Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới cách tiếp cận bài học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong môn Khoa Học Tự Nhiên 6
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới cách tiếp cận bài học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong môn Khoa Học Tự Nhiên 6", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_doi_moi_cach_tiep_can_bai_hoc_nham_pha.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới cách tiếp cận bài học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong môn Khoa Học Tự Nhiên 6
- - Phạm vi nội dung: “Đổi mới cách tiếp cận bài học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong môn Khoa học tự nhiên 6” - Phạm vi không gian: Trường THCS Hoàng Nông. - Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối lớp 6 trường THCS Hoàng Nông. 4.4. Mục đích nghiên cứu Phân tích và xây dựng các giải pháp, nhằm tiếp cận phát triển năng lực học sinh trong bộ môn khoa học tự nhiên lớp 6 ở trường THCS Hoàng Nông. Cá nhân tôi viết sáng kiến với mục đích trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp để được vận dụng lan tỏa cho các trường khác trong huyện. 4.5. Nội dung chi tiết của sáng kiến Để thực hiện được đề tài này, cùng với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp và các học sinh trong trường. Giáo viên đã sử dụng các phương pháp sau: 4.5.1. Giải pháp 1. Tổ chức một số trò chơi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh Tổ chức hoạt động bằng trò chơi có những thuận lợi: Phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn, gây hứng thú cho HS, giúp HS dễ tiếp thu kiến thức mới, giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau. Trò chơi còn là hoạt động được các học sinh thích thú tham gia. Vì vậy nó có khả năng lôi kéo sự chú ý và khơi dậy được hứng thú học tập. Rất nhiều trò chơi ngoài mục đích đó còn có thể ôn tập kiến thức cũ hoặc dẫn dắt các em vào hoạt động tìm kiếm tri thức mới một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Hoặc có những trò chơi giúp các em vận dụng tay chân khiến cho cơ thể tỉnh táo, giảm bớt những áp lực tâm lý do tiết học trước gây ra. Với môn Khoa học tự nhiên 6, việc tổ chức trò chơi là nhằm lôi cuốn HS tham gia vào các hoạt động giáo dục một cách tự nhiên và tăng cường tính trách nhiệm; hình thành cho HS tác phong nhanh nhẹn, phát huy tính sáng tạo cũng như tăng cường sự thân thiện, hòa đồng giữa các HS, tạo hứng thú xua tan căng thẳng mệt mỏi trong quá trình học tập và giúp cho việc học tập trở nên nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, hàn lâm, nhàm chán Một số trò chơi mà tôi đã sử dụng. Ví dụ: Trò chơi “Bức tranh bí ẩn”
- Trò chơi “Bức tranh bí ẩn” có thể áp dụng đề mở đầu nội dung bài học, tạo sự húng thú khi bắt đầu tiết học và ôn lại các nội dung đã học. Chuẩn bị: Một hình ảnh liên quan về nội dung bài học mới, các câu hỏi ôn tập nội dung đã được học. Cách chơi: + Giáo viên phổ biến luật chơi: Các thành viên thực hiện lựa chọn ô số và trả lời câu hỏi. Nếu đáp án đúng mảnh ghép sẽ được mở ra, đáp án sai mảnh ghép ở vị trí đó sẽ bị ẩn. Các thành viên có quyền trả lời nội dung bức tranh phía sau, nếu trả lời đúng được nhận quà, trả lời sai sẽ mất quyền. + Giáo viên trình chiếu màn hình trò chơi lên tivi, giáo viên có thể thay đổi trò chơi bằng cách dán tranh và câu hỏi lên giấy A0 để sử dụng khi không có tivi, máy chiếu. + Học sinh có thể thực hiện cá nhân hoặc chia nhóm thi đua. Trò chơi “Ong vàng tìm chữ” Trò chơi “Ong vàng tìm chữ” có thể áp dụng để dạy các nội dung bài mới, kiến thức mới liên quan tới các từ khóa ngắn gọn. Chuẩn bị: Các từ khóa được sắp xếp vào các ô trong bảng, bút dạ.
