Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường lồng ghép vào HĐNGLL - Trường PTDTBT THCS Tả Ngảo
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường lồng ghép vào HĐNGLL - Trường PTDTBT THCS Tả Ngảo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_giao_duc_hoc_sinh_bao_ve_moi_truong_lo.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường lồng ghép vào HĐNGLL - Trường PTDTBT THCS Tả Ngảo
- dung đó đã được nhà trường đưa vào danh mục thi đua của từng lớp, từng tuần, từng tháng cho mỗi lớp. *Khó khăn: Bên cạnh thuận lợi còn có những khó khăn: Học sinh 100% là con em người đồng bào thiểu số, với nhiều tập tục sống còn lạc hậu, gia đình có hoàn cảnh kinh tế còn thiếu thốn và khó khăn. Ý thức của người dân và học sinh về môi trường và bảo vệ môi trường chưa cao. Địa bàn có khí hậu mưa, mù nhiều quanh năm lạnh và ẩm ướt. Diện tích quy hoạch sân chơi trong trường chưa có khu vực chuyên biệt và hình thức phong phú, trồng cây xanh chỉ mang tính tạo cảnh quan. Đồ dùng dạy học của môn giáo dục môi trường hầu như không có, việc dạy chủ yếu là dạy chay, học chay. Ngoài việc cơ sở vật chất còn thiếu thốn ra hiện nay công tác giáo dục môi trường của chúng ta gặp nhiều gian nan khác. Hạn chế nữa mà chúng ta không thể bỏ qua đó là: Thông tin về giáo dục môi trường chưa đến được nhiều với học sinh, khi có vi phạm về môi trường chưa có biện pháp xử lý kịp thời và có hiệu quả. b. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến - Tính mới của các giải pháp này Môi trường và tài nguyên thiên nhiên hiện nay ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng. Muốn bảo vệ môi trường và phát triển bền vững mỗi công dân cần có nhận thức đúng đắn và biết cách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Cho học sinh hiểu biết tổng hợp môi trường nơi đang sống. Hạn chế thải chất độc hại ra môi trường ảnh hưởng đến nguồn nước uống, sinh hoạt. Bảo vệ nguồn tài nguyên, thiên nhiên từ đó nhận thức được mối quan hệ, tương hỗ giữa kinh tế - chính trị - văn hóa - môi trường. Hiểu biết một cách đầy đủ về sự tác động của con người với môi trường. - Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ. Nhằm nâng cao hiệu quả cho công tác giáo dục môi trường trong trường học. Nhà trường đã thực hiện một số giải pháp sau: * Giải pháp 1: Tác động môi trường Phát động phong trào trồng chăm sóc cây xanh, các lớp học, hàng tuần học sinh có tổ chức chăm sóc, vun sới khu vực mình phụ trách (bồn hoa cây cảnh). Trong quá trình chăm sóc cây các lớp nên sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng, sử dụng phân hoại mục. Hàng tuần chào cờ, bên cạnh biểu dương những lớp, những học sinh có thành tích giữ gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ, ý thức bảo vệ cây, bảo vệ môi trường tốt, còn có hình thức phê bình các cá nhân, các lớp chưa thực hiện tốt. Vận
