Sáng kiến kinh nghiệm Cải tiến một số giải pháp nâng cao chất lượng trong nhà trường theo Chương trình GDPT 2018 ở Tiểu học

doc 14 trang Chăm Nguyễn 27/12/2025 130
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Cải tiến một số giải pháp nâng cao chất lượng trong nhà trường theo Chương trình GDPT 2018 ở Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_cai_tien_mot_so_giai_phap_nang_cao_cha.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Cải tiến một số giải pháp nâng cao chất lượng trong nhà trường theo Chương trình GDPT 2018 ở Tiểu học

  1. 3 Trong 2 hình thức này, hình thức thứ nhất thường khó triển khai và gặp nhiều khó khăn, ít trường thực hiện vì chất lượng phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất, kinh phí, đội ngũ giáo viên của nhà trường. Trong khuôn khổ sáng kiến này chúng tôi xin đi sâu đề cập tới hình thức thứ hai: phương pháp dạy học theo nhóm đối tượng HS (Một lớp thường gồm các đối tượng học sinh: HTT; HT; CHT). Hình thức tổ chức dạy học này được tổ chức thường xuyên, hàng ngày trong các tiết học. Phương pháp được sử dụng mang lại hiệu quả là Dạy học phân hóa đối tượng học sinh. Mỗi nhà trường đều mong muốn sản phẩm đầu ra chính là chất lượng đào tạo phải tốt. Muốn có chất lượng tốt thì mỗi giáo viên phải có một phương pháp giảng dạy linh hoạt, mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, nhằm phát triển và rèn luyện cho người học kỹ năng thế kỷ 21, đó là kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm Để làm được điều đó chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Cải tiến một số giải pháp nâng cao chất lượng trong nhà trường theo Chương trình GDPT 2018 ở Tiểu học.” * Ưu điểm của giải pháp đã áp dụng tại đơn vị: Việc kết hợp giữa giáo dục “đại trà” với giáo dục “học sinh năng khiếu”, giữa phổ cập với nâng cao trong dạy học ở trường tiểu học đã được tiến hành theo các tư tưởng chủ đạo sau: - Lấy trình độ chung của học sinh trong lớp làm nền tảng: Trong dạy học, giáo viên phải biết lấy trình độ phát triển chung và điều kiện chung của HS trong lớp làm nền tảng, phải hướng vào những yêu cầu cơ bản về chuẩn kiến thức kĩ năng, hướng dẫn nội dung điều chỉnh của Bộ để điều chỉnh nội dung dạy học cho phù hợp. Giáo viên phải biết lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù hợp với trình độ và điều kiện chung của lớp. Có thể phải lược bỏ những nội dung chưa sát thực, chưa phù hợp với yêu cầu cơ bản đặt ra hoặc cũng có thể phải bổ sung những nội dung cần thiết để phát triển tư duy cho học sinh. Như vậy khi xây dựng kế hoạch dạy học các môn học, kế hoạch bài dạy và lên lớp phải thực hiện theo quy định chung đã được triển khai thống nhất: + Xây dựng kế hoạch dạy học các môn học/ hoạt động giáo dục ; kế hoạch bài dạy theo công văn 2345/BGD ĐT ngày 07/6/2021. Đối với khối 5 theo tinh thần chỉ đạo Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo
