Sáng kiến kinh nghiệm Lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng giờ học môn Giáo Dục Thể Chất cho học sinh Khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng giờ học môn Giáo Dục Thể Chất cho học sinh Khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_lua_chon_bien_phap_nang_cao_chat_luong.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng giờ học môn Giáo Dục Thể Chất cho học s.pptx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng giờ học môn Giáo Dục Thể Chất cho học sinh Khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh
- PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU Giáo dục thể chất (GDTC) trong các trường phổ thông cơ sở là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nền giáo dục và đào tạo Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” cho đất nước, đồng thời góp phần tạo ra những con người mới có sức khoẻ, và phẩm chất đạo đức tốt để đáp ứng được nhu cầu đổi mới sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay công tác GDTC trong nhà trường là một việc hết sức cần thiết, nó gắn liền và thực hiện mục tiêu của giáo dục và đào tạo theo tinh thần nghị quyết trung ương 2 khoá VIII về đào tạo giáo dục và khoa học công nghệ, trong đó khẳng định “Giáo dục và đào tạo phải cùng với khoa học và công nghệ thực sự trở thành quốc sách hàng đầu...” Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện. Không chỉ phát triển về trí tuệ trong sáng về đạo đức và lối sống và còn phải là con người cường tráng về thể chất”... . Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: GDTC là môn học bắt buộc, được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12. Môn GDTC góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, trọng tâm là: trang bị cho học sinh kiến thức và kĩ năng chăm sóc sức khoẻ; kiến thức và kĩ năng vận động; hình thành thói quen tập luyện, khả năng lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực và tố chất vận động; trên cơ sở đó giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với các điều kiện sống, sống vui vẻ, hoà đồng với mọi người. Nội dung chủ yếu của môn GDTC là rèn luyện kĩ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho học sinh bằng những bài tập thể chất đa dạng như: các bài tập đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và kĩ năng phòng tránh chấn thương trong hoạt động thể dục thể thao. Tuy nhiên trên thực tế, công tác GDTC cho học sinh trong các nhà trường 3
- hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập; Chất lượng GDTC nhiều nơi còn thấp, giờ dạy GDTC còn đơn điệu, thiếu sinh động, mang tính hình thức. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác GDTC trong trường học các cấp, nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực TDTT đã quan tâm nghiên cứu tới vấn đề này. Theo kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực GDTC cho học sinh phổ thông của nhiều tác giả trong những năm gần đây thì giờ học, buổi học, buổi tập TDTT là hình thức tổ chức cụ thể nhất của quá trình GDTC, thông qua giờ học GDTC, người học mới được truyền thụ kiến thức bồi dưỡng kỹ năng vận động, rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe cũng như giáo dục nhân cách... Chính vì vậy công tác GDTC trong trường học các cấp muốn có kết quả tốt, trước tiên phải phấn đấu nâng cao chất lượng từng buổi học, buổi tập luyện cụ thể. Chất lượng của giờ học thể dục thể hiện ở kết quả của các mặt giáo dục về kiến thức, kỹ thuật, thể lực và nhân cách theo yêu cầu nhiệm vụ buổi học và chương trình qui định. Chất lượng giờ học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Hình thức tổ chức lên lớp, phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, dụng cụ, sân bãi phục vụ giảng dạy học tập, tính tự giác tích cực của học sinh... Trường THCS Bồng Lai nằm trên địa bàn Thị xã Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh. Được sự quan tâm của Ban giám hiệu Nhà trường, trong những năm gần đây, công tác GDTC cho học sinh đã được quan tâm đáng kể, Nhà trường đã thành lập các đội tuyển thể thao tham gia thi đấu các giải phong trào trên địa bàn Thị xã cũng như tỉnh, phong trào TDTT ngoại khóa cũng được quan tâm phát triển. Tuy nhiên, chất lượng giờ học Thể dục nội khóa, theo đánh giá của các giáo viên Thể dục lại chưa được quan tâm thích đáng dẫn tới hiệu quả công tác GDTC chưa cao. Trên cơ sở phân tích tầm quan trọng và tính bức thiết của vấn đề, tôi tiến hành: “ Lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng giờ học môn Giáo Dục Thể Chất cho học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh”. 4
- PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.Thực trạng chất lượng giờ học giáo dục thể chất trường THCS Bồng Lai và tính cấp thiết 1.1 Thực trạng công tác dạy và học môn GDTC. a. Thuận lợi: - Về phía nhà trường: + Được sự chỉ đạo, quan tâm kịp thời của, BGH có những kế hoạch cụ thể, lâu dài trong lĩnh vực GDTC. + Nhà trường có 02 giáo viên chuyên môn GDTC có trình độ từ Đại học trở lên - Về phía học sinh: + Đa số các em HS đều hiếu học, có ý thức tự giác cao trong học tập. + Tích cực tham gia hoạt động ngoại khóa các câu lạc bộ TDTT góp phần phát triển toàn diện. - Về phía phụ huynh: + Đa số phụ huynh quan tâm đến việc hoạt động TDTT của con em mình. b. khó khăn: - Học sinh vừa phải hoàn thành chương trình chính khóa vừa phải học chương trình bồi dưỡng chất lượng mũi nhọn, thi vào lớp 10 nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập GDTC. - GDTC là môn học đòi hỏi phải tập luyện thường xuyên liên tục với cường độ cao, mệt mỏi kéo dài dẫn đến học sinh không thích học môn GDTC. - Nhà trường chưa có nhà đa năng, chưa có sân bãi tập luyện chuyên biệt, trang thiết bị dụng cụ tập luyện còn thiếu. 1.2. Thực trạng chất lượng môn học Giáo dục thể chất của học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh Việc đánh chất lượng môn học GDTC của học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh dựa trên các tiêu chí sau: - Kết quả môn học GDTC của học sinh khối 8 trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh. 5
- - Trình độ thể lực của học sinh khối 8 trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh - Mức độ hứng thú của học sinh khối 8 trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh trong giờ học GDTC Thông qua kết quả phỏng vấn, các test kiểm tra đánh giá thể lực và kết quả học tập của học sinh đã đưa ra được thực trạng chất lượng học tập của học sinh trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh . Kết quả được trình bày tại các bảng 1.1; 1.2; 1.3; như sau: Bảng 1.1. Thực trạng kết quả môn học GDTC của học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh (n=139) Kết quả TT Số lượng Đánh giá mi % Đạt 139 100 1 (n= 139) Chưa đạt 0 0 Bảng 1.2. Thực trạng trình độ thể lực của học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh (n=139) Nội dung kiểm tra Nằm ngửa Chạy con Chạy Tiêu chuẩn / Đối Bật xa Chạy gập thoi 4 x tùy sức tượng tại chỗ 30m XPC bụng 10m 5 phút (cm) (giây) (lần/30 (giây) (m) giây) Số lượng 39 18 40 35 29 Tốt % 28.06 12.95 28.78 25.18 20.86 Số lượng 80 109 81 94 80 Đạt % 57.55 78.42 58.27 67.63 57.56 Không Số lượng 20 12 18 10 30 6
- đạt % 14.39 8.63 12.95 7.19 21.58 Bảng 1.3. Thực trạng Mức độ hứng thú của học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh trong giờ học GDTC (n=139) Kết quả Đánh giá mi % Rất hứng thú 27 19.43 Hứng thú 35 25.18 Bình thường 45 32.37 Không hứng thú 32 23.02 1.3. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Qua bảng 1.1 cho thấy: Kết quả học tập môn học GDTC của học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh đều ở mức độ đạt. Cũng cần nói rõ rằng, việc đánh giá học sinh ở mức đạt chỉ cần đảm bảo ít nhất một trong hai điều kiện: Thực hiện được cơ bản các yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra và Có cố gắng, tích cực học tập và tiến bộ rõ rệt trong thực hiện các yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra chứ không yêu cầu học sinh phải thực hiện tốt các nội dung. Chính vì vậy, việc phân loại học sinh là chưa tốt. Qua bảng 1.2 cho thấy: Tỷ lệ học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh không đạt tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo chiếm tỷ lệ còn cao, trong đó tỷ lệ học sinh không đạt cao nhất ở chỉ tiêu đáng giá sức bền. Qua bảng 1.3 cho thấy: Tỷ lệ học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh có thái độ, ý thức học tập rất hứng thú và hứng thú còn dưới 50% tổng số học sinh, trong khi đó, tỷ lệ học sinh có thái độ không hứng thú học tập còn khá cao 23.02%. 7
- Như vậy, có thể thấy, chất lượng giờ học môn GDTC của học sinh khối 8 trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh còn chưa cao. Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành “ Lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng giờ học môn Giáo Dục Thể Chất cho học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh”. 2. Biện pháp nâng cao chất lượng giờ học Giáo dục thể chất cho học sinh khối 8 trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh. Thông qua phân tích các tài liệu tham khảo, Tôi đã nghiên cứu các nguyên tắc cũng như các đặc điểm trong huấn luyện từ các tài liệu khác nhau như: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, sách giáo khoa GDTC cho học sinh THCS, sách lý luận và phương pháp TDTT, sách sinh lý TDTT, các công trình nghiên cứu về TDTT và đặc biêt là về giờ học thể dục trong trường học các cấp Từ đó hiểu sâu hơn nguyên tắc lựa chọn các biện pháp, phù hợp với đối tượng cụ thể. Trên cơ sở các tài liệu đã nghiên cứu, Tôi xác định có 4 nguyên tắc khi xây dựng các biện pháp là: - Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn: Các biện pháp phải xuất phát từ thực tiễn của đất nước, của ngành và của Trường THCS Bồng Lai - Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ: Các biện pháp phải đa dạng nhiều mặt và trực diện giải quyết các vấn đề của thực tiễn - Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi: Các biện pháp đề xuất phải có được khả năng thực thi - Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học: Các biện pháp phải mang tính khoa học và giải quyết vấn đề có tính khoa học. Trên cơ sở các nguyên tắc đề ra, tôi tiến hành lựa chọn một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ học GDTC cho học sinh khối 8 Trường THCS Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh. Biện pháp1. Cải tạo và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có Biện pháp 2. Kết hơp giữa GDTC và Âm nhạc Biện pháp 3: Áp dụng thi đấu trong giờ học 8
- a. Biện pháp 1: Cải tạo và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có Mục đích: Trường THCS Bồng Lai hoạt động theo kinh phí cấp bởi ngân sách nhà nước nên việc tăng cường cơ sở vật chất phục vụ học tập môn GDTC nội khóa và ngoại khóa phải được sự đồng ý, phê duyệt và cấp ngân sách từ đầu năm, đồng thời, công tác này cũng gặp rất nhiều khó khăn. Một biện pháp đơn giản hơn có thể tận dụng ngay tại nhà trường là sử dụng hợp lý có hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có của Nhà trường. Mục đích của việc làm này là tận dụng cơ sở vật chất sẵn có của Nhà trường để phục vụ công tác GDTC nội khóa và ngoại khóa. Nội dung và cách làm: Tôi đã tiến hành cải tạo, tận dụng hiệu quả mọi cơ sở vật chất trang thiết bị sẵn có của Nhà trường trong việc giảng dạy môn học GDTC Ví dụ: Cải tạo bãi cát để làm hố tập luyện các nội dung nhảy cao, nhảy xa. Cải tạo cột lưới cầu lông làm cột xà cho nội dung nhảy cao, sử dụng sân trường làm sân cầu lông, đá cầu, chạy. Hình ảnh minh họa Hình ảnh GV hướng dẫn HS kẻ sân thi đấu cầu lông, Đá cầu b. Biện pháp 2: Kết hơp giữa GDTC và Âm nhạc Mục đích: Tạo cảm giác hưng phấn, thoải mái, hứng thú hơn trong quá trình thực hiện các bài tập từ đó là nâng cao chất lượng giờ học GDTC Nội dung và cách làm: Trong quá trình dạy học ở các hoạt động như hoạt động mở đầu, hoạt động vận dụng khi học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập tôi đã kết hợp mở 9
- các bài nhạc sôi động để tạo hứng thú cho học sinh trong qua trình thực hiện nhiệm vụ học tập. Ví dụ: Ở chủ đề 1 tiết 7 Bài 3: Phối hợp các giai đoạn chạy cự li ngắn. Ở hoạt động mở đầu khi học sinh thực hiện bài khởi động tôi đã kết hợp mở bản nhạc sôi động để tạo hưng phấn cho học sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập. Hay ở chủ đề 1 tiết 8 bài 3: Phối hợp các giai đoạn chạy cự ly ngắn. Ở hoạt động vận dụng khi các em học sinh trơi chò trơi phát triển sức nhanh tôi đã mở âm nhạc sôi động để tạo hưng phấn cho học sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập Hình ảnh minh họa Hình ảnh cắt từ video học sinh khởi động và chơi trò chơi theo nhạc c. Biện pháp 3: Áp dụng thi đấu trong giờ học Mục đích: Thi đấu nhằm thoả mãn các nhu cầu về tự nhận thức và giao tiếp, phát triển tinh thần và thể chất về nghỉ ngơi và giải trí cũng như giáo dục theo nghĩa rộng. sử dụng thi đấu để hoàn thiện một cách tổng hợp các hoạt động vận động trong những điều kiện phức tạp, phát triển các tố chất thể lực và trí sáng tạo nhanh nhẹn của người chơi, giáo dục tinh thần tập thể, ý thức kỷ luật... Nội dung và cách làm: Căn cứ vào kế hoạch học tập để lồng ghép thi đấu vào các buổi học. Trong các buổi học ở hoạt động tập luyện và hoạt động 10
- vận dụng dựa trên kế hoạch bài dạy mà tôi có thể tổ chức cho các em học sinh thi đấu với nhau. Thông qua kết quả thi đấu của mỗi lớp tôi có thể lựa chọn được các em HS có thành tích tốt để chọn vào đội tuyển của nhà trường. Ví dụ: Ở chủ đề 1 tiết 9 Bài 3: Phối hợp các giai đoạn trong chạy cự li ngắn ở hoạt động tập luyện và hoạt động vận dụng tôi đã tổ chức cho các em học sinh trong lớp thi đấu chạy 60m. Các em học sinh được chia thành nhiều lượt chạy mỗi lượt gồm có 4 em học sinh chạy trên 4 đường chạy. Các em sẽ thi đấu theo thể thức đấu loại trực tiếp một lần thua. Sau khi kết thúc vòng loại chọn ra 4 em hoc sinh có thành tích tốt nhất vào chạy trung kết. Hình ảnh minh họa Hình ảnh HS tham gia thi đấu 3. Thực nghiệm sư phạm a. Mô tả cách thức thực hiện Tôi đã lựa chọn 34 em học sinh lớp 8B và 34 em học sinh lớp 8C chia làm 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng. Sau đó tôi đã tiến hành kiểm tra chất lượng môn học GDTC của học sinh hai nhóm đối chứng và thực nghiệm bằng các tiêu chí đã lựa chọn: 11
- - Nhóm đối chứng học tập theo chương trình và phương pháp dạy thông thường thông thường. - Nhóm thực nghiệm, tôi áp dụng giảng dạy theo các biện pháp đã lựa chọn. Sau thời gian 18 tiết thực nghiệm sư phạm theo kế hoạch năm học, tôi đã tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả của nhóm học sinh tham gia học tập chương trình này. Đồng thời, cũng tiến hành kiểm tra đánh giá kết quả của nhóm đối chứng đã chọn. b. Kết quả đạt được Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm được trình bày tại bảng 3.1; 3.2; 3.3; Bảng 3.1. Kết quả học tập môn học GDTC của học sinh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng thời điểm trước thực nghiệm Nhóm Nhóm TT Đánh giá đối chứng thực nghiệm mi % mi % 1 Đạt 34 100 34 100 2 Chưa đạt 0 0 0 0 Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra thể lực trước thực nghiệm của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng Nhóm thực Nhóm đối Sự khác biệt TT TEST nghiệm n=34 chứng n=34 thống kê x x T P 1 Nằm ngửa gập bụng 30 giây (lần) 15.32 2.68 15.12 2.72 1.042 > 0.05 2 Bật xa tại chỗ (cm) 191.80 15.88 192.06 14.10 0.969 > 0.05 3 Chạy 30m XPC (giây) 5.91 0.48 5.98 0.59 1.004 > 0.05 4 Chạy con thoi 4x10m (giây) 12.61 0.86 12.44 0.93 1.102 > 0.05 5 Chạy tuỳ sức 5 phút (m) 970.01 117.25 976.04 106.17 0.859 > 0.05 12
- Bảng 3.3. So sánh Mức độ hứng thú của học sinh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trong giờ học GDTC, thời điểm trước thực nghiệm Nhóm thực nghiệm ( n=34) Nhóm đối chứng (n=34) TT Đánh giá mi % mi % 1 Rất hứng thú 8 23.53 7 20.59 2 Hứng thú 7 20.59 9 26.47 3 Bình thường 12 35.29 10 29.41 4 Không hứng thú 7 20.59 8 23.53 Từ kết quả tại các bảng 3.1; 3.2; 3.3 cho thấy cả ba tiêu chí dùng để đánh gía chất lượng môn học GDTC của học sinh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là không có sự khác biệt. Hay có thể khẳng định rằng trước thực nghiệm chất lượng môn GDTC của học sinh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là tương đương nhau. Sau 18 tiết thực nghiệm tôi đã tiến hành kiểm tra đánh giá cả hai nhóm thực nghiệm và đối chứng. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm được trình bày tại bảng 3.4; 3.5; 3.6. Bảng 3.4. kết quả học tập môn học GDTC sau thực nghiệm của học sinh nhóm thực nghiệm và đối chứng Nhóm Nhóm TT Đánh giá thực nghiệm (n=34) Đối chứng (n=34) mi % mi % 1 Đạt 34 100 34 100 2 Chưa đạt 0 0 0 0 Từ kết quả tại bảng 3.4 cho thấy: kết quả học tập môn học GDTC của học sinh nhóm thực nghiệm và đối chứng là như nhau. Cả hai nhóm học sinh đạt mức đạt đều là 100% 13

