Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chăm sóc giáo dục sức khỏe ban đầu cho học sinh Tiểu học
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chăm sóc giáo dục sức khỏe ban đầu cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_cham_soc_giao_duc_suc.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chăm sóc giáo dục sức khỏe ban đầu cho học sinh Tiểu học
- III. NỘI DUNG SÁNG KIẾN : Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe học đường bao gồm: - Yếu tố môi trường: Môi trường tự nhiên, xã hội mà con người sống trong đó ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người. Bệnh tật có thể phát sinh, phát triển trong điều kiện môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, môi trường xã hội không lành mạnh. Các tác nhân vi sinh vật, vật lí, hóa học, văn hóa, kinh tế -xã hội - Yếu tố lối sống: Thói quen sinh hoạt không ngăn nắp, không gọn gàng, giữ vệ sinh cá nhân không tốt là nguy cơ mắc nhiều loại bệnh, tật. - Yếu tố kinh tế: Điều kiện kinh tế không tốt, cuộc sống nghèo khó, thiếu ăn thiếu mặc thì bệnh, tật dể bùng phát. - Yếu tố vệ sinh chung: Những nơi điều kiện vệ sinh chung không tốt, vệ sinh học đường không được quan tâm thì dể lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm, hoặc các loại tật gia tăng. Nắm rõ được các yếu tố trên tôi đã thực hiện một số biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầu như sau : 1. Về công tác tổ chức: Tham mưu với ban giám hiệu thành lập Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe trường học: * Trưởng ban: - Bà: Nguyễn Thị Thủy - Hiệu trưởng * Phó Trưởng ban : - Mời Ông : Y Xuân Buôn - Trạm trưởng Trạm Y tế * Thường trực : -. Bà : Nguyễn Thị Hải Yến - Cán bộ Y tế * Thành viên: - Bà: Trần Thị Khánh Hưng - Tổ Trưởng Tổ 1 - Bà : Trần Thị Đường - Tổ Trưởng Tổ 2 - Bà : Lê Thị Giang - Tổ Trưởng Tổ 3 - Ông : Bùi Văn Phương - Tổ Trưởng Tổ 4 - Bà : Phạm Thị Ngọc Chung - Tổng Phụ Trách Đội - Ông : Nguyễn Đức Quang - Bí thư chi đoàn - Mời Bà : Lương Thị Quẩn - Hội trưởng Hội CMHS * Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe trường Tiểu học Trần Phú có nhiệm vụ: - Lập kế hoạch xây dựng hoạt động Y tế học đường. Tổ chức thực hiện các chương trình bảo vệ và chăm sóc sức khỏe do ngành y tế và giáo dục triển khai hàng năm. - Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, tích cực đảm bảo an toàn về mặt sức khỏe cho CB-GV-NV và Học sinh. - Tích cực tuyên truyền phòng chống dịch bệnh. Thường xuyên trực sơ cứu, xử lý ban đầu các bệnh thông thường. Tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho học sinh. - Thực hiện tốt về vệ sinh môi trường sạch đẹp, an toàn học đường. - Báo cáo sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình sức khỏe học sinh. 2. Về công tác quản lý, chăm sóc sức khỏe cho học sinh - Xây dựng kế hoạch cho từng năm, tháng, tuần. - Lập các loại hồ sơ sổ sách cần thiết phục vụ công tác quản lý sức khỏe và chăm sóc sức khỏe. 3
- Mục đích lập sổ sách này để tiện quản lý theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe học sinh, theo dõi sức khỏe và diễn biến bệnh của từng em trong từng năm học và suốt khóa học. Trong năm học tôi đã tự lập các loại sổ sách sau: + Lập sổ theo dõi sức khỏe học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 bao gồm các nội dung: cân nặng, chiều cao, thị lực, sâu răng, da liễu, viêm họng, viêm almydal, tiền sử bệnh (bản thân học sinh và gia đình có ai mắc các bệnh mãn tính)... của từng năm học để tiện theo dõi và so sánh. + Sổ khám và điều trị bệnh tại trường: ghi kết quả chẩn đoán bệnh cấp thuốc và theo dõi điều trị học sinh bệnh hàng ngày + Sổ kiểm tra vệ sinh, + Sổ tuyên truyền về các dịch bệnh hàng