Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp nâng cao chất lượng học phân môn Tập đọc – Kể chuyện Lớp 3

docx 32 trang Chăm Nguyễn 09/01/2026 120
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp nâng cao chất lượng học phân môn Tập đọc – Kể chuyện Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_cac_giai_phap_nang_cao_chat_luong_hoc.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp nâng cao chất lượng học phân môn Tập đọc – Kể chuyện Lớp 3..pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp nâng cao chất lượng học phân môn Tập đọc – Kể chuyện Lớp 3

  1. luôn băn khoăn suy nghĩ và trong năm học này tôi chọn cho mình đề tài nghiên cứu “ Các giải pháp nâng cao chất lượng học phân môn Tập đọc – Kể chuyện lớp 3. ”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích cụ thể như sau: - Nâng cao hiểu quả dạy học phân môn Tập đọc – Kể chuyện lớp 3. - Giúp học sinh có khả năng đọc diễn cảm và kể chuyện tự nhiên hơn. - Tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nhận thấy tầm quan trọng của phân môn Tập đọc – Kể chuyện, từ đó giáo dục động cơ học tập cho các em. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Để đạt được những mục tiêu đã đề ra ở trên tôi đã thực hiện những nhiệm vụ sau: - Khảo sát và đánh giá thực trạng đọc và kể chuyện của học sinh lớp mình giảng dạy. - Cố gắng tìm ra một số biện pháp để tháo gỡ những khó khăn trong việc dạy phân môn Tập đọc – Kể chuyện cho học sinh. - Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến việc rèn kĩ năng đọc và kể chuyện cho học sinh. VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã tiến hành sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp điều tra - Phương pháp thực nghiệm - Phương pháp quan sát sư phạm. - Phương pháp phỏng vấn V. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Học sinh lớp 3G trường tôi. VI. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU Từ tháng 9 năm 2017 đến hết tháng 3 năm 2018. 3
  2. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.CƠ SỞ LÍ LUẬN Môn Tiếng Việt ở trường có nhiệm vụ hình thành hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Vì những lẽ trên, dạy phân môn Tập đọc có một ý nghĩa vô cùng to lớn ở Tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Từ đó giúp trẻ chiếm lĩnh ngôn ngữ dùng để giao tiếp và học tập. Đọc là công cụ để học các môn học khác. Bên cạnh đó, phân môn Kể chuyện có vị trí đặc biệt quan trọng không kém trong dạy học tiếng mẹ đẻ, vì hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp. Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để học sinh rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng Tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoat động giao tiếp. Khi đọc, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học ở dạng có âm thanh (đọc thành tiếng). Khi kể chuyện, các em đang tái sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói. Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có cả sức mạnh của văn học. Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ. Sự hiểu biết về cuộc sống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo đi biết bao nhiêu nếu không có môn học Kể chuyện trong trường học.Kể chuyện ở lớp 3 được gắn bó chặt chẽ với phân môn Tập đọc, đều là kể lại câu chuyện học sinh đã đọc trong bài tập đọc đầu mỗi tuần trong thời gian 0,5 tiết. Dạy tốt phân môn Tập đọc – Kể chuyện là tạo cho học sinh một nền tảng vững chắc để học tốt môn học Tiếng Việt và tất cả các môn học khác. Có đọc đúng, đọc trôi chảy mới cảm thụ được bài văn và từ đó sẽ hiểu tất cả các văn bản khác để diễn đạt bằng lời thật tốt. Nhà trường phải từng bước hình thành và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt nền móng đầu tiên. II.CƠ SỞ THỰC TIỄN 4