- động giáo viên, phụ huynh học sinh trồng cây cảnh cho nhà trường; vận động chi đội, chi đoàn phát động phong trào thi đua tạo quang cảnh môi trường trong nhà trường. Nhà trường đã trang bị bình nước lọc hợp vệ sinh cho học sinh trên lớp và ở phòng ở của các em bán trú trong quá trình sử dụng nước uống, khâu vệ sinh trường lớp luôn được coi trọng; có sọt đựng rác, có hố đổ rác, lò đốt rác hợp vệ sinh cho học sinh. Nhà trường còn có các thùng đựng rác có phân loại các loại rác để tiện xử lý, hợp vệ sinh. Đầu năm nhà trường phát động mỗi lớp trồng ít nhất một cây xanh để tạo không gian “xanh” trong trường học và cũng tạo ý thức bảo quản cho học sinh; Các lớp, các phòng ở bán trú đều thực hiện tốt công tác vệ sinh chung có quy ước rõ ràng. Mỗi lớp đều có ý thức giáo dục học sinh trong vệ sinh hàng ngày, đổ rác thải đúng nơi quy định. Giáo dục các em biết được tác động của cây xanh tạo được môi trường “xanh- sạch- đẹp”. Tạo được không khí thoáng mát, có bóng râm, cản bụi do tác dụng của xe cơ giới, tạo lượng ôxy cho con người. Giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ cây xanh và trồng cây xanh trong nhà trường và gia đình các em. Tác động đến cây xanh bằng cách bón cho cây xanh, không sử dụng phân hữu cơ tươi, không sử dụng phân hóa học (thuốc trừ sâu). Chủ yếu dùng phân vi sinh hoặc dùng phân ủ hoai mục. Xây dựng công trình vệ sinh cho học sinh đúng tiêu chuẩn quy tắc vệ sinh, thường xuyên dội rửa, vệ sinh sạch sẽ. Hàng ngày, hàng tuần xử lý rác được thu gom trong quá trình vệ sinh trong ngày, tuần bằng biện pháp thu đốt. Nhiều loại rác hữu cơ đem đi xử lý thành phân ủ. Khu rác thải được bố trí đổ riêng ở một vị trí khác, phát động thường xuyên phong trào vệ sinh trường lớp vệ sinh nơi công cộng; nhà trường phân công địa điểm vị trí rõ ràng. * Giải pháp 2: Tác động trong quá trình giảng dạy Việc giáo dục môi trường được gắn với các bộ môn liên quan đưa vào ngành giáo dục. - Sinh học: 50% - Địa lý: 30% - Các môn khác: 20% * Kiến thức giáo dục môi trường: - Kiến thức về thành phần môi trường gồm không khí, nước, cây cối, đất đai, động thực vật học sinh có ý thức bảo vệ và được tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức đúng đắn toàn diện về vị trí, vai trò, ý nghĩa to lớn của giáo dục môi trường và học sinh phải hiểu nếu những thành phần trên bị ô nhiễm thì
- cuộc sống của loài người sẽ kéo theo nhiều bất ổn, ảnh hưởng đến sức khỏe con người liên quan đến việc xóa đói giảm nghèo. Trồng cây trên đất trống, đồi trọc tăng thu nhập kinh tế cho người dân, gia đình của học sinh. - Học sinh phải hiểu những thành phần của môi trường do thiên nhiên ban tặng song không phải là vĩnh hằng tồn tại mà có lúc sẽ hết và cạn kiệt, nên phải có ý thức tôn tạo, phục hồi và phát triển. - Kiến thức về sử dụng tài nguyên: Hợp lý đúng khoa học tránh khai thác bừa bãi ồ ạt, khai thác phải gắn liền với phần quy hoạch (trồng rừng, cải tạo đất, giữ nguồn nước ngầm, chống xói mòn ). - Giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên nhằm phát triển bền vững, chúng ta cần có những nhận thức đúng đắn về các vấn đề này. Một môi trường trong lành hết sức cần thiết cho con người để sống và phát triển bình thường. Sống trong môi trường không khí ô nhiễm mất cân bằng sinh thái, con người và mọi sự sống trên trái đất sẽ dần dần bị hủy diệt. Học sinh hiểu tài nguyên thiên nhiên nhiều nhưng không phải là vô tận. Ta cần khai thác để phát triển kinh tế, song cần khai thác có quy hoạch, gắn kết với tái tạo tài nguyên nhằm sự ổn định môi trường cho thế hệ mai sau. Các thế hệ tương lai rất cần tài nguyên và họ có quyền được hưởng một môi trường tốt đẹp như chúng ta. Trong quá trình sử dụng tài nguyên, chúng ta cần có ý thức tiết kiệm, khai thác đúng mực, đúng cách