- Cách chơi: + Giáo viên chia tổ cho các nhóm thi đua, tìm kiếm các từ khóa liên quan tới câu hỏi trong bài học. Đội nào tìm ra được nhiều từ khóa chính xác và nhanh nhất sẽ chiến thắng. Có thể khích lệ bằng cách cộng quá trình hoặc phần thưởng. + Học sinh thực hiện hoạt động nhóm để tìm các từ khóa theo yêu cầu. Trò chơi “Cuộc đua kì thú” Trò chơi “Cuộc đua kì thú” thường được áp dụng để củng cố các kiến thức, ôn tập bài. Chuẩn bị: Đường đua được vẽ và đánh số trên giấy A0, nam châm, xúc xắc, hình ảnh các con vật, bộ câu hỏi ôn tập. Cách chơi: + Giáo viên chia lớp thành các nhóm thi đua với nhau. Các thành viên trong mỗi nhóm lần lượt trả lời các câu hỏi, nếu trả lời đúng nhóm sẽ được tung xúc xắc để xác định số bước tiến lên. Trả lời sai các nhóm khác có quyền trả lời. + Trên đường đua có các ô thang lên hoặc ô có rắn. Khi đi trúng các ô có rắn học sinh được tiến lên ô đuôi của rắn, đi trúng các ô thang học sinh sẽ bị rớt xuống hoặc tiến lên theo chiều của chiếc thang (chân thang rộng đầu thang nhỏ). + Trò chơi kết thúc khi có đội về đích. Trò chơi “Mật thư” Trò chơi “Mật thư” được tổ chức để củng cố các kiến thức đã học, thông qua các bài tập, câu hỏi tự luận.
- Chuẩn bị: phong bì có đánh số thứ tự, tùy thuộc vào thời gian, mức độ câu hỏi giáo viên có thể lựa chọn số mật thư từ (4-6). Các câu hỏi bài tập là nội dung trong mật thư. Cách chơi: + Giáo viên chia nhóm (4-6 nhóm), mỗi nhóm sẽ lựa chọn các mật thư và thực hiện yêu cầu bên trong mật thư, sau khi hoàn thành yêu cầu mật thư trước mới được nhận mật thư tiếp theo. Các nhóm lần lượt hoàn thành các mật thư, nhóm nào hoành thành các mật thư nhanh nhất sẽ là nhóm chiến thắng. + Giáo viên cũng có thể đưa thêm luật, khi hoàn thành 1 mật thư nhóm sẽ nhận được 1 con số, dùng để mở khóa 1 kho báu. + Khi hoàn tất giải mật thư học sinh cần mang đáp án để giáo viên xác nhận, khi đáp án đúng giáo viên cho học sinh nhận mật thư tiếp theo, nếu sai phải thực hiện lại. Trò chơi “Giải cứu đại dương” Trò chơi được tổ chức để củng cố các kiến thức đã học, thông qua hình thức trả lời các câu hỏi trắc nghiệm. Chuẩn bị: Bảng đáp án ABCD, bộ câu hỏi. Cách chơi: + Giáo viên chia lớp thành các nhóm để thi đua với nhau. Các nhóm cùng trả lời các câu hỏi bằng cách đưa bảng đáp án. Mỗi đáp án đúng học sinh sẽ giải cứu được 1 sinh vật biển.