  3. Năm học 2017 – 2018 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3G với tổng số 60 học sinh. Sau khi nhận lớp, qua quá trình giảng dạy học sinh, tôi thấy lớp tôi có những thuận lợi và khó khăn như sau : 1.Thuận lợi : - Đa số học sinh ngoan có ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập. Trong lớp có nhiều em yêu thích học môn Tiếng Việt; đọc to rõ ràng; học thuộc bài nhanh và rất tích cực phát biểu xây dựng bài. Cha mẹ học sinh luôn quan tâm sát sao và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con trong quá trình học tập. - Cơ sở vật chất : Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát. Lớp học đủ ánh sáng và được trang bị đầy đủ đồ dùng học tập cũng như đồ dùng bán trú. Đây là yếu tố luôn mang lại sự thoải mái giúp cho học sinh học tập tốt hơn. - Các đồng chí trong Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sát sao trong lĩnh vực chuyên môn. Nhắc nhở và giúp đỡ kịp thời tới từng giáo viên trong quá trình giảng dạy, tạo điều kiện tốt giúp học sinh đạt được kết quả cao trong học tập. 2. Khó khǎn. - Trong thực tế giảng dạy phân môn Tập đọc – Kể chuyện ở lớp 3 hiện nay tôi nhận thấy giáo viên đã dạy đúng chương trình và sách giáo khoa, học sinh nắm chắc nội dung bài và được rèn đọc tốt hơn. Tất cả học sinh đều được tham gia đọc và kể (theo cá nhân, cặp đôi, nhóm). Tuy nhiên, không thể tránh khỏi những tồn tại và khó khăn. Một số giáo viên phối hợp các hình thức dạy học còn máy móc, chưa chú ý hướng dẫn đọc diễn cảm, sửa ngọng cho học sinh, phân bố thời gian tiết dạy chưa hợp lý, chưa phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động cá nhân với thảo luận nhóm của học sinh, chưa khuyến khích học sinh phát huy tính sang tạo khi kể chuyện, chưa khai thác đồ dùng hợp lý . - Đầu năm học, sau khi dạy xong một bài Tập đọc – Kể chuyện, tôi đã thu được kết quả khảo sát cụ thể ở lớp tôi như sau: 5
  4. Kĩ năng đọc và kể Kĩ năng đọc và kể Kĩ năng đọc và kể Tổng số chuyện chưa tốt chuyện bình thường chuyện tốt HS Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ 60 22 36,6% 25 34,8% 13 21,6% III . GIẢI PHÁP Đứng trước tầm quan trọng, vị trí nhiệm vụ của phân môn Tập đọc – Kể chuyện và dạy học phân môn này ở lớp 3 cũng như tình hình thực tế giảng dạy hiện nay, tôi mạnh dạn xin trình bày các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập đọc – Kể chuyện lớp như sau: 1. Biện pháp 1: Điều tra về cấu trúc, kĩ năng, nội dung chương trinh phần Tập đọc, Kể chuyện ở lớp 3 a. Kĩ năng đọc - Đọc một số văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí, khoa học thưởng thức (chú trọng đọc tên riêng nước ngoài, từ dễ đọc sai do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương). - Đọc thầm tìm hiểu ý chính của đoạn, nội dung của bài; nhận xét về nhân vật, hình ảnh, chi tiết; đặt đầu đề cho đoạn văn, tác phẩm. - Đọc thuộc một số bài thơ, bài văn, đoạn văn ngắn. b. Kĩ năng kể chuyện - Kể từng đoạn hoặc kể lại toàn bộ câu chuyện sau khi đọc tác phẩm. - Kể lại câu chuyện theo lời của nhân vật. c. Cấu trúc dạng bài Tập đọc - Kể chuyện Tập đọc được học trong 31 tuần (không kể 4 tuần ôn tập), được phân bố vào từng tuần với các phân môn khác với 15 chủ điểm. Mối tuần có 2 tiết Tập đọc trong đó Tập đọc đầu tuần là dạng bài Tập đọc - Kể chuyện. 31 tuần là 31 câu chuyện giúp học sinh mở rộng tầm hiểu biết. Các dạng bài Kể chuyện thuộc phân môn Tập đọc có cấu trúc và yêu cầu khác nhau như sau: Cấu trúc dạng bài Tập đọc – Kể chuyện: 6