tháng. + Sổ cấp phát thuốc hằng ngày. + Sổ tổng hợp nhập, cấp phát thuốc từng tháng; + Sổ theo dõi thuốc, hạn dùng, trang thiết bị y tế. Trên cơ sở những sổ sách này tôi có thể báo cáo tình hình cụ thể cho lãnh đạo khi cần, đồng thời đây là cơ sở có sức thuyết phục trong công tác tham mưu có hiệu quả, thuận tiện cho công việc của mình. - Phối hợp chặt chẽ với trạm y tế xã để tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho học sinh ít nhất một lần trong một năm học và ngay từ đầu năm học đã thực hiện khám đạt tỷ lệ 100% . Phát hiện và thông báo các trường hợp mắc bệnh về gia đình để có biện pháp giải quyết điều trị kịp thời. - Thực hiện sơ cứu, cấp cứu, chăm sóc sức khoẻ ban đầu theo quy định hiện hành. Chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế trong những trường hợp cần thiết. Có cơ chế phối hợp với cơ sở y tế trong việc chăm sóc, điều trị đối với các học sinh mắc bệnh mãn tính. - Có thông báo cho cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ của học sinh về tình hình sức khỏe học sinh. Có kế hoạch chăm sóc và điều trị cho học sinh có vấn đề sức khỏe. ( Hình ảnh trạm y tế khám sức khỏe cho các em ) - Thực hiện tốt công tác chuyên môn khám, điều trị và chăm sóc học sinh bệnh hàng ngày. Việc xử lý sơ cấp cứu các tai nạn đột xuất: Các em học sinh đa số tuổi còn nhỏ ham chơi nên thường xảy ra tai nạn: ngoài việc chuẩn bị sẵn dụng cụ sơ cứu vết 4
- thương, sơ cứu gãy xương, bản thân tôi phải bình tĩnh xử lý nhanh đặc biệt tránh sai sót chuyên môn tôi không vội sử dụng thuốc giảm đau mà pha cho các em một ly nước trà đường nóng cho uống đồng thời động viên nhẹ nhàng cho học sinh yên tâm bớt sợ hãi, nếu vượt quá khả năng thì chuyển bệnh viện ngay. Để tránh bỏ sót học sinh bệnh không chịu khai báo bản thân tôi hàng ngày phải đi từng phòng vào buổi sáng trước giờ lên lớp đi kiểm tra phát hiện có học sinh nào có biểu hiện khác thường để kịp thời động viên và hỏi xem có khó chịu ở đâu, đau chỗ nào rồi tôi khám bệnh cho uống thuốc nếu nhẹ thì động viên các em lên lớp học. Đôi khi có những em đau đầu mệt mỏi chán học tôi chỉ cần pha cho em một ly nước chanh đường uống xong động viên, phân tích cho em thấy em không bị bệnh chỉ mệt mỏi đôi chút nên em đó lại tiếp tục lên lớp học bình thường. Nhưng cũng có khi có em bị bệnh thì rất hoang mang khóc lóc, đòi về nhà làm ảnh hưởng tới học sinh khác, tôi phải động viên, an ủi các em đồng thời phân tích cho các em thấy những bạn khác nhỏ hơn, bệnh nặng hơn mà không khóc, đã cố gắng ăn uống đầy đủ và uống thuốc là khỏi bệnh và đi học bình thường. Động viên và tạo niềm tin cho các em và chăm sóc tận tình các em như cha mẹ các em ở nhà, từ đó học sinh yên tâm bệnh sẽ mau khỏi. 3. Về công tác nha học đường: Tổ chức khám răng định kỳ cho học sinh. Khám lồng ghép với đợt khám sức khỏe chung. Phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh răng miệng: sâu răng, viêm lợi. Tuyền truyền giáo dục nha khoa, dạy cho học sinh cách phòng bệnh răng miệng, bỏ các thói quen xấu ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe răng miệng. Hướng dẫn cho học sinh cách chải răng đúng phương pháp. 4. Về công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ, vận động học sinh Công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe là mấu chốt quan trọng trong công tác quản lý và chăm sóc sức khỏe học sinh. Vì vậy tôi luôn cố gắng tìm tài liệu, cung cấp đầy đủ các thông tin khoa học về sức khỏe. - Xây dựng nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe học sinh về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, bệnh tật học đường, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS, tai nạn thương