  2. 4 định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. Công văn số 3799/BGDĐT- GDTH ngày 01/9/2021 về việc thực hiện kế hoạch giáo dục đối với lớp 5 đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018. Lớp 1;2;3;4 theo chương trình GDPT 2018. + Bám sát nội dung chương trình và điều chỉnh dạy học các môn học phù hợp với khối lớp. Nội dung điều chỉnh chú ý đến cả việc tích hợp An toàn giao thông, An ninh quốc phòng, Giáo dục địa phương + Mở rộng,khắc sâu kiến thức cho học sinh HTT vào các tiết bổ trợ, các tiết luyện tập, ôn tập và các câu lạc bộ sở thích của HS. + Các câu hỏi, yêu cầu đưa trong bài soạn thể hiện rõ sự phân hóa đối tượng, không cần thiết phải ghi câu hỏi dành cho đối tượng học sinh nào, tránh dạy phân biệt đối tượng học sinh. + Trong dạy học phân hoá, nếu lớp có học sinh diện CHT thì giáo viên cần sử dụng các biện pháp để đưa những học sinh đó có đủ khả năng đạt được những yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng. Đối với những học sinh này, giáo viên cùng các bạn HTT, giúp đỡ, kèm cặp để các em có thể theo kịp trình độ chung của học sinh cả lớp. Ngoài ra mỗi buổi tối cần giành thời gian dạy online để học sinh hiểu rõ, ghi nhớ hơn lượng kiến thức cô đã cung cấp trực tiếp trên lớp. Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh CHT trong lớp giải các bài toán có văn, nếu có học sinh hạn chế về cách đặt câu lời giải thì giáo viên cần gợi ý trực tiếp với học sinh đó về cách đặt lời giải. +Trong dạy học phân hoá, một yêu cầu rất quan trọng đối với giáo viên là cần phải mở rộng kiến thức cho học sinh HTT bằng những dạng bài tập mang tính phát triển tư duy. Đối với những học sinh này, ngoài việc đạt được yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng còn phải vận dụng các kiến thức đã học làm các bài tập mở rộng. Các dạng bài tập bổ sung cần đảm bảo yêu cầu sát với chuẩn kiến thức kĩ năng và phải vừa sức với học sinh. Ngoài dạy trên lớp GV áp dụng hình thức dạy học theo câu lạc bộ Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh * Những tồn tại, bất cập: - Đối tượng tiếp thu của học sinh giữa các khối lớp không được đồng đều. Học sinh vùng nông thôn nên việc tiếp cận các phương tiện dạy học hiện đại còn hạn chế. Học sinh tự đánh giá bản thân, tự chia sẻ với bạn, đánh giá bạn còn chưa mạnh dạn.
  3. 5 - Nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình còn phó thác cho thầy cô và nhà trường. Phụ huynh nhận thức về việc đổi mới chương GDPT 2018 còn chưa được sâu sắc nên việc kết hợp đánh giá học sinh theo TT 22 và TT27 giữa phụ huynh với giáo viên còn hạn chế. - Một số giáo viên còn thụ động, chưa chịu khó tìm tòi, nghiên cứu để đề xuất ý kiến trao đổi. Nội dung đưa ra trao đổi còn chưa phong phú, chưa đi sâu vào các vấn đề trọng tâm đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh. - Một số phòng học bộ môn của nhà trường còn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của Chương trình GDPT 2018. Nhà trường còn thiếu giáo viên để thực hiện chương trình GDPT 2018, nhiều giáo viên còn làm công tác kiêm nhiệm ( như tổng phụ trách Đội, thủ quỹ, văn thư, thư viện thiết bị ) do trường không có nhân viên. Sau khi phân tích thực trạng, thấy được ưu điểm, khuyết điểm để nâng cao chất lượng trong nhà trường chúng tôi đã có một số biện pháp mới nhằm phát huy các ưu điểm và khắc phục những nhược điểm của công tác này. III. NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN: III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến Giải pháp 1. Chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục theo đúng các văn bản hướng dẫn của BGD, SGD và PGD * Xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường để chủ động, linh hoạt thực hiện và hoàn thành chương trình năm học: Chỉ đạo các tổ khối chuyên môn xây dựng kế hoạch dạy học các môn học và hoạt động giáo dục và kế hoạch bài dạy theo công văn 2345/BGDĐT-GDTH ngày 7/6/2021 của Bộ GDĐT; lựa chọn nội dung giáo dục cốt lõi, cần thiết phù hợp với khung thời gian năm học của trường, bảo đảm thực hiện CTGDPT cấp tiểu học linh hoạt, chủ động, hiệu quả, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực hiện của nhà trường; bố trí thời gian thực hiện chương trình đảm bảo tính khoa học, sư phạm, không gây áp lực đối với học sinh; bảo đảm cuối năm học đạt được yêu cầu cần đạt theo quy định của chương trình. * Chỉ đạo việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông - Đối với lớp 1, lớp 2, lớp 3 và lớp 4thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 + Đảm bảo tỷ lệ 01 phòng học/lớp, cơ sở vật chất, biên chế sĩ số học sinh/lớp theo quy định tại Điều lệ trường tiểu học; có đủ thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định và cơ cấu giáo viên để dạy đủ các môn. + Thực hiện dạy học các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học tự chọn theo quy định của CTGDPT 2018 ( Đối với lớp 1,2 các môn
  4. 6 bắt buộc: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Giáo dục thể chất, Âm nhạc, Mĩ thuật, Hoạt động trải nghiệm . Đối với lớp 3 (Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Giáo dục thể chất, Âm nhạc, Mĩ thuật, Tin học, Công Nghệ , Hoạt động trải nghiệm , Tiếng Anh). Đối với lớp 4 (Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Giáo dục thể chất, Âm nhạc, Mĩ thuật, Tin học, Công Nghệ , Hoạt động trải nghiệm , Tiếng Anh.) Lớp 1;2 học Tiếng Anh tự chọn. + Tổ chức các hoạt động củng cố để học sinh tự hoàn thành nội dung học tập, các hoạt động giáo dục đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh; các hoạt động tìm hiểu tự nhiên, xã hội, văn hóa, lịch sử, truyền thống của địa phương. + Tổ chức các hoạt động cho học sinh sau giờ học chính thức trong ngày theo nhu cầu, sở thích của học sinh trong khoảng thời gian từ sau giờ học chính thức cho đến thời điểm được cha mẹ học sinh đón về nhà ( từ 16 h đến 16 giờ 40 và thực hiện 4 tiết trông coi1tuần) ; căn cứ vào nhu cầu, sở thích của học sinh, tổ chức các hoạt động dưới hình thức sinh hoạt câu lạc bộ hoặc sử dụng cơ sở vật chất của nhà trường (thư viện, sân chơi, bãi tập, nhà đa năng ) tạo điều kiện để học sinh vui chơi, giải trí sau giờ học chính thức trong ngày; việc tổ chức hoạt động sau giờ học chính thức trong ngày bảo đảm an toàn, hiệu quả, theo đúng mục tiêu đã đề ra dưới hình thức sinh hoạt câu lạc bộ được thực hiện trên cơ sở thống nhất, tự nguyện của học sinh, cha mẹ học sinh và được cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Đối với lớp 5: +Thực hiện CTGDPT 2006 và theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh để chủ động tiếp cận với CTGDPT 2018 để học sinh được chuẩn bị học lớp 6, theo Công văn 3799/ BGDĐT-GDTH, ngày 01/9/2021 của Bộ GD&ĐTvề việc thực hiện kế hoạch giáo dục đối với lớp 5 đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018. +Thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học một cách hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục tiểu học, phù hợp