  5. - Câu chuyện có lời thoại: 22 bài. - Câu chuyện dạng tự sự: 9 bài. Yêu cầu của phần Kể chuyện: - Yêu cầu dựa vào tranh để kể: 17 bài. - Yêu cầu dựa vào câu gợi ý: 7 bài. - Các yêu cầu khác: 7 bài. 2. Biện pháp 2: Phân loại học sinh Để giúp cho việc dạy học theo đối tượng học sinh có hiệu quả, ngay từ đầu năm học, tôi đã điều tra và theo dõi việc đọc, kể chuyện của các em hàng ngày để ghi vào sổ theo dõi; ghi chi tiết về ưu, nhược điểm của mỗi em; để lên kế hoạch học theo nội dung, chương trình và thời điểm của năm học, đồng thời theo dõi sự tiến bộ từng ngày của các em, dù là rất nhỏ. Từ đó kịp thời động viên, khuyến khích các em và thay đổi kế hoạch dạy học sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Có như vậy mới có thể giúp các em phát huy được ưu điểm, khắc phục được những mặt còn hạn chế. Tôi đã sắp xếp chỗ cho các em học sinh đọc yếu ngồi cạnh các bạn đọc khá, đọc tốt để trở thành đôi bạn cùng tiến, giúp đỡ nhau trong việc đọc khi hoạt động cá nhân, nhóm hay cặp đôi. Đồng thời nêu tầm quan trọng, yêu cầu cơ bản về việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm giúp các em cảm thụ tác phẩm văn học, dựa vào đó mới có thể kể lại, truyền đạt lại một cách sinh động, lôi cuốn người nghe. 3. Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng dạy và học qua hoạt động làm mẫu của giáo viên Đối với đối tượng là học sinh tiểu học thì việc làm mẫu của giáo viên đóng một vai trò quan trọng. Chỉ chiếm 0,5 thời gian trong 1 tiết học nên việc giáo viên kể chuyện mẫu thường diễn ra không thường xuyên. Thay vào đó giáo viên sẽ gợi ý cho các em cách kể chuyện sao cho tự nhiên, giáo viên có thể hướng dẫn kể mẫu một đoạn nào quá khó kết hợp với lời hướng dẫn. Giáo viên đưa ra một số cách kể mẫu, khuyến khích học sinh dùng cử chỉ, điệu bộ sao cho sinh động và có thể làm mẫu cho các em, từ đó học sinh mới phát huy được khả năng sáng tạo của học sinh. 7
  6. 4.Biện pháp 4 : Chú trọng sự chuẩn bị của học sinh Học sinh ít đọc sách, không chịu đọc sách ở nhà. Nếu có đọc thì học sinh cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc một cách đại khái qua loa, đọc cho có học, lười tìm hiểu; học sinh đọc còn chậm, chưa biết cách ngắt nghỉ hơi khi đọc; chưa có sự chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp với tiết kể chuyện. Chính vì những tồn tại đó, trước khi kết thúc một tiết Tập đọc bao giờ tôi cũng dành một ít phút dặn dò học sinh chuẩn bị trước bài sau. Đọc nhiều lần ở nhà cho trôi chảy và chuẩn bị trước phần câu hỏi, tìm hiểu nội dung bài trong sách giáo khoa để nắm rõ nội dung bài. Từ đó dặn học sinh tập kể chuyện miệng trước ở nhà đối với tiết Tập đọc đầu tuần để khi lên lớp kể các em không bị lúng túng do thiếu tự tin trước đám đông hay vì chưa nắm được nội dung truyện. 