt gà: Thịt gà có màu sắc tự nhiên từ trắng ngà đến vàng tươi, da kín lành lặn, không có vết bẩn và vết lạ. Mùi vị bình thường, đặc trưng của mùi gia cầm, không có mùi lạ, không có phẩm màu. Trứng: Vỏ sáng màu, có một lớp màng mỏng nổi lên những hạt giống như bụi phấn (Vỏ không bóng). Cầm trứng soi vào đèn hoặc ánh sáng, mặt trời thấy lòng trắng, lòng đỏ không phân biệt được rõ ràng, khối lòng đỏ chỉ hiện lên như một bóng mờ nằm ở chính giữa. Nếu thả xuống chậu nước, trứng tươi sẽ chìm, nằm ngang dưới đáy chậu. Cá: Mình cứng, vẩy sáng, óng ánh, mắt cá sáng, trong, đầy và sạch, mang cá màu đỏ tươi, không nhớt, thịt cá có tính đàn hồi tốt. Sau khi đã giao nhận thực phẩm xong, giười giao hàng phải ký tên vào sổ giao nhận thực phẩm của nhà trường. Giáo viên, nhân viên tuyệt đối không được nhận các thực phẩm không rõ nguồn gốc và không ghi đủ các thông tin trong giấy biên nhận, sau đó từng bộ phận ký vào sổ giao nhận. Qua chỉ đạo của BGH bản thân tôi và các chị e trong tổ nuôi lựa chọn được rất nhiều món ăn mới, ngon, phù hợp với khẩu vị của trẻ và cùng đưa ra tham khảo trong buổi sinh hoạt tổ nuôi, tham mưu với hiệu trưởng để xây dựng thực đơn theo tuần chăn, tuần lẻ phù hợp với địa phương. Hình ảnh 5: Giao nhận thực phẩm 2.6 Giải pháp 6: Làm tốt công tác tham mưu với Ban giám hiệu, phối kết hợp với gia đình và cộng đồng. Để nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ trong trường mầm non, ngay từ đầu năm học, Ban Giám hiệu chủ động tham mưu với các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương và phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể, cộng đồng nhằm tuyên truyền sâu rộng về công tác nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ. Nhà trường đặc biệt chú trọng công tác phối hợp với phụ huynh, xem đây là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ. Để nâng cao nhận thức của phụ huynh, giáo viên và nhân viên thường xuyên thực hiện tuyên truyền qua nhiều hình
  11. thức đa dạng, linh hoạt như: nhóm Zalo của lớp, hệ thống loa truyền thanh địa phương, các buổi họp phụ huynh, hoạt động ngoại khóa, bảng tin nhà trường và các góc tuyên truyền tại lớp học. Nội dung tuyên truyền tập trung vào chế độ dinh dưỡng hợp lý, kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh theo mùa, cũng như thực hiện các khuyến nghị của ngành y tế về chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, nhà trường phối hợp với các cơ quan y tế và phòng giáo dục để triển khai các công văn hướng dẫn về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh và tổ chức các buổi tư vấn, hội thảo nhằm giúp phụ huynh nắm rõ hơn về chế độ dinh dưỡng khoa học cho trẻ. Đặc biệt, phụ huynh được khuyến khích áp dụng "10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý" trong việc chăm sóc con em mình, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ. Sự gắn kết giữa nhà trường và gia đình không chỉ giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ mà còn góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ phát triển toàn diện. 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị Sau khi áp dụng sáng kiến tại đơn vị tthu được kết quả như sau: Khảo sát thực tế sau khi thực hiện đề tài và so sánh: Độ Khảo sát lần 1 đầu năm Khảo sát lần 2 cuôi năm tuổi Tổng số Cân Trẻ Chiều Trẻ Cân Trẻ Chiều Trẻ trẻ nặng SDD cao SDD nặng SDD cao bình SDD binh thể bình thể binh thể thường thể thường nhẹ thường thấp thường nhẹ thấp cân còi cân còi