với đối tượng học sinh , đồng thời từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng và phù hợp điều kiện thực tế; khối 5 rà soát chương trình theo công văn 3799/BGD ĐT–GDTH. * Tổ chức dạy học Ngoại ngữ 1, Tin học theo Chương trình cấp tiểu học - Đối với lớp 1, lớp 2: Tiếp tục triển khai Chương trình môn Tiếng Anh tự chọn lớp 1, lớp 2 đảm bảo các yêu cầu được quy định trong CTGDPT 2018 và theo Công văn số 681/BGDĐT-GDTH ngày 04/3/2020 của Bộ GDĐT về việc hướng dẫn tổ chức dạy học môn tiếng Anh tự chọn lớp 1, lớp 2 theo chương trình GDPT 2018. Thời lượng 2 tiết/ 1 tuần ( với GV nhà trường hợp đồng thỉnh giảng)
  5. 7 - Đối với lớp 3; 4: Triển khai thực hiện tổ chức dạy học môn Ngoại ngữ 1 bắt buộc tổ chức dạy học môn Tiếng Anh 4 tiết/ tuần, môn Tin học 1 tiết/ tuần cho 100% học sinh lớp 3;4 đảm bảo các yêu cầu được quy định trong CTGDPT 2018. - Đối với lớp 5: Tiếp tục triển khai Chương trình Tiếng Anh tự chọn 2 tiết/ tuần, môn Tin học 2 tiết/ tuần. * Tổ chức dạy học nội dung giáo dục địa phương theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 - Thực hiện theo Công văn số 3036/BGDĐT-GDTH ngày 20/7/2021 của Bộ GDĐT về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện nội dung giáo dục của địa phương cấp tiểu học. Sử dụng tài liệu giáo dục địa phương theo Quyết định đã được BGD và SGD phê duyệt. - Thực hiện nội dung giáo dục của địa phương tích hợp, lồng ghép trong các môn học với hình thức linh hoạt, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nhà trường, địa phương, đảm bảo mục tiêu và chất lượng giáo dục. - Giáo viên chủ động lựa chọn nội dung, phương thức, không gian, thời gian hoạt động phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế và nội dung giáo dục của các môn học; kết hợp học tập trên lớp với tổ chức hoạt động trải nghiệm, thực hành, tham quan thực tế, sưu tầm tư liệu, ngoại khóa, thực hiện dự án, hoạt động phục vụ cộng đồng, hoạt động tình nguyện, ... nhằm gắn lý luận với thực tiễn, tạo hứng thú học tập, nâng cao hiểu biết về thời sự, văn hóa, lịch sử, kinh tế - xã hội, ... địa phương cho học sinh. * Triển khai giáo dục STEM Tổ chức thực hiện giáo dục STEM tiếp cận theo yêu cầu trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 bám sát Công văn số 909/BGDĐT-GDTH ngày 08/3/2023 về việc hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục STEM trong giáo dục Tiểu học; Kế hoạch số 62/KH-SGDĐT ngày 08/5/2023 về việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục STEM cấp Tiểu học từ năm học 2023-2024; Kế hoạch số 338/KH-PGDĐT ngày 09/5/2023 về việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục STEM cấp Tiểu học từ năm học 2023-2024. Hướng dẫn giáo viên sử dụng hiệu quả nguồn học liệu tại địa chỉ website và tổ chức lựa chọn tài liệu, các nguồn học liệu khác theo quy định của Bộ GD&ĐT. Giải pháp 2. Xây thời khoá biểu phù hợp và định hướng chương trình, nội dung giảng dạy cho số tiết tăng thêm. * Thời khoá biểu: Dựa trên những tiêu chí cần chỉ đạo và thực hiện trên chúng tôi xây dựng thời khoá biểu cụ thể đến tận từng giáo viên và từng lớp, từng đối tượng học sinh trên cơ sở thời khoá biểu đó giáo viên xây dựng kế hoạch giảng dạy cho cá nhân mình theo từng tuần, tháng và học kỳ...Thời khoa biểu đảm bảo khao học và ưu tiên cho học sinh.