5. Biện pháp 5: Rèn kĩ năng Tập đọc, Kể chuyện cho học sinh 5.1.Tập đọc a. Chuẩn bị đọc cho học sinh Tôi luôn chú ý đến tư thế đọc của học sinh. Khi ngồi đọc cần ngay ngắn, khoảng cách từ sách đến mắt khoảng 30- 35cm, cổ và đầu thẳng. Khi cô giáo gọi đọc phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay. Trước khi đọc câu đầu, đoạn đầu hay toàn bài phải đọc tên bài. Tư thế đứng đọc phải đoàng hoàng, thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay. b. Luyện phát âm đúng và sửa ngọng cho học sinh thông qua việc đọc thành tiếng Đầu năm tôi đã phân loại để nắm được trình độ của học sinh và chia các đối tượng như đã nói ở trên. Sau đó tôi phân nhóm, mỗi nhóm có các đối tượng: giỏi, khá, trung bình để các em tự hỗ trợ và có ý thức cùng nhau tiến bộ hơn. Chú ý đến những học sinh phát âm nặng do ảnh hưởng địa phương để từ đó có kế hoạch luyện đọc cho từng em. Tôi đặc biệt quan tâm đến những em học sinh yếu, là giáo viên chủ nhiệm lớp tôi đã thường xuyên liên lạc với gia đình để cùng hỗ trợ em trong việc luyện đọc ở nhà. Bên cạnh đó, tôi cũng quan tâm đến 8
  7. những đối tượng khác để phát huy được năng lực, sở trường của từng em trong lớp. Để luyện phát âm đúng, sửa được ngọng cho học sinh, trước hết và thực chất phải giải quyết vấn đề phương ngữ. Mục tiêu của chúng ta đặt ra là luyện cho học sinh vươn đến một tiếng nói dân tộc Việt Nam thống nhất, đẹp đẽ về mặt âm thanh. Muốn vậy, chúng ta phải luyện cho học sinh đọc đúng, hay trong phạm vi giao tiếp rộng hơn phương ngữ hẹp của mình. Khi hướng dẫn phát âm tôi phân tích cho các em thấy sự khác biệt của phát âm đúng và phát âm sai mà các em mắc phải. Giáo viên làm mẫu hoặc mô tả hệ thống môi, răng, lưỡi khi phát âm. Ví dụ: Khi dạy bài“Cô giáo tí hon” (Tiếng Việt 3, tập 1)có đoạn: “Mấy đứa nhỏ làm y hệt đám học trò, đứng cả dậy, khúc khích cười chào cô”. “Đàn em ríu rít đánh vần theo. Thằng Hiển ngọng líu, nói không kịp hai đứa lớn. Cái Anh hai má núng nính, ngồi gọn tròn như củ khoai, bao giờ cũng giành phần đọc xong trước”. Để học sinh đọc tốt các từ khúc khích, ríu rít, ngọng líu, núng nính giáo viên phát âm chuẩn là học sinh sẽ đọc đúng theo. Với nhiều em do quá ảnh hưởng bởi địa phương, dù phát âm nhiều lần nhưng vẫn bị sai: núng nính đọc sai thành lúng lính, ngọng líu đọc sai thành ngọng níu dù đã được nghe cô và các bạn đọc đúng. Vì vậy, tôi đã hướng dẫn các em cách phát âm l - n (lờ/nờ) bằng một số cách sau: - Hướng dẫn học sinh đặt lưỡi đúng vị trí khi phát âm: + Âm n: đầu lưỡi đặt ở chân răng hàm trên vòm cứng, lúc này miệng hơi mở, khi nói, lưỡi cứng và bật nhẹ đầu lưỡi xuống, phát âm “nờ”. + Âm l: đầu lưỡi đặt ở chân hàm răng trên, lúc này miêng hơi mở, khi nói uốn nhanh đầu lưỡi cong lên, bật mạnh và rơi tự do xuống, phát âm “lờ”. - Luyện phát âm bằng cách tìm những câu nói, bài thơ, cụm từ giúp dễ phân biệt l/n: + Nếu nói lầm lẫn lần này thì lại nói lại. 9
  8. + Nói năng nên luyện luôn luôn Nói lời lưu loát luyện luôn lúc này Lẽ nào nao núng lung lay Lên lớp lú lẫn lại hay nói lầm. Ngoài ra, giáo viên cần chú ý luyện đọc đúng cho các em các vần dễ nhẫm lẫn như: ưu, ươu, uyu, uya... trong các từ như lưu luyến, con hươu, đêm khuya, khuỷu tay ;các tiếng có âm đầu s - x, ch - tr, hay r - d - gi. Giáo viên vận dụng phương pháp luyện đọc theo mẫu, yêu cầu học sinh nghe và nhìn; giáo viên đọc mẫu thật chuẩn, học sinh chú ý nghe và nhìn miệng giáo viên để đọc theo, học sinh sẽ nhận diện và khắc sâu trí nhớ cách đọc sao cho đúng. Khi đọc tên riêng nước ngoài như: Ê-đi-xơn, Cô-rét-ti, En-ri-cô cần phải đọc tốc độ vừa phải, không nên đọc chậm hay ngắt rời rạc từng tiếng.Những phần luyện này tôi luôn kết hợp trong phần luyện đọc cá nhân. Vì vậy, dù đọc