- + Các nhóm thực hiện trả lời, đội nào giải cứu được nhiều sinh vật nhất sẽ là đội chiến thắng. 4.5.2. Giải pháp 2. Sử dụng video - clip để tạo sự hứng thú tham gia bài học, sự chủ động, tư duy khoa học cho học sinh Với bộ môn khoa học tự nhiên lớp 6 học sinh được trải nghiệm nhiều tiết thực hành thực tế, song bên cạnh đó không phải kiến thức nào cũng có thể thực hành mà cần sự hỗ trợ của các video. Để lồng ghép video vào các bài giảng được hiệu quả tôi xin đưa ra một số nội dung sau: Sử dụng video - clip để mở đầu bài giảng hoặc dẫn dắt vào một phần của bài để tạo ấn tượng đầu tiên là rất quan trọng. Mỗi bài học hoặc mỗi phần đều cần có phần mở đầu thuyết phục vì nó sẽ dẫn dắt cả buổi học. Một sự khởi đầu thú vị, hấp dẫn sẽ giúp HS hứng khởi khi bắt đầu bài học mới. Chỉ khi nào có sự chuẩn bị sẵn sàng, học sinh mới có thể học tốt. Qua một đoạn video - clip với những hình ảnh, âm thanh, nội dung mới lạ hấp dẫn sẽ dẫn dắt học sinh vào bài mới với niềm hứng thú trong học tập, mong muốn được khám phá, giải thích các hiện tượng, các tình huống có vấn đề nêu trong đó, từ đó sẽ phát huy được tính tích cực, sáng tạo của các em. Ngoài ra, nó còn làm cho tiết học trở nên thú vị, sinh động hơn, HS yêu thích môn học hơn. + Ví dụ: Khi mở đầu bài “Một số lương thực thực phẩm thông dụng” giáo viên có thể cho HS xem đoạn video - clip giới thiệu về lương thực thực phẩm. GV chiếu đoạn phim và yêu cầu HS đoán xem những lương thực hoặc thực phẩm được nói đến trong đoạn clip là gì? Xem HS nào có thể trả lời nhanh nhất từ các thông tin được nêu trong đoạn clip (HS trả lời). Chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ hơn về đặc điểm và trò của lương thực thực phẩm trong tiết học hôm nay. Với cách mở bài này học sinh vừa hứng thú với hình ảnh, thông tin trên đoạn clip, vừa tạo cho HS động cơ, mục tiêu để nghiên cứu bài học. Sử dụng video - clip để tạo bài tập nhận thức, tình huống có vấn đề: Sử dụng video – clip để tạo những tình huống bất ngờ cho HS, đặt ra những vấn đề ngược lại với những gì HS đã biết. Từ những kiến thức đã biết kết hợp với khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp HS có thể giải quyết vấn đề, phát hiện ra kiến thức mới.
- Bằng cách này vừa gây hứng thú vừa phát triển tư duy HS giúp HS có thể chủ động lĩnh hội kiến thức từ đó HS nắm vững kiến thức và nhớ lâu hơn. + Ví dụ: Khi dạy bài 36 “Động vật” giáo viên có thể cho học sinh xem video về hoạt động sống của cá voi, học sinh phát hiện cá voi có những đặc điểm không giống lớp cá, vì vậy cá voi không xếp vào lớp cá, mà xếp vào lớp thú. Từ những vấn đề khác với tư duy bình thường, giáo viên sẽ đặt vấn đề vào bài và tạo sự hứng thú cho học sinh. Sử dụng video - clip làm thí nghiệm minh họa, kiểm chứng: Sau khi dạy về tính chất hay một phản ứng nào đó, mà điều kiện lớp học khó có thể tiến hành thí nghiệm, hoặc các thí nghiệm độc hại, GV chiếu video – clip thí nghiệm cho HS xem để minh họa, kiểm chứng hoặc những video mà học sinh không thể tư duy và quan sát bằng mắt thường được. Từ đó, HS có niềm tin vào khoa học, tin tưởng vào lý thuyết đã học, cảm thấy hứng thú hơn, ghi nhớ bài dễ dàng hơn. Ví dụ: quan sát sự chuyển động của thiên hà qua phần 5 “Trái đất và bầu trời” hoặc quan sát vi khuẩn, virus qua bài 27 “Vi khuẩn” và bài 29 “Virus”. 4.5.3. Giải pháp 3. Tích cực sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong khai thác kiến thức có vai trò quan trọng, quyết định trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Các phương pháp, kĩ thuật dạy học như dạy học theo góc, trạm, phương pháp dự án, phương pháp thuyết trình, phương pháp hoạt động nhóm, không lạ với mỗi giáo viên, việc áp dụng mỗi phương pháp kĩ thuật dạy học cũng cần có quá trình tích lũy lâu dài, vận dụng linh hoạt hiệu quả với mỗi bài sao cho phù hợp. Sự phối kết hợp nhiều pương pháp dạy học trong một bài có thể đem lại hiệu quả cao, phát huy năng lực sáng tạo chủ động cho học sinh đặc biệt với bộ môn khoa học tự nhiên. + Ví dụ: khi dạy bài 9 “ Sự đa dạng của chất” HOẠT ĐỘNG 1: Tìm hiểu sự đa dạng của chất (45 phút) GV đặt vấn để: Chúng ta có thể dễ dàng đi lại trong không khí, có thể lội được trong nước nhưng không thể đi xuyên qua một bức tường. Em có biết vì sao không?