  6. 8 + Thời khoá biểu chính gồm phần cứng cho toàn bộ các lớp, đây là thời khoá biểu được định lượng hoá cho các tiết học chính khoá và một số tiết bổ trợ cố định. + Thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học, mỗi tiết 35 phút; tối thiểu là 9 buổi/tuần với 32 tiết/tuần; thời khóa biểu sắp xếp một cách khoa học, đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa các nội dung dạy học và hoạt động giáo dục, phân bổ hợp lý về thời lượng, thời điểm trong ngày học và tuần học phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học. * Định hướng nội dung giảng dạy và số tiết tăng thêm: Chương trình chính khoá được dạy phân bố thành bài, đan xen trong suốt chương trình, không tường minh thành dạng cụ thể. Vì thế, chúng tôi yêu cầu các khối chuyên môn kết hợp với hội đồng chuyên môn nhà trường tiến hành nghiên cứu kiến thức của khối lớp mình, phân định kiến thức chính khoá thành các phần trọng tâm. Từ đó định ra các mảng, dạng tăng buổi cho từng nhóm đối tượng học sinh trong khối. Cụ thể STT Lớp 1 2 3 4 5 1 Các tiết học tăng cường 70 70 35 35 70 môn Toán 2 Các tiết học tăng cường 105 105 70 35 70 môn Tiếng Việt 3 Hướng dẫn tự học 35 35 35 35 Giải pháp 3. Rà soát phân loại đối tượng học sinh và dạy phân hóa đối tượng - Với thời lượng số tiết học tăng buổi không nhiều trong khi nội dung giáo dục tiểu học đòi hỏi toàn diện, đổi mới phương pháp yêu cầu phải dạy sát đúng đối tượng. Với hình thức này, chúng tôi yêu cầu giáo viên phải đảm bảo 100% số học sinh nắm được nội dung bài theo chuẩn, vừa có hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh năng khiếu, học sinh HTT phát triển; học sinh CHT được luyện tập, củng cố kiến thức - Yêu cầu giáo viên đánh giá đúng HS: Đối với học sinh lớp 5 tiếp tục được đánh giá theo quy định tại Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 của Bộ GDĐT. Đối với học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 được đánh giá theo quy định tại Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04/9/2020 của Bộ GDĐT. Nắm rõ các năng khiếu đặc biệt của học sinh và ghi rõ vào học bạ. Phân loại học sinh
  7. 9 vào cuối năm học và bàn giao danh sách cho nhà trường - Đầu năm học mới, giáo viên nhận lớp và nhận danh sách phân loại và tiếp tục theo dõi trong tháng 9 và tuần đầu của tháng 10. - Các lớp tiến hành phân loại đối tượng và thông báo cho phụ huynh: mỗi lớp sẽ có đủ 3 đối tượng học sinh: HHT; HT và CHT. - Linh hoạt trong tổ chức hoạt động nhóm khi dạy học phân hóa: Tùy theo mục tiêu bài học, việc chia nhóm có thể theo nhiều cách: Nhóm đôi, nhóm ngẫu nhiên, nhóm hỗn hợp và nhóm phân theo trình độ. Trong dạy học phân hóa, nhóm hỗn hợp được sử dụng khi nhiệm vụ của các nhóm là như nhau, với mục đích là HS HTT sẽ giúp đỡ HS CHT. Nhóm theo trình độ được sử dụng khi mức độ yêu cầu của nhiệm vụ từng nhóm khác nhau hoặc trong thực hành giải bài tập để mỗi nhóm được yêu cầu làm những bài tập với độ khó khác nhau. Giải pháp 4. Linh hoạt trong việc phân công chuyên môn Thực hiệnTT28/2009-BGD&ĐTngày 21/10/2009 Ban hành Quy định về chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, TT08/2016/TT-BGD &ĐT ngày28/3/2016 Quy định chế độ giờ dạy cho giáo viên, văn bản số 03/VBHN- BGDĐT ngày 23/6/2017 Thông tư ban hành quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông. Phân công chuyên môn tạo nên sự công bằng trong định mức lao động cho giáo viên nhưng cũng tạo ra