tích, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo hiểm y tế, kỹ năng sống và hành vi lối sống có hại cho sức khỏe. - Tổ chức các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trong buổi sinh hoạt dưới cờ. Tuyên truyền phòng chống các dịch bệnh theo mùa như: cúm, đau mắt đỏ, sốt phát ban, tiêu chảy, thủy đậu, Tay chân miệng, sốt rét, sốt xuất huyết , phòng chống các bệnh học đường: cận thị, gù vẹo cột sống Qua các buổi tuyên truyền giúp các em học sinh hiểu được nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng chống dịch bệnh. Tuyên truyền về cách phòng tránh tai nạn thương tích và tai nạn học đường. Sau mỗi bài tuyên truyền tôi thường đưa ra những ví dụ cụ thể, liên hệ thực tế và câu hỏi thu hoạch để các em khắc sâu những kiến thức vừa được nghe - Xây dựng góc tuyên truyền có tranh ảnh tuyên truyền giáo dục tư vấn sức khỏe cho học sinh tại phòng y tế của nhà trường. - Xây bảng tin đăng tải các nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe cho học sinh. - Tổ chức các hoạt động hưởng ứng các tháng hành động do ngành giáo dục, ngành y tế và các ban ngành địa phương phát động. - Vận động học sinh tham gia BHTT và nộp thẻ BHYT phô tô. 5
- ( Hình ảnh tuyên truyền dưới cờ ) (Hình ảnh góc tuyên truyền) 5. Về công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, công tác phòng dịch bệnh là công việc rất quan trọng, muốn làm tốt điều này phải nắm bắt tình hình dịch bệnh qua các phương tiện thông tin đại chúng, tình hình dịch bệnh tại địa phương nơi học sinh ở và địa bàn xung quanh nhà trường để ta có thể chủ động phòng chống bệnh một cách thuận lợi hơn, đồng thời chuẩn bị sẵn tâm lý cho học sinh và đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên đối phó với dịch bệnh, quản lý được người bệnh phòng chống lây lan rộng trong môi trường trường học. - Xây dựng kế hoạch triển khai tuyên truyền các quy định về vệ sinh phòng chống bệnh truyền nhiễm và phối hợp với các đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện. - Thông tin, báo cáo kịp thời khi có dấu hiệu bệnh truyền nhiễm xảy ra trong trường học với các cấp có thẩm quyền theo quy định. - Phối hợp với các cơ sở y tế và các đơn vị có liên quan để triển khai các biện pháp phòng chống dịch kịp thời khi có dịch xảy ra. - Phối hợp với trạm y tế xã triển khai các chương trình tiêm chủng, tẩy giun trong trường học, tiêm sởi Rubenla 6
- ( Hình ảnh chiến dịch tiêm phòng bệnh Sởi ) - Hướng dẫn các em học sinh giữ vệ sinh cá nhân phòng chống bệnh dịch rữa tay với xà phòng tuyệt khuẩn. ( Hình ảnh các em rửa tay phòng tránh dịch bệnh) 6. Về công tác bảo đảm an toàn phòng chống tai nạn, thương tích - Thực hiện các quy định về việc bảo đảm an toàn phòng chống tai nạn, thương tích trong nhà trường. - Không có học sinh bị thương tích nặng phải nằm viện do tai nạn, thương tích xảy ra trong nhà trường. - Báo cáo tình hình tai nạn thương tích của học sinh theo quy định. * Hình ảnh tranh vẽ các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ: - Hình ảnh/tranh vẽ các yếu tố nguy cơ gây ngã cho trẻ 7
- Ngã do chạy xô đẩy nhau Ngã do nển nhà trơn ở trường trượt Ngã do chạy vấp ngã Nguy cơ ngã do đứng cạnh lan can thấp Ngã do với đồ cầu thang Ngã do trèo cây - Hình ảnh về nguy cơ bỏng: - Tranh ảnh về biện pháp dự phòng bỏng: 8