và nên tận dụng nguyên liệu tái chế. - Để bảo vệ môi trường, chỉ có nhận thức chưa đủ mà còn phải có kiến thức. Có kiến thức mới bảo vệ có hiệu quả: Ví như, có hiểu rừng không chỉ cho gỗ mà rừng còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước, ổn định cần bằng không khí, cân bằng sinh thái . ta mới không phá rừng, chặt gỗ bừa bãi; không đốt nương làm rẫy tùy tiện làm cho núi trống, đồi trọc. Có hiểu bảo vệ đàn cá, bảo vệ các loài động vật quý hiếm ta mới không săn bắn bừa bãi, không dùng thuốc nổ, hoá chất để đánh bắt cá, không làm ô nhiễm sông, suối, ao, hồ * Phương pháp giảng dạy: - Lồng ghép giữa kiến thức bộ môn với kiến thức bảo vệ môi trường một cách hài hòa. - Tổng hợp các nội dung quan trọng trong việc giáo dục cho học sinh ý thức và trách nhiệm của mình với môi trường mình đang sống, sử dụng nó. - Qua các giờ dạy đó có nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm cụ thể. * Giải pháp 3: Tham gia các hoạt động ngoại khóa - Học sinh được tham gia cắm trại, thăm khu di tích lịch sử, thăm các công trình vui chơi giải trí. - Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môi trường. - Tổ chức cuộc thi “Rung chuông vàng” tìm hiểu về thiên tai, biến đổi khí hậu và môi trường. * Những việc chưa làm được
- - Công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức rất hạn chế trên địa bàn toàn xã vì nhà dân ở theo cụm rãi rác không tập trung. - Việc bố trí cho học sinh tham gia vệ sinh nơi công cộng còn quá ít. - Quy hoạch của nhà trường chưa hợp lý về các công trình vệ sinh do đó việc bảo vệ môi trường khi giáo dục cho học sinh gặp nhiều khó khăn. - Chưa cho các em tham quan những nơi có tác động xấu như khí thải của nhà máy, nước thải của các khu công nghiệp, bãi rác lớn của khu đông dân cư. * Những kinh nghiệm giáo dục bảo vệ môi trường - Hoạt động dạy học bảo vệ môi trường được đưa vào kế hoạch từ đầu năm thông qua hội nghị cán bộ công chức. - Thông qua đội thiếu niên tiền phong qua các đợt phát động thi đua đã giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường và qua các buổi sinh hoạt của giáo viên chủ nhiệm đã lồng ghép sinh hoạt theo chủ điểm. 4. Hiệu quả do sáng kiến đem lại - Qua việc triển khai đồng bộ công tác giáo dục môi trường trong cả chương trình chính khoá và chương trình ngoại khoá. Tích hợp, lồng ghép giáo dục môi trường vào tất cả các môn học cốt lõi ở chương trình trung học cơ sở, cùng với tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tôi đã nhận thấy sự chuyển biến rất rõ về ý thức của học sinh biểu hiện qua các hành vi như: + Học sinh biết vệ sinh cá nhân sạch sẽ. + Ở nhà, các em đã biết dọn dẹp nhà cửa gọn gàng. + Biết giữ vệ sinh trường, lớp tốt. + Tích cực trong việc tham gia bảo vệ và chăm sóc cây xanh tại trường. + Tích cực trong việc trồng rau xanh cải thiện bữa ăn. + Có ý thức giữ gìn nhà vệ sinh chung, đi tiểu đúng nơi quy định. + Không ăn quà vặt được bày bán không hợp vệ sinh, không ăn quả xanh, không uống nước lã. + Biết bảo vệ các loài vật có ích. - Trong phong trào xây dựng "Trường học thân thiện - Học sinh tích cực" trường chúng tôi là một trong những trường đi đầu của phong trào này. Tất cả các phòng học, phòng làm việc đều được trang trí, tạo cảnh quang môi trường "thân thiện" với học sinh. - Tất cả các bồn hoa trong sân trường đều được trồng hoa và chăm sóc tốt. Các bộ phận và học sinh các lớp theo dõi, trực vệ sinh sân trường hằng ngày. Với ý thức giữ vệ sinh chung của mỗi cá nhân học sinh, sân trường và lớp học lúc nào cũng luôn sạch sẽ. 5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến Học sinh không chỉ được cung cấp thêm kiến thức của một số môn học có liên quan (tuy không thực sự nhiều nhưng lại rất có ích cho các em trong việc