nhiều khó khăn mới cho cán bộ quản lý trong bố trí, sắp xếp giáo viên và xây dựng thời khoá biểu một cách hợp lý. Để phân công cụ thể công việc cho từng giáo viên, ngoài việc phân công theo chuyên môn, chúng tôi còn dựa vào năng lực, sở trường của từng người để phân công giáo viên theo các nhóm : - Nhóm dạy học sinh năng khiếu: Là những giáo viên dạy được toàn cấp, có kinh nghiệm trong giảng dạy, năng lực chuyên môn vững chắc, có khả năng hệ thống hoá các mạch kiến thức, có ý thức học hỏi và ham tìm tòi trong chuyên môn, có kiến thức về công nghệ thông tin để dạy HS tham gia các sân chơi qua mạng - Nhóm phụ đạo học sinh chưa hoàn thành: Là những giáo viên có tính kiên trì, nhẹ nhàng, gần gũi và yêu thương học sinh, hiểu biết tâm lý các độ tuổi, dễ thông cảm và sẻ chia, kiên trì trong rèn luyện và giáo dục học sinh. - Nhóm tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Là những giáo viên có năng lực tổ chức các hoạt động, sự kiện, vui vẻ, cởi mở, hoà đồng, có năng
  8. 10 khiếu hát, múa, hiểu biết về các vấn đề xã hội ... (gồm: Tổng phụ trách, giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật, cán bộ Thư viện- Thiết bị và một giáo viên dạy văn hoá có năng lực tổ chức HĐTT) - Nhóm dạy các môn tự chọn: Gồm GV Tiếng Anh, Tin học và GV dạy các môn năng khiếu, GV dạy kỹ năng sống. - Nhóm dạy các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng học sinh: Gồm BGH nhà trường và giáo viên cốt cán của nhà trường (Tổ trưởng chuyên môn, Tổ phó chuyên môn). - Phân công rõ người rõ việc, chọn đội ngũ tổ khối trưởng có chuyên môn vững vàng, tâm huyết để giúp việc cho BGH. Giải pháp 5: Đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng đồ dùng dạy học, tăng cường dự giờ và tổ chức hội thi giáo viên giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi. - Thực hiện linh hoạt phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; vận dụng phù hợp những thành tố tích cực của các mô hình, phương thức giáo dục tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đặc biệt là đổi mới tổ chức hoạt động giáo dục trên lớp học; tăng cường tổ chức thực hành trải nghiệm, tích hợp nội dung giáo dục địa phương, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống. - Giáo viên phải nhận thức đúng và đầy đủ vai trò của việc sử dụng thiết bị vào đổi mới phương pháp giảng dạy. Giáo viên cần mạnh dạn, không ngại khó, tự thiết kế và sử dụng đồ dùng thiết bị của mình sẽ giúp rèn luyện được nhiều kỹ năng và phối hợp tốt các phương pháp dạy học tích cực khác. Khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn đồ dùng trực quan phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học, đi theo một trình tự nhất định thì mới đạt được hiệu quả bài dạy. - Kỹ năng sư phạm của giáo viên có ảnh hưởng lớn đến việc chất lượng giờ dạy. Qua dự giờ có thể trao đổi, góp ý, giúp nhau sửa chữa những tồn tại, những nhược điểm như phong cách lên lớp, ngôn ngữ diễn đạt, trình bày bảng của giáo viên, ...qua các tiết dự nắm bắt tình hình học tập của học sinh các lớp và tư vấn kịp thời cho GV - Tổ chức tốt hội thi GVG , GVCN giỏi để nâng cao tay nghề cho giáo viên trong việc giảng dạy và giáo dục học sinh Giải pháp 5. Đầu tư trang thiết bị phục vụ giảng dạy: Với cơ sở vật chất hiện có, chúng tôi phân công bố trí để sử dụng tối đa nhằm tránh lãng phí. Mặt khác, chúng tôi không ngừng bổ sung, mua sắm các trang thiết bị theo hướng hiện đại. Các phòng học: phòng Tin học, phòng Tiếng Anh, phòng Âm nhạc, phòng học Mỹ thuật, phòng học Khao học, Công