- a. Mục tiêu hoạt động: Nêu được sự đa dạng của chất (chất có ở xung quanh chúng ta, trong các vật thể tự nhiên, vật thể nhân tạo, vật vô sinh, vật hữu sinh...). b. Tổ chức thực hiện: * Chuyển giao nhiệm vụ - GV chia lớp thành 4 nhóm học tập - GV đặt câu hỏi cho các nhóm lần lượt liệt kê các đồ vật có ở trong lớp, trong trường, các đồ vật được sử dụng hằng ngày trong học tập và sinh hoạt. - GV đặt câu hỏi cho các nhóm lần lượt phân loại các đồ vật vừa được liệt kê, vật nào là vật thể tự nhiên, vật nào là vật thể nhân tạo. - Giáo viên phát phiếu học tập 1: GV hướng dẫn HS quan sát hình trên màn hình, hoặc giáo viên có thể dùng video clip cho học sinh coi trực tiếp. Hoàn thành phiếu học tập sau Binh chứa khí oxygen Bút chì Con gà Vi khuẩn Nước biển Cây ngô Cái ly Rừng núi Con voi
- Con người Cầu long biên Kim cương PHIẾU HỌC TẬP 1 Câu 1: Hoàn thành bảng sau PHIẾU HỌC TẬP 1 STT Tên vật thể Phân loại vật thể Tự nhiên Nhân tạo Vật sống Vật không sống 1 2 Câu 2: Hãy kể tên một số chất có trong: Nước biển; Bắp ngô; Bình chứa khí oxygen. Câu 3: Hãy kể tên các vật thể chứa một trong những chất sau: Sắt; Tinh bột; Đường. PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Trong các câu sau, từ (cụm từ) in nghiêng nào chỉ vật thể tự nhiên, vật thể nhân tạo, vật sống, vật không sống, chất? 1. Dây dẫn điện làm bằng đồng hoặc nhôm, được bọc trong lớp chất dẻo (nhựa). 2. Chiếc ấm được làm bằng nhôm. 3. Giấm ăn (giấm gạo) có thành phần chủ yếu là là acetic acid và nước. 4. Thân cây bạch đàn có nhiều cellulose, dùng để sản xuất giấy. Câu hỏi Vật thể Phân loại Chất 1 2
- 3 4 *Thực hiện nhiệm vụ - Học sinh thảo luận nhóm và làm phiếu và trả lời - HS thực hiện bài tập trên Phiếu học tập, sau đó tổng hợp ý kiến * Báo cáo, thảo luận: Mỗi nhóm cử 1 HS đại diện lên trình bày kết quả. Dự kiến: Câu trả lời trong PHT, có thể: PHIẾU HỌC TẬP 1 STT Tên vật thể Phân loại vật thể Tự nhiên Nhân tạo Hữu sinh Vô sinh 1 Bình chứa khí oxygen X X 2 Bút chì X X 3 Con gả X X 4 Vi khuẩn X X 5 Nước biển X X 6 Cây ngô X X 7 Cái ly X X 8 rừng núi X 9 Con voi X X 10 Con người X X 11 Cầu long biên X X 12 Kim cương X X PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Câu Vật thể Phân loại Chất 1 Dây dẫn điện vật không vật thể nhân đồng, nhôm, chất sống tạo dẻo