ở mức độ nào cũng phải yêu cầu phát âm đúng, tuy nhiên cũng không nên quá nhấn mạnh ở các phụ âm như: tr- ch, s - x, r – d- gi làm giọng đọc mất tự nhiên. c. Luyện cho học sinh đọc ngắt nghỉ đúng Ngoài việc rèn đọc đúng, chính xác, giáo viên cần hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ hợp lý để đọc đúng nội dung. Thực tế trong lớp vẫn còn có một số học sinh hiểu sai nghĩa nên ngắt sai. Đối với những bài văn xuôi, khi đọc phải nghỉ hơi theo dấu câu nhưng có em lại đọc luôn một mạch. Các em cứ đọc mãi đến khi nào hết hơi của mình rồi mới chịu nghỉ để lấy hơi đọc tiếp, hết hơi chỗ nào lại ngắt hơi đúng chỗ đó. Khiến cho người nghe thấy khó hiểu ý nghĩa của câu văn. Vì vậy, giáo viên có định hướng cho các em bằng các câu hỏi gợi mở: Việc ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm. Phải dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để xác định cách ngắt nhịp đúng các câu. Khi đọc ngắt nhịp đúng câu, giáo viên gọi một số em đọc đúng và cho cả lớp đánh dấu vào sách bằng kí hiệu cho dễ nhớ.Học sinh luyện đọc đoạn cần luyện đọc đúng. Lưu ý tới việc ngắt nghỉ theo dấu câu và ngắt với 10
  9. câu văn dài. Học sinh còn cần chú ý đến các bài tập đọc dạng bài thơ để ngắt nghỉ đúng dòng thơ, khổ thơ, thể thơ. Đối với bài thơ, tùy theo từng thể loại thơ mà tôi hướng dẫn học sinh cách đọc sao cho đúng nhịp câu thơ. Tuy vậy cũng phải dựa vào từng dòng cụ thể để ngắt cho đúng để ý nghĩa câu thơ, đoạn thơ được bộc lộ đúng. Ví dụ: Bài “Về quê ngoại” (Tiếng Việt 3, tập 1) “Em về quê ngoại/ nghỉ hè,/ Găp đầm sen nở/ mà mê hương trời.// Gặp bà/ tuổi đã tám mươi,/ Quên quên/ nhớ nhớ những lời ngày xưa”.// d. Luyện đọc diễn cảm cho học sinh Đọc diễn cảm ở đây được hiểu là đọc hay, được xem là một yêu cầu đặt ra khi đọc một văn bản, một tác phẩm. Ở Tiểu học không yêu cầu học sinh có phong cách đọc riêng mà yêu cầu học sinh có ý thức đọc đúng ngữ điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả đã gửi gắm vào trong tác phẩm, đồng thời biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm. Giáo viên có thể đọc mẫu sau đó dùng câu hỏi gợi mở cho học sinh để thôi thúc khả năng tư duy, tự tìm ra cách đọc của các em. Tôi chỉ là người lắng nghe và sửa cách đọc cho từng em học sinh. Tôi luôn khuyến khích các em cố gắng đọc diễn cảm. Ví dụ: Sau mỗi bài tập đọc tôi thường hướng dẫn các em đọc diễn cảm cả bài hoặc một đoạn. Hướng dẫn học sinh đọc phù hợp với nội dung của đoạn. Tổ chức các thi đọc diễn cảm, đọc phân vai (đối với tác phẩm có nhiều lời thoại). Chính vì vậy mà giờ Tập đọc lớp tôi, các em rất thích và hào hứng khi tham gia đọc diễn cảm. Dưới đây tôi xin đi vào chi tiết một số phương diện liên quan đến đọc diễn cảm, nghiên cứu sâu để giúp các em đọc tốt hơn: Cao độ: Khi nói đến việc sử dụng cao độ để đọc diễn cảm là muốn nói đến những chỗ lên giọng, xuống giọng có dụng ý nghệ thuật. Phần tập đọc trong 11
  10. sách giáo khoa có rất nhiều văn bản truyện, ở đó luôn có sự xen kẽ lời nhân vật và lời của người dẫn chuyện. Khi đọc những lời dẫn chuyện cần đọc với giọng nhỏ hơn, thấp hơn với lời nói trực tiếp của nhân vật. Tôi nói với học sinh: đó là sự chuyển giọng mà những lời dẫn như nền thấp để cho những lời hội thoại nổi lên. Ngữ điệu: Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao hay hạ thấp giọng đọc, nhấn giọng. Ví dụ: (1) Bài “Cậu bé thông minh” (Tiếng Việt 3, tập 1) Bài văn được viết theo thể kể chuyện – kể về một