  9. 11 nghệ từng bước được bổ sung các thiết bị hiện đại như tivi, máy tính, máy chiếu; có 26/26 phòng học văn hoá và phòng học bộ môn được trang bị ti vi, đường truyền mạng để phục vụ giảng dạy. Chỉ đạo các khối và giáo viên bộ môn rà soát thiết bị, đồ dùng dạy học đẻ tham mưu với hiệu trưởng mua sắm bổ sung thiết bị đồ dùng dạy học tối thiểu đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học hiện có. Chỉ đạo tổ khối chuyên môn xây dựng kế hoạch sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học với mục tiêu kiên quyết không để tình trạng “thiết bị đến trường mà không ra lớp” - Phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học và khai thác bài giảng điện tử, sách mềm để ứng dụng trong dạy học Giải pháp 6. Làm tốt công tác truyền thông Làm tốt công tác truyền thông về đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông 2018, tổ chức triển khai sách giáo khoa cấp tiểu học, chú trọng các nội dung liên quan đến lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 và công tác chuẩn bị đối với lớp 5 theo lộ trình. Tổ chức truyền thông đa phương tiện nhằm tuyên truyền, định hướng các chủ trương, chính sách mới về giáo dục; đẩy mạnh truyền thông về nội dung, giải pháp, lộ trình và điều kiện thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 để tạo sự đồng thuận giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Giúp phụ huynh hiểu và có nhận thức sâu sắc hơn về chương trình GDPT 2018 tạo sự đồng thuận giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. Phụ huynh cùng giáo viên tham gia vào việc đánh giá tư vấn cho HS theo đúng TT 22 và TT27. Phụ huynh cùng nhà trường đầu tư cơ sở vật chất cho việc dạy và học đạt hiệu quả cao. III. 2. Tính mới, tính sáng tạo: Trước yêu cầu đổi mới của chương trình và sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên đã có thay đổi về mặt nhận thức khi tiếp cận dần với chương trình GDPT 2018. Vì vậy, cải tiến việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh là công tác thiết thực, cấp bách. Điều này góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục của nhà trường. - Để khắc phục những khó khăn trong thực tiễn nói trên, cần phải kết hợp nhiều giải pháp tổng thể như: điều chỉnh sĩ số lớp học; tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, tăng cường học liệu, thiết bị học tập cho HS; tổ chức biên soạn chương trình, nội dung, thời khóa biểu xác định số tiết cần
  10. 12 tăng; Chọn lựa và bố trí giáo viên, bồi dưỡng chuyên đề cho đội ngũ GV; kiểm tra, đánh giá, phân bậc trong kế hoạch dạy học .... Trong đó cần ưu tiên cho việc nâng cao năng lực nghề nghiệp giáo viên, hỗ trợ cho GV những nghiệp vụ sư phạm, Công nghệ thông tin để DHPH có hiệu quả là cần thiết. Việc kết hợp cộng hưởng giữa hình thức dạy học trực tiếp và online đã mang lại luồng gió mới trong việc chuyển đổi kỹ thuật số cho cả giáo viên, học sinh và cả phụ huynh. - Các giải pháp được đan xen trong từng giai đoạn và linh hoạt trong từng đối tượng: khối lớp (hoặc từng trường). - Qua kiểm kế hoạch bài dạy và dự giờ của giáo viên cũng đã thể hiện rất rõ ràng từ việc xác định mục tiêu cho bài dạy, hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học và thiết kế các hoạt động theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Kế hoạch bài dạy thể hiện rõ đặc