- Khi bị bỏng nước sôi hãy ngâm tay Để phích nước lên cao ngoài dưới vòi nước lạnh ít nhất 20 phút tầm với của trẻ - Tranh ảnh phòng chống điện giật, tai nạn giao thông, đuối nước: Làm các ổ điện cao, kiểm tra thường Không chơi thể thao ở trên đường, xuyên, không cho trẻ nghịch hè phố 7. xuyênVề công tác giáo dục học sinh vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường xung quanh: Việc giáo dục trẻ ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường xung quanh cần phải thực hiện thường xuyên thông qua những hoạt động cụ thể, sinh động, dần dần hình thành các thói quen tốt trong bảo vệ môi trường. Giáo dục trẻ ý thức giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh phòng học, không xả rác, không viết vẽ lên tường, bàn ghế. Đây là những việc làm nhằm góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho các bé thấy được trách nhiệm giữ gìn vệ sinh trường lớp, tạo cảnh quan trường thật sự Xanh - Sạch - Đẹp, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh để mọi người được hít thở không khí trong lành. + Giáo dục các em giữ gìn vệ sinh cá nhân: - Các em đến trường phải sạch sẽ, quần áo gọn gàng, không để móng tay dài, không đi chân đất. Mùa hè nắng nóng mặc quần áo mát, ra ngoài đội mũ nón, mùa đông mặc áo ấm. - Đại tiểu tiện đúng nơi quy định. - Trong giờ học học sinh phải giữ yên lặng, ngồi đúng tư thế. 9
- - Không vứt rác bừa bãi, phải bỏ rác vào thùng rác, đúng nơi quy định. + Giáo dục các em giữ gìn vệ sinh trường, lớp: - Giáo dục các bé có ý thức giữ gìn vệ sinh lớp học, trường học, khu nhà vệ sinh và bên ngoài cổng trường. - Cần phải giáo dục cho các bé những thói quen tốt không vứt rác trong phòng học, ngoài sân trường, không ném rác trên đường đi, khi thấy rác trước mặt phải nhặt và bỏ rác đúng nơi quy định. - Không viết vẽ bậy trên bàn, trên tường, giáo dục các bé có ý thức bảo vệ tài sản chung và cảnh quan trong trường học. - Đặc biệt chú trọng khu nhà vệ sinh phải tuyệt đối thông thoáng, sạch sẽ, hàng ngày vệ sinh khử khuẩn thường xuyên. + Giáo dục các em giữ gìn vệ sinh môi trường: - Khi tổ chức cho các bé đi chơi ngoài trời, dạo chơi, tham quan, du lịch, phải nhắc nhở các bé không nên vứt bừa bãi, vỏ hoa quả, vỏ sữa, chai lọ, vỏ kẹo nên bỏ đúng nơi có thùng rác. - Khi nhìn thấy người khác vứt rác không đúng chỗ, nên nhắc nhở lịch sự để giữ gìn nhà trường luôn sạch đẹp. - Tổ chức cho các em làm những việc vừa sức để bảo vệ môi trường: Nhặt lá rụng, nhặt rác, tưới cây, chăm sóc cây . - Tổ chức các buổi tổng vệ sinh môi trường, hướng dẫn các em học sinh đổ rác và xử lý rác đúng nơi quy định. 10
- 8. Về công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, dinh dưỡng - Xây dựng kế hoạch tuyên truyền vệ sinh, an toàn thực phẩm, dinh dưỡng cho học sinh. Hướng dẫn các em học sinh thực hiện ăn chín, uống sôi và rửa tay trước khi ăn, ăn phải đảm bảo đủ no, đủ chất nhất là bổ xung thêm muối I ốt vào khẩu phần ăn để tránh bệnh bướu cổ. Không để xảy ra ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm trong nhà trường. 9. Về công tác phối kết hợp Bản thân tôi đã ý thức được công tác quản lý và chăm sóc sức khoẻ nhưng bên cạnh đó tôi cần có sự phối kết hợp : + Đối với trạm y tế : Luôn phối hợp chặt chẽ trong việc theo dõi, phát hiện, xử lý kịp thời tình hình dịch bệnh và khám sức khỏe định kỳ cho học sinh + Đối với lực lượng giáo viên : đây là lực lượng giáo dục và có uy tín với học sinh, họ có thể giúp tôi nắm bắt tâm tư tình cảm, đồng thời giáo dục sâu sắc có hiệu quả nhất ở đơn vị lớp về nội dung giáo dục sức khỏe lồng ghép trong các môn học của họ phụ trách giảng dạy . Bên cạnh đó, giáo viên đứng lớp là người trực tiếp phát hiện học sinh ngồi học không đúng tư thế, phát hiện các biểu hiện bất thường về sức khỏe thì thầy cô nhắc các em điều chỉnh tư thế ngồi, thông báo tình hình sức khỏe của từng lớp và tình hình thực hiện vệ sinh của lớp họ. + Đối với Tổng phụ trách đội, đoàn thanh niên : Phối hợp với họ để làm tốt công tác xây dựng môi trường “Xanh-Sạch-Đẹp”, thực hiện vệ sinh, giáo dục đạo đức, nền nếp học sinh. 10. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị: Nhà trường có phòng y tế riêng và trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị, dụng cụ, tủ thuốc y tế để giải quyết kịp thời các bệnh thông thường và sơ cấp cứu ban đầu những tai nạn xảy ra trong thời gian học sinh tham gia các hoạt động tại trường. Phòng y tế là nơi thực hiện các hoạt động chăm sóc và nâng cao chất lượng sức khỏe cho học sinh chính vì vậy cần phải đảm bảo sạch sẽ, thoáng mát. + Vệ sinh môi trường học tập - Bảo đảm có sân chơi, sân tập và cây xanh. Diện tích để trồng cây xanh bảo đảm từ 20% đến 40%; Diện tích để làm sân chơi, sân tập từ 40% đến 50% so với tổng diện tích của nhà trường. - Có các dụng cụ thu gom và xử lý rác theo quy định. Có thùng rác hoặc nơi chứa rác tập trung được che chắn. Mỗi phòng học, phòng làm việc phải được làm vệ sinh trước giờ học và có sọt chứa rác. - Hệ thống cống, rãnh để dẫn thoát nước mưa, nước thải bảo đảm kín không rò rỉ, ứ đọng gây ô nhiễm môi trường. - Giáo viên, cán bộ, công nhân viên, học sinh không hút thuốc lá trong khuôn viên nhà trường. 11
- ( Hình ảnh phòng y tế ) + Phòng học - Lớp học phải đảm bảo đủ ánh sáng, ấm áp về mùa đông và thoáng mát về mùa hè. Bàn ghế cho học sinh ngồi học phải đảm bảo đúng quy cách, đúng kích thước theo từng lứa tuổi, bảng và phấn viết hợp vệ sinh - Bảo đảm thông gió tự nhiên, mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Phòng học có hệ thống thông gió nhân tạo như quạt trần, quạt thông gió treo cao trên mức nguồn sáng. - Được chiếu sáng tự nhiên đầy đủ, bảo đảm độ chiếu sáng đồng đều không dưới 100 lux. Riêng phòng học có học sinh khiếm thị thì độ chiếu sáng không dưới 300 lux. 12
- - Phòng học phải bảo đảm yên tĩnh. Tiếng ồn trong phòng học không được quá 50 đêxiben (dB). - Phòng thiết bị, phòng học bộ môn và các phòng chức năng bảo đảm chiếu sáng đồng đều từ 150 lux đến 200 lux. Các đường dẫn điện, khí đốt, các ổ cắm điện, hệ thống xử lý nước thải đặc biệt là hóa chất bảo đảm an toàn cho học sinh và môi trường khi làm thí nghiệm. Các phòng phải có nội quy sử dụng theo quy định. + Bàn ghế, bảng học - Bàn ghế phải đủ rộng, chắc chắn, các góc cạnh bàn, ghế phải tròn, nhẵn bảo đảm an toàn. Kích thước (chiều cao, bề rộng, chiều sâu) của bàn và ghế bảo đảm theo quy định hiện hành. - Bảng học cần được chống loá. Kích thước, màu sắc, vị trí treo bảng theo quy định hiện hành. + Nhà vệ sinh - Bảo đảm số lượng nhà tiêu, hố tiểu theo quy định. Bình quân từ 100 đến 200 học sinh trong một ca học có 1 hố tiêu (nam riêng, nữ riêng, giáo viên riêng, học sinh riêng). - Công trình vệ sinh phải đảm bảo sạch sẽ, luôn được lau rửa thường xuyên, hệ thống cống rãnh thoát nước tốt. + Trang thiết bị và thuốc - Có tủ thuốc được trang bị các loại thuốc thiết yếu; có sổ quản lý, kiểm tra và đối chiếu xuất, nhập thuốc theo quy định. IV. HIỆU QUẢ MANG LẠI : Do nắm được vai trò quan trọng về vấn đề sức khỏe của học sinh nên những việc làm trên đã được triển khai thường xuyên. Dựa trên tiêu chuẩn đánh giá sức khỏe cho thấy tình hình sức khỏe của các em ngày được nâng cao. Nhờ công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe được tiến hành thường xuyên, cùng với việc phối hợp thực hiện tốt công tác phòng dịch nên đã kiểm soát tốt không để dịch bệnh lây lan trong trường học. Việc quản lý sức khỏe học sinh được cải tiến, có hiệu quả cao, hàng ngày theo dõi chặt chẽ sức khỏe học sinh, không có biến cố bất thường. Trong các đợt dịch bệnh tại địa phương đã kiểm soát được dịch bệnh trong trường học, chất lượng sức khỏe học sinh nâng cao, khi học sinh phát bệnh nặng, cấp tính được phát hiện kịp thời, chuyển tuyến trên điều trị nhanh chóng phục hồi. Đặc biệt các bệnh học đường như: cận thị 13