cậu bé thông minh, tài giỏi, nhanh trí. Tình tiết câu chuyện hấp dẫn, sinh động. Khi đọc, phải thể hiện rõ giọng của từng nhân vật, học sinh cần làm rõ các chi tiết đó bằng cách nhấn giọng vừa phải ở các từ ngữ như:“ầm ĩ”, “tìm được”, “trọng thưởng” Đặc biệt các câu đối thoại giữa Đức Vua và cậu bé ngữ điệu đọc phải toát lên vẻ ngộ nghĩnh, ngây thơ nhưng thể hiện sự thông minh của cậu bé với những câu trả lời hồn nhiên. Tôi hỏi học sinh: “Để thể hiện đúng câu trả lời rất hồn nhiên, vô tư của cậu bé, con cần đọc với giọng như thế nào?”. “Muôn tâu Đức Vua – cậu bé đáp – bố con mới đẻ em bé, bắt con phải đi xin sữa cho em. Con không xin được, liền bị đuổi đi”. Với lời của Đức Vua khi quát cậu bé: “- Thằng bé này láo, dám đùa với trẫm! Bố ngươi là đàn ông/ thì đẻ sao được!” Khi đọc câu này tôi dặn học sinh cần lên cao giọng ở cuối câu cảm, phải nhấn giọng ở một số từ như “láo, đùa, đàn ông, đẻ sao được” để thể hiện đúng sắc thái nhân vật là đang quát cậu bé. Tôi cũng nhắc học sinh lưu ý sự khác nhau khi đọc hai câu cảm ở trên. Câu cảm thứ nhất (Thằng bé này láo, dám đùa với trẫm!) thể hiện sự hách dịch của nhà vua. Câu cảm thứ hai (Bố ngươi là đàn ông/ thì đẻ sao được!) gần như là một câu hỏi nên phải lên giọng ở tiếng “được”. Đối với những bài văn xuôi, khi đọc, ngoài việc tìm những dấu câu đặc biệt như dấu chấm hỏi, dấu chấm than để hướng dẫn học sinh; giáo viên cần phải 12
  11. chú ý nhắc học sinh ngắt hơi ở dấu hai chấm, dấu chấm phẩy. Đặc biệt phải biết ngắt hơi ở những chỗ không có dấu câu là những chỗ tách ý. Về tốc độ đọc: Tốc độ đọc chi phối sự diễn cảm, có ảnh hưởng đến việc thế hiện nghĩa, cảm xúc. Ví dụ: - Cảm xúc phấn khởi tự hào cũng cần thể hiện với tốc độ không quá chậm. Những bài văn xuôi trữ tình, chứa chan cảm xúc như bài “Nhớ lại buổi đầu đi học”(Tiếng Việt 3, tập 1) cần phải được đọc chậm, nhất là những câu “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. Cường độ: Trước khi nói đến sử dụng cường độ trong đọc diễn cảm phải nói đến chuyện dạy đọc to. Khi đọc trước nhiều người, học sinh phải tính đến người nghe. Các em phải hiểu rằng không chỉ đọc cho mình nghe mà phải đọc cho các bạn và cô giáo cùng nghe. Như vậy, phải đọc sao cho cả tập thể nghe rõ. Nghĩa là phải đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy. Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên như cách đọc để gây sự chú ý của một số học sinh. Vì vậy tôi nhắc các em khi đọc, phải mở miệng to và tròn tiếng, lấy hơi đọc sao cho luồng khí phát ra từ cổ họng phải dễ dàng, thoải mái, mạnh vừa phải, đủ để cả lớp nghe rõ. Cường độ với hợp với cao độ sẽ tạo ra giọng vang hoặc giọng trầm lắng. Ngoài ra, tôi cho học sinh hiểu rằng “đọc diễn cảm” không phải là đọc sao cho “điệu”, thiếu tự nhiên dựa vào ý thức chủ quan của mỗi người đọc. Đọc diễn cảm là sử dụng ngữ điệu để phô diễn cảm xúc của bài đọc. Vì vậy phải hòa nhập được với câu chuyện, bài văn, bài thơ, phải có cảm xúc mới tìm thấy ngữ điệu thích hợp. Chính tác phẩm quy định ngữ điệu cho chúng ta chứ không phải chúng ta tự đặt ra ngữ điệu. Bởi lẽ đó, tôi luôn dung câu hỏi gợi ý hoặc nhắc các em đặt mình vào câu chuyện, hóa thân vào nhân vật, vào tác giả, đặt mình vào trong ngữ cảnh của bài đọc. Từ đó lấy cảm xúc đúng nhất để thế hiện tốt bài đọc. Bên cạnh đó, trong tiết dạy Tập đọc tôi luôn tạo một bầu không khí thoải mái để các em không cảm thấy nhàm chán khi đọc mà trái lại hứng thú, ham 13