trưng theo từng phân môn, rõ hoạt động của thầy và trò, có điều chỉnh sau giờ dạy. - Học sinh được thể hiện mình, được tự đánh giá mình, đánh giá bạn và thông qua đánh giá, tự nhận xét sẽ được thầy cô và bạn tư vấn để hoàn thiện bản thân mình về mọi mặt năng lực cũng như phẩm chất. Các em mạnh dạn, tự tin, biết hợp tác, quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trên mọi mặt. - Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến Trường học là một tổ chức sư phạm - xã hội được hình thành để thực hiện mục đích nhất định; là tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục, nơi tập hợp những người thực hiện nhiệm vụ chung là dạy và học, giáo dục đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Các giải pháp mà chúng tôi áp dụng đã ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả thực tế giảng dạy. - Giúp giáo viên: + Xác định rõ mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực và vận dụng được gì vào thực tế khi học xong bài học. + Chuẩn bị đồ dùng, thiết bị đồ dùng dạy học, tìm kiếm thông tin, tra cứu ngữ liệu điện tử dạy học ... ngữ liệu (GV có thể lấy một ngữ liệu không trong sách giáo khoa) cho phù hợp với mục tiêu bài học, đối tượng và hình thức tổ chức dạy học + Lường trước được những khó khăn, những tình huống xảy ra trong quá trình tổ chức dạy, linh hoạt xử lý tình huống đó... + Xây dựng kế hoạch dạy học các môn học, hoạt động giáo dục và kế hoạch bài dạy phù hợp với thực tiễn và đối tượng học sinh.
  11. 13 + Giáo viên đánh giá học sinh một cách toàn diện về năng lực và phẩm chất. - Làm thay đổi không khí lớp học, tạo hưng phấn, phấn khởi, phấn khởi, tinh thần hăng hái cho các em khi tham gia vào các hoạt động trên lớp III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp. - Giáo viên được phân công nhiệm vụ phù hợp với khả năng, được tạo điều kiện để thực sự phát huy được năng lực của bản thân, có thời gian nghiên cứu sâu bài dạy, biết cách xây dựng và lựa chọn các nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động học tập một cách sáng tạo và phù hợp với đối tượng học sinh, tâm lý của giáo viên phấn khởi vì khẳng định được mình trước tập thể - Học sinh mạnh dạn và tự tin, phấn khởi trong học tập, biết hợp tác, chia sẻ, nhận xét và đánh giá. Quyền lợi học tập được đảm bảo; học sinh yếu, học sinh có điều kiện khó khăn được sự quan tâm, kèm cặp giúp đỡ; học sinh có năng khiếu được phát hiện kịp thời và được tạo điều kiện tốt để tiếp tuc phát triển. Ngoài học tập văn hoá các em còn được rèn luyện nhiều kỹ năng quan trọng; có được sự mạnh dạn trong việc bộc lộ suy nghĩ của bản thân, tự tin trong giao tiếp, có tinh thần trách nhiệm với tập thể, biết thương yêu sẻ chia giúp đỡ bạn bè trong công việc cũng như trong khó khăn...chúng tôi nghĩ đó là những hành trang vô cùng quý giá cho sự phát triển, sự trưởng thành của các em... - Khẳng định tính đúng đắn, khoa học và thực thi đã mang lại những chuyển biến rõ rệt trong công tác giảng dạy của giáo viên trong nhà trường góp phần nâng cao chất lượng học sinh. Điều đó được minh chứng qua kết quả của học kì I năm học 2023 - 2024 Kết quả kiểm tra định kỳ cuối học kỳ I 1 2 3 4 5 Toàn trường Khối ĐBQ Tỉ lệ ĐBQ Tỉ lệ ĐBQ Tỉ lệ ĐBQ Tỉ lệ ĐBQ Tỉ lệ ĐBQ Tỉ lệ Toán 9.7 100 9.1 99.4 7.4 97.6 8.8 100 9.3 100 8.9 99.4 Tiếng 9.6 100 9.2 100 8.7 100 9.5 100 9.4 100 9.3 100 Việt Tiếng 9.0 98.7 8.8 98.2 8.2 90.7 8.6 97.9 8.2 96.7 8.6 96.4 Anh