- 2 Chiếc ấm vật không sống vật thể nhân nhôm tạo 3 Giấm ăn (giấm vật không sống vật thể nhân acetic acid và gạo) tạo nước 4 cây bạch đàn, giấy vật sống vật thể tự nhiên Cellulose, * Kết luận nhận định: - GV nhận xét, đánh giá, kết quả thảo luận làm việc của các nhóm Phương án đánh giá Phương pháp đánh giá qua hồ sơ học tập Công cụ là phiếu học tập với các bài tập áp dụng và đánh giá thông qua thang đánh giá Tiêu chí đánh giá - Nêu được sự đa dạng của chất Mức 1 Xác định chính xác vật thể, chất, vật thể tự nhiên, vật thể nhân tạo, vật sống, vật không sống Mức 2 Xác định đúng vật thể, chất, nhưng còn nhầm lẫn giữa vật thể tự nhiên, vật thể nhân tạo, vật sống, vật không sống Mức 3 Chưa xác định đúng vật thể, chất, nhưng còn nhầm lẫn giữa vật thể tự nhiên, vật thể nhân tạo, vật sống, vật không sống + Ví dụ khi dạy - Bài 15_Một số vật liệu HOẠT ĐỘNG 2.1: Tìm hiểu về tính chất và ứng dụng của vật liệu, thông dụng a. Mục tiêu: - Trình bày được tính chất và ứng dụng của một số vật liệu thông dụng trong cuộc sống và sản xuất. - Biết cách tìm hiểu và rút ra được kết luận về tính chất của một số vật liệu thông dụng. b. Tổ chức thực hiện: (45 phút) * Chuyển giao nhiệm vụ
- Vòng chuyên gia: (thực hiện trong tiết 1) - GV chia lớp thành 6 nhóm (5-7 HS/nhóm). GV giao nhiệm vụ cho các nhóm: 1. Tìm hiểu về tính chất và ứng dụng của một số vật liệu thông dụng qua nghiên cứu thông tin trong SGK hoặc internet . 2. Sản phẩm của các nhóm có thể trình bày dưới dạng: sơ đồ tư duy, ppt, poster, thí nghiệm. + Nhóm 1,4: Tìm hiểu về tính chất và ứng dụng của một số vật liệu: Nhựa, kim loại. + Nhóm 2,5: Tìm hiểu về tính chất và ứng dụng của một số vật liệu: Thủy tinh, cao su. + Nhóm 3,6: Tìm hiểu về tính chất và ứng dụng của một số vật liệu: Gốm, gỗ. Vòng mảnh ghép: (thực hiện trong tiết 2) - GV phát phiếu HT cho HS (phiếu in trên các màu khác nhau: hồng, vàng, xanh) để hình thành 3 nhóm mảnh ghép. - GV yêu cầu HS từng nhóm chuyên gia chia sẻ với các thành viên trong nhóm mảnh ghép về những nội dung đã tìm hiểu và hoàn thành phiếu học tập. (Mỗi góc HS có thời gian 3 phút để nghe chuyên gia trình bày và hoàn thành phiếu HT) (Thời gian: 15 – 20 phút) - Yêu cầu HS trả lời câu hỏi dựa vào PHT: + CH1: Hãy kể tên một số vật liệu thông dụng trong đời sống và sản xuất. Nhận xét về tính chất của các vật liệu. + CH2: Vật liệu có những ứng dụng gì trong đời sống và sản xuất. * Thực hiện nhiệm vụ - HS thảo luận nhóm đề xuất phương án tìm hiểu; phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm; thống nhất trình bày sản phẩm. + Tại lớp: HS thảo luận phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm vào PHT1; nghiên cứu thông tin trong SGK. (tiết 1) + Tại nhà: HS tiến hành nghiên cứu thông tin trên internet, sách báo ; từng HS hoàn thành nhiệm vụ mà nhóm đã phân công. (tiết 2) - HS trưng bày sản phẩm tại các góc của lớp học; nhóm trưởng hướng dẫn các thành viên trong nhóm trình bày sản phẩm.