- vận dụng nó để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống một cách linh hoạt), đồng thời các em nhận thức được vai trò của bản thân trong việc bảo vệ môi trường. Vấn đề ứng xử và các kỹ năng trong cuộc sống, vấn đề về môi trường đã trở thành vấn đề của bản thân từng học sinh chứ không phải là vấn đề chung của cả xã hội. Học sinh thấy hứng thú hơn với các môn học và cảm thấy môn học này rất gần gũi với thực tế cuộc sống của các em cũng như nó có mối quan hệ khăng khít với các môn học khác. Đặc biệt khi học tôi thấy học sinh không chỉ dừng lại ở việc lĩnh hội tri thức mà tri thức đó phần nào đã được biến thành hành động thực tế. - Chủ động nắm bắt kiến thức trong các giờ học, biết tạo mối liên hệ giữa kiến thức các môn học với nhau để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. - Biết vận dụng kiến thức đã học được, tiếp thu được để giúp đỡ những người xung quanh như: kiến thức môn địa lý, môn giáo dục công dân, môn hóa học, sinh học để thấy được tác hại, lợi ích của việc bảo vệ môi trường. Hay kiến thức các môn học để cùng gia đình giải quyết các vấn đề trong sản xuất nông nghiệp (Ví dụ: học sinh vận dụng kiến thức về đất đai, nguồn nước, khí hậu cùng với kiến thức của môn Công nghệ, sinh học ... để cùng gia đình phát triển hoạt động chăn nuôi, trồng trọt tại địa phương) - Có ý thức giữ gìn và xây dựng một môi trường sống trong sạch và tốt đẹp trong trường, trong lớp, trong gia đình, xã hội: sự đoàn kết trong tập thể, cách cư xử, ứng xử với người xung quanh. - Không vứt rác bừa bãi, phân loại rác thải sau khi sử dụng. - Chủ động dọn vệ sinh lớp học, trường học, ở nhà, địa phương. - Tuyên truyền vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường tới bạn bè, người thân. 6. Các thông tin cần được bảo mật: Không 7. Kiến nghị, đề xuất - Với tổ chuyên môn, đồng nghiệp + Các đồng nghiệp cũng cần mạnh dạn trao đổi, đóng góp ý kiến để cùng rút ra những kinh nghiệm quý báu trong việc giảng dạy các môn học. + Nên thường xuyên tổ chức nhiều chuyên đề về vấn đề chuyên môn để giúp các đồng nghiệp trao đổi, học hỏi kinh nghiệm cùng giúp nhau trưởng thành. - Với nhà trường, các tổ chức đoàn thể trong trường. + Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo viên như tài liệu, sách tham khảo. + Tăng cường kiểm tra việc thực hiện nội dung đổi mới này trong môn các môn học bằng các hình thức như : kiểm tra đột xuất, định kỳ, hay các cuộc thi, buổi ngoại khóa + Tổ chức một trang Web về chuyên môn cho các giáo viên trong nhà trường để cùng trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.
- + Kết hợp với các tổ chức đoàn thể như Đoàn, Đội, Hội phụ huynh, Y tế học đường để các em không chỉ được học tập trên lý thuyết mà còn được thực hiện các vấn đề đã học bằng hành động, việc làm cụ thể. 8. Tài liệu kèm Text below
- Text below
- Text below
- Text below
